Tâm Trí Tội Phạm
Tâm Trí Tội Phạm - Chương 10
TRA TẤN | CÁ VOI TRẮNG
Đó là năm 1960 tại Cambridge, Massachusetts. Có hai thanh niên đang ngồi trong một phòng thí nghiệm được chiếu sáng bằng thứ ánh sáng gắt và được các nhà nghiên cứu theo dõi. Một người đang nở nụ cười tinh quái; người còn lại đang vặn vẹo, mỗi phút càng thêm kích động. Họ là bạn cùng lớp tại Harvard và đang tham gia vào một cuộc tranh luận về triết lý của bản thân trong cuộc sống. Hai thanh niên này thường đưa ra những quan điểm rất mạnh mẽ, và trong đó người dễ bị kích động – người mà các nhà nghiên cứu gọi là “Lawful” – vô cùng căng thẳng.
Khi mọi thứ bị đẩy lên cao trào, âm lượng giọng nói cũng tăng. Trái tim Lawful bắt đầu loạn nhịp và anh ta nheo mắt dưới ánh đèn chói gắt. Khi đăng ký tham gia nghiên cứu, anh ta được thông báo rằng họ chỉ trao đổi quan điểm, nhưng bạn cùng lớp của Lawful vẫn tiếp tục lăng mạ chế giễu các luận điểm của anh ta thay vì đưa ra phê bình hợp lý. Hôm nay, người bạn cùng lớp đã tiến xa hơn bao giờ hết. Người này nhìn Lawful từ trên xuống dưới và chế nhạo: À này, bộ râu của cậu trông ngớ ngẩn thật sự đấy.
Lawful chớp mắt, choáng váng. Tranh luận không phải thế này. Bạn đưa ra luận điểm chứ không phải bình phẩm bản thân đối phương. Anh ta đỏ bừng mặt, giọng gầm gừ, và nghiêng người về phía trước trong khi đầu như bốc hỏa. Anh ta đã tham gia những “cuộc tranh luận” kiểu này nhiều tháng nay và máy theo dõi nhịp tim đeo trước ngực anh ta chưa bao giờ tăng đột biến như thế.
Lawful sẽ còn tức giận hơn nếu biết sự thật: rằng người đối thoại với mình hoàn toàn không phải là một sinh viên Harvard. Anh ta là một luật sư trẻ giỏi giang, người được huấn luyện để đối đầu với những kẻ bẩn thỉu và thực hiện các lập luận công kích cá nhân. Lawful là một trong 22 sinh viên Harvard bị hành hạ tuần này qua tuần khác như một phần của nghiên cứu tâm lý. Nhưng không ai trong số những người này thể hiện phản ứng dữ dội như vậy. Có lẽ đó là lý do tại sao vị luật sư kia lại thích chọc tức anh ta.
Trong khi đó, nhà khoa học nghiên cứu Lawful theo dõi cuộc tranh luận thông qua một tấm gương hai chiều. Lawful tập trung tranh luận, nhưng anh ta có thể thường xuyên nhìn thấy những chuyển động không rõ sau tấm gương loang loáng như khi ta nhìn xuống nước. Henry Murray, một nhà tâm lý học Harvard đang khoanh tay đứng đó, người có công trình nghiên cứu về thẩm vấn đã thu hút cả sự quan tâm của CIA.
Một nhà quan sát từng mô tả Murray là “người nhanh nhẹn, hóm hỉnh và chu đáo” nhưng cũng “quyến rũ đến mức đáng ngờ”. Ông ta là người nghĩ ra bối cảnh này – đèn thám báo nổi, gương, máy theo dõi nhịp tim. Trong một bài báo đề cập đến nghiên cứu, Murray thừa nhận rằng những lời lẽ tấn công của vị luật sư mang tính “công kích và lạm dụng cá nhân”, nhưng trên thực tế đó chính xác là những gì ông ta muốn. Ông ta muốn thấy Lawful sụp đổ. Murray cũng ghi lại từng tương tác bằng máy quay. Ông ta làm vậy một phần để nghiên cứu sinh viên với các dấu hiệu của Sự thất vọng – những cái nhíu mày và sự nhăn nhỏ của họ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông ta cũng bắt sinh viên xem những thước phim này để họ có thể nhìn thấy sự tức giận và bất lực của bản thân qua máy quay. Đó là một cách khiến những người tham gia thêm bị sỉ nhục sau mỗi phiên tranh luận.
Và không ai có thể nhục nhã hơn Lawful. Không thể phủ nhận anh ta rất xuất sắc (IQ là 167), nhưng các bài kiểm tra cho thấy anh ta là sinh viên bị xa lánh nhất trong nghiên cứu. Thật vậy, Murray đặc biệt quan tâm đến anh ta vì lý do đó, và đã tự đặt biệt danh cho anh ta là Lawful để chế giễu mức độ cứng nhắc của anh ta. Tên thật của anh ta là Theodore Kaczynski. Thế giới sau này biết đến anh ta với cái tên Unabomber (Kẻ đánh bom thư). Murray và Kaczynski đến từ hai thế giới hoàn toàn khác nhau, một thuộc tầng lớp lao động, một có dòng dõi quý tộc.
Murray có dòng dõi quý tộc. Ông ta sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà bằng đá nâu sang trọng ở Manhattan, nơi Rockefeller Plaza hiện đang tọa lạc. Khi trưởng thành, ông ta tự hào khi nhắc đến tổ tiên trong bản lý lịch của mình – Bá tước Dunmore, thống đốc đầu tiên của thuộc địa New York.
Đương nhiên, Murray theo học Harvard và làm đội trưởng đội chèo thuyền tại đây. Tuy nhiên, dù trở thành một trong những nhà tâm lý học lỗi lạc nhất thuộc thế hệ của mình, đây không phải là lĩnh vực đầu tiên khiến ông ta tỏa sáng. Ông ta theo học chuyên ngành lịch sử tại Harvard và chỉ đăng ký một khóa học tâm lý học trước khi chán nản và từ bỏ. (Ông ta nói đùa rằng sẽ không bao giờ đặt chân vào một lớp học tâm lý học nào nữa, cho đến khi phải giảng dạy tại một lớp.) Sau đó, ông ta lấy bằng y khoa tại Đại học Columbia nhưng từ bỏ kế hoạch tham gia ngành phẫu thuật do không khéo léo. (Một cuộc phẫu thuật không thành công hồi nhỏ đã khiến một bên mắt của ông ta bị lệch và cản trở sự phối hợp giữa tay và mắt của ông ta.) Cuối cùng, ông ta theo đuổi tấm bằng Tiến sĩ ngành hóa sinh tại Đại học Cambridge nhưng hầu như không có hoạt động gì nổi bật. Như một nhà phê bình đã nhận xét, “Không có gì nổi bật trên con đường học hành của Murray... kể cả ở trường y sau này để cho thấy ông ta chẳng phù hợp với bất cứ điều gì ngoại trừ cuộc sống của một người yêu nước giao thiệp rộng.”
Cuối cùng, ông ta tìm thấy tiếng gọi của mình vào năm 1923 ở tuổi 30, khi tình cờ bắt gặp một cuốn sách của nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Jung tại một hiệu sách cũ ở New York. Ông ta đọc nó ngay tại lối đi thư viện, và như có một dòng điện xẹt qua người, ông ta xếp lại hết mọi việc và dành trọn hai ngày tiếp theo để đọc hết cuốn sách. Ông ấy đã sớm lên kế hoạch đến thăm Jung ở Thụy Sĩ để theo học ngành tâm lý.
Thành thật mà nói, Murray cũng tìm đến Jung vì một số lý do ích kỷ. Vợ của Murray, Josephine là kho báu cảm xúc, là sự hiện diện vững chắc trong cuộc đời ông ta. Thật không may, ông ta không hứng thú với bà, đặc biệt là về đời sống tình dục. Người phụ nữ mang lại khoái cảm cho ông là một nhân tình, nghệ sĩ Christiana Morgan, dù – hoặc có lẽ vì – Morgan rất quyến rũ và không muốn gắn bó lâu dài. Murray say đắm cô ta nhưng không muốn bỏ rơi Josephine, vì thế ông ta cứ luẩn quẩn trong mối quan hệ này mà không biết phải làm gì. Vì vậy, ông ta tìm đến Jung để xin ý kiến về vấn đề này. Thật trùng hợp, Jung cũng có vợ và có cả nhân tình, và khi lắng nghe Murray tâm sự, Jung đã ngắt lời và cho rằng Murray không cần phải lựa chọn. Ông ta có thể làm như Jung và giữ cả hai người phụ nữ ở bên. Suy cho cùng, họ đều là những người đàn ông năng động, sáng tạo. Làm sao họ có thể mong đợi việc sống chỉ với một người phụ nữ cơ chứ?
Đương nhiên, điều này đã khiến vợ của Murray tức giận (bà nghĩ Jung là một “kẻ đê tiện”, như một nhà sử học đã ghi chép lại), nhưng Murray gạt mối bận tâm của mình sang một bên và chấp nhận lời khuyên của Jung. Giống như nhiều người bị thu hút bởi tâm lý học, lĩnh vực này thu hút ông ta một phần vì ông ta có những góc khuất (ngoài cuộc sống tình cảm lộn xộn, ông ta là một người nghiện amphetamine lâu năm), và ông ta vô cùng ấn tượng với cách Jung đã giải quyết tình huống khó xử của bản thân. Tâm lý học dường như là thứ cao quý đối với ông ta, một cách để giúp mọi người giải quyết những vấn đề khó khăn nhất của họ, và kể từ thời điểm đó, Murray dành cả cuộc đời của mình để phân tích cơ chế hoạt động của tâm trí con người.
Trong vài thập kỷ tiếp theo, Murray đã tiên phong trong cách tiếp cận mới đối với tâm lý học. Tâm lý học lúc đó chia thành hai phe đối lập. Một bên bao gồm các nhà phân tích tâm lý như Jung, người đã khám phá vùng nước rộng lớn, âm u của tiềm thức. Nhưng nhiều nhà khoa học, không phải vô cớ, chỉ trích các nhà phân tâm học vì thiếu chặt chẽ. Trong khi đó, phe đối lập tập trung vào sự nghiêm khắc, gần như quá mức cần thiết. Các nhà tâm lý học này sẽ nghiên cứu mảnh nhỏ nào đó trong hệ thống cảm giác hoặc thần kinh ở động vật, sử dụng các tác nhân kích thích khác nhau và đo phản ứng của con vật bằng đồng hồ bấm giờ và các dụng cụ điện. Họ chỉ tập trung vào các phản xạ và những con chuột chạy qua mê cung – bất cứ thứ gì ngoại trừ dữ liệu cứng đều bị coi là ủy mị.
Nhà tâm lý học Harvard Henry Murray, người đã tiến hành một thí nghiệm tâm lý lạm dụng trên một số sinh viên, bao gồm Theodore Kaczynski – Unabomber tương lai. (Được sự cho phép của Cơ quan Lưu trữ Đại học Harvard.)
Murray đánh giá cao nền khoa học theo hướng dữ liệu – dù sao thì ông ta cũng có xuất phát điểm từ ngành hóa sinh – nhưng ông ta cũng khao khát một thứ gì đó phong phú hơn. Ông ta bị thu hút bởi chủ đề tính cách cá nhân và muốn nghiên cứu con người như cách làm của các tiểu thuyết gia, với tất cả những chi tiết lộn xộn, rối rắm trong cuộc đời của họ. Trên thực tế, cuối cùng ông ta đã từ bỏ hình mẫu Jung và quay sang Herman Melville, người mà Murray coi là người khai phá thực sự của tiềm thức. (Dù rõ ràng, khi đọc cuốn sách Moby-Dick, Murray không đồng cảm với Ishmael hay Queequeg, dành tình cảm cho nhân vật Thuyền trưởng ảo tưởng sức mạnh Ahab.) Cuối cùng, Murray cũng thỏa hiệp, lựa chọn một cách tiếp cận mới, dựa trên dữ liệu để nghiên cứu các tính cách.
Tất nhiên, sự trung dung này của ông ta không làm hài lòng ai, nhưng sự giàu có của Murray bảo vệ ông ta khỏi hậu quả của việc trở thành một kẻ phá hủy biểu tượng. Dù phản đối cả hai luồng tâm lý học lớn nhất, nhưng ông ta đã sử dụng các mối quan hệ xã hội của mình để giành được một quyết định bổ nhiệm tại Harvard. Các đồng nghiệp phẫn nộ phản đối nhiệm kỳ của ông ta, nhưng thay vì tống cổ ông ta, trường đại học đã đưa Murray đến lãnh địa riêng của ông ta, Phòng khám Tâm lý Harvard. Trên cánh cửa phòng khám, ông ta cho vẽ một con cá voi trắng. Bất cứ khi nào phòng khám thiếu hụt ngân sách, Murray sẽ rút sổ séc ra và tự trang trải chi phí.
Trong Thế chiến II, Murray cũng sử dụng các mối quan hệ xã hội của mình để giành được những nhiệm vụ đặc biệt từ Văn phòng Công tác Chiến lược (OSS), tiền thân của CIA. Một số việc làm trong cơ quan này có vẻ không phù hợp, được cho là kinh khủng so với các tiêu chuẩn ngày nay. Một dự án liên quan đến việc tổng hợp hồ sơ tâm lý của Adolf Hitler để dự đoán hành vi của ông ta trong chiến tranh và đề xuất những cách gây ảnh hưởng đến ông ta. Murray mô tả Hitler là sự pha trộn giữa “nghệ sĩ và xã hội đen” và “một sự kết hợp giữa Lord Byron và Al Capone chẳng hạn”. Ông ta thậm chí còn suy đoán về những cuộc phiêu lưu khiêu dâm của Hitler: “Nghe đồn, trong chuyện chăn gối, Hitler đòi hỏi đối phương phải có một màn thể hiện đặc biệt, tuyệt mật như bí mật quốc gia”. Tuy nhiên, đánh giá này không có cơ sở thực tế.
Những công việc khác cho OSS của ông tỏ ra đáng giá hơn. Để giúp cơ quan quản lý một lượng lớn ứng viên, Murray đã giúp đưa ra các bài kiểm tra để phân loại họ thành các nhóm khác nhau và xác định công việc phù hợp với họ. Nếu từng làm bài kiểm tra tính cách, bạn sẽ hiểu công việc này. Murray cũng giúp thiết lập một hệ thống để thăm dò xem ứng viên có thể chịu được mức áp lực nào, khả năng đọc vị điểm yếu của người khác và kiên định trước các cuộc thẩm vấn. Nói cách khác, ông ta nghĩ ra một hệ thống xác định những điệp viên giỏi.
Hơn tất thảy những công việc khác mà ông ta đã làm trong chiến tranh, công việc điệp viên này đã thu hút Murray – đặc biệt là tương tác giữa những người thẩm vấn và những kẻ bị bắt giữ có vẻ rất kịch tính. Vì vậy, khi chiến tranh kết thúc, ông ta quyết định nghiên cứu các cuộc thẩm vấn một cách có hệ thống tại Harvard. Điều đó xảy ra khi cơ quan kế nhiệm của OSS, CIA có chung lý tưởng với ông ta và coi công việc này như một cách để đạt được lợi thế trong Chiến tranh Lạnh.
Chiến tranh gần như nổ ra ở châu Âu liên quan đến vấn đề Berlin, và đã nổ ra ở châu Á vì tranh chấp lãnh thổ tại Triều Tiên. Mối đe dọa của vũ khí nguyên tử sau đó đã đẩy căng thẳng lên một mức cao hơn. Tuy nhiên, bom nguyên tử chỉ là mối đe dọa từ bên ngoài, điều đáng sợ hơn nữa đối với nhiều người Mỹ là tâm trí của họ bị xâm chiếm. Hàng nghìn tù binh ở Nam Triều Tiên đã ký vào các bản tuyên bố, trong đó họ “thú nhận” những tội ác mà họ chưa từng phạm phải, chẳng hạn như sử dụng chiến tranh vi trùng chống lại quân địch. Các nhà phân tích CIA đã xem xét bằng chứng này và có một bước nhảy vọt lớn nhưng dễ hiểu. Họ kết luận những người thẩm vấn có một siêu vũ khí tâm lý cho phép họ tấn công tâm trí của đối phương, khiến đối phương quy phục nhằm hiện thực hóa kế hoạch theo ý mình.
Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng nếu muốn có thông tin tình báo đáng tin cậy thì có nhiều cách khai thác tốt hơn ngoài hành vi tra tấn[*]. Bạn có thể thăm dò trí não của ai đó.
Đôi khi những người thẩm vấn sử dụng các kỹ thuật tra tấn “nhẹ nhàng” như biệt giam và cấm ngủ. Khi điều đó không hiệu quả, họ đánh đập người bị giam cầm, tiêm hóa chất để gây co giật hoặc quấn người bị thẩm vấn trong những tấm bạt ướt từ từ co lại khi khô. Chắc chắn, những phương pháp này không thể giúp thu thập thông tin tình báo, dựa trên những gì chúng ta biết về khoa học và tâm lý học tra tấn. Tất nhiên, chưa bao giờ có một nghiên cứu khoa học thực sự về tính hiệu quả của việc tra tấn. Một nghiên cứu như vậy sẽ yêu cầu chia một nhóm tình nguyện viên thành hai nhóm, một trong số đó bị tra tấn để tiết lộ bí mật thầm kín nhất của họ và một trong số đó bị thẩm vấn bằng các biện pháp nhân đạo, sau đó so sánh kết quả. Ngay cả khi so sánh với các trường hợp khác trong cuốn sách này, một nghiên cứu như thế sẽ là phi đạo đức đến mức điên rồ, và nếu không có nghiên cứu chặt chẽ, chúng ta không thể đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào về hiệu quả của tra tấn. Tuy nhiên, khoa học tốt nhất hiện vẫn nghi ngờ về độ tin cậy của nó. Căng thẳng nhẹ cũng ảnh hưởng đến khả năng nhớ lại thông tin của chúng ta, và không gì gây căng thẳng hơn là tra tấn. Ngoài ra, các nghiên cứu đã nhiều lần chỉ ra rằng những người bị cưỡng bức sẽ thú nhận mọi điều lố bịch chỉ đơn giản là để không phải tiếp tục hứng chịu sự tra tấn thêm nữa. Tuy nhiên, nhìn từ bên ngoài, những lời thú nhận giả luôn hiện hữu.
Trong dự án MK-ULTRA, bất kỳ phương pháp thăm dò tâm trí nào đều được coi là trò chơi công bằng. Các nhà phân tích của CIA đã hợp tác với các thầy bói và các nhà huyền học để nghiên cứu thuật thôi miên, thần giao cách cảm, khả năng thấu thị và các tà thuật khác, tất cả những thứ được coi là có khả năng xảy ra mà một trong đó số đó không hề vớ vẩn. Hiện này, MK-ULTRA được biết đến nhiều nhất với việc triển khai chất gây ảo giác LSD một cách liều lĩnh, phương pháp được các đặc vụ hy vọng sẽ chứng minh được sự hữu ích như một loại huyết thanh nói ra sự thật. (Quân đội đã thực hiện nghiên cứu tương tự với loại thuốc PCP và mescaline.) Công bằng mà nói, các đặc vụ ít nhất đã tự biến mình thành “chuột bạch” trước tiên. Họ sẽ pha thuốc vào rượu hoặc thuốc lá của đồng nghiệp trong các bữa tiệc, sau đó đi theo những người này quanh thị trấn, chứng kiến họ hét lên điên cuồng, tin rằng “quái vật” (thực sự là những chiếc xe ô tô đang chạy qua) đang cố ăn tươi nuốt sống họ. Nhưng quá trình thí điểm này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn trước khi các đặc vụ bắt đầu sử dụng chất này cho người lạ. Đôi khi họ sử dụng các que trang trí cốc nước có tẩm thuốc; những lần khác, họ gẩy chất hướng thần vào đồ uống trong quán bar và nhà thổ. (Một đặc vụ đặc biệt đáng sợ đã điều hành một khu nhà thổ ở San Francisco, nơi ông ta quan sát cảnh quan hệ tình dục của những người sử dụng LSD từ phía sau một chiếc gương hai chiều – và làm vậy khi đang ngồi trong nhà vệ sinh với một bình rượu martini trên tay.)
MK-ULTRA cuối cùng đã bị dừng hoạt động vì không đạt được kết quả nào, và sau này một giám đốc CIA đã ra lệnh tiêu hủy tất cả các tài liệu liên quan đến tổ chức này. Vì thế, toàn bộ chương trình vẫn là một bí ẩn. Nhưng ít nhất 185 nhà khoa học tại 86 cơ sở đã tham gia, và CIA tích cực tuyển dụng các nhà tâm lý học có tiêu chuẩn đạo đức thấp. Hồ sơ nhân sự của một người cho thấy, “đạo đức của ông ta thấp đến mức ông ta sẽ hoàn toàn hợp tác.”
Phần lớn nghiên cứu mà CIA tài trợ tập trung vào sự căng thẳng – cả nguyên nhân gây ra căng thẳng và các chiến lược mà mọi người sử dụng để đối phó với nó. Nếu được thực hiện độc lập, công việc này rất đáng giá: nó giúp mọi người đối phó với căng thẳng và lo lắng trong cuộc sống. Nhưng CIA đã sử dụng những kết quả này và bóp méo chúng. Một khi hiểu được nguyên nhân gây ra căng thẳng, các nhà phân tích tận dụng điều đó để khiến các tù nhân trở nên căng thẳng nhằm mục đích khai thác bí mật từ họ. Tương tự, nếu biết cách mọi người đối phó với căng thẳng, các nhà phân tích sẽ tìm cách làm suy yếu các cơ chế đối phó đó, đồng thời gia tăng áp lực hơn nữa. Khi làm vậy, chiến lược này mang tinh thần trục lợi tàn ác: các nhà tâm lý học hàn lâm thực hiện công việc, còn CIA thu được lợi ích.
Tại thời điểm này, lợi ích của CIA và lợi ích của Henry Murray đã gặp nhau. Tuy nhiên, dù các nhà sử học và các nhà lý thuyết âm mưu đưa ra nhiều phỏng đoán, song không có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy Murray từng tham gia MK-ULTRA hoặc bất kỳ chương trình CIA nào khác. Điều đó nói lên rằng, rất nhiều hồ sơ đã bị phá hủy và hoạt động này luôn được duy trì trạng thái tối mật ngay từ đầu. Murray chắc chắn có chung mối quan tâm với CIA về các cuộc thẩm vấn. Ông ta làm việc cho lãnh đạo tiền nhiệm của cơ quan này về chủ đề đó, và nhà tâm lý học phản văn hóa Timothy Leary – một đồng nghiệp của Murray tại Harvard – từng nói rõ ràng rằng Murray đã chỉ đạo các thí nghiệm quân sự về việc tẩy não cho OSS. Vì vậy, ngay cả khi Murray không bao giờ nhận một xu nào từ CIA, ông ta vẫn là một phần của tổ chức và có chung tinh thần với tổ chức này.
Trên thực tế, mối quan tâm của Murray đối với hoạt động thẩm vấn được cho là còn đen tối và độc ác hơn CIA. Dù còn nhiều sai lầm, song các nhà phân tích của CIA tin rằng họ có thể thu thập thông tin tình báo hiệu quả thông qua tra tấn và sử dụng thông tin đó để cứu thế giới. Murray chắc chắn rất vui khi được là một phần của nghiên cứu đó, nhưng ông ta chỉ muốn thực hiện những hành vi tàn bạo với mọi người và xem chuyện quái quỷ gì có thể xảy ra. Cụ thể, ông ta đưa ra giả thuyết rằng, bằng cách tấn công các giá trị cốt lõi của con người và chứng minh những giá trị đó là vô nghĩa, ông ta có thể làm mất phương hướng và khiến họ suy sụp – vì thế dễ bị thao túng tâm lý. Cuối cùng, Murray đã bắt đầu thực hiện một nghiên cứu vào mùa thu năm 1959 về lạm dụng tâm lý mà ông ta gọi là “những người đàn ông bậc đại học tài năng”, những người đàn ông như Ted Kaczynski.
Nếu chính phủ Mỹ lạm dụng khoa học tâm lý trong Chiến tranh Lạnh thì cũng phải lưu ý Liên Xô cũng vậy, dù theo những cách khác nhau. Thay vì theo đuổi mục tiêu tẩy não (mà họ biết là sai lầm), Liên Xô sử dụng tâm lý học để làm mất uy tín của các nhà hoạt động chính trị và nhốt họ mà không cần xét xử.
Hệ thống này đã hoạt động như vậy. Bất cứ KGB bắt giữ một nhà bất đồng chính kiến – một người không chịu im lặng về quyền công dân, tự do tôn giáo, hoặc lạm dụng quyền lực – các đặc vụ sẽ tống người đó vào trại tâm thần. Một số tổ chức như vậy có sự tham gia của các thành viên KGB trong ban giám đốc, và các bác sĩ tâm thần với vai trò là nhân viên sẽ nghiêm khắc kết luận những người bất đồng chính kiến là mất trí và nhốt họ lại. Một chẩn đoán phổ biến nhất là “tâm thần phân liệt chậm chạp”, một dạng tâm thần phân liệt “huyền thoại”, diễn biến chậm mà các triệu chứng của nó bao gồm “ảo tưởng cải cách”, “đấu tranh cho sự thật”, “kiên trì” và kỳ lạ là có sở thích về nghệ thuật siêu thực và trừu tượng. Theo quan điểm của KGB, tuyên bố những người bất đồng chính kiến là kẻ điên có một số lợi thế. Các nhà chức trách có thể bỏ qua một phiên tòa, nơi những bí mật bẩn thỉu có thể bị bại lộ. Cái mác bệnh tật này cũng bôi nhọ những người bất đồng chính kiến, và bêu xấu những người theo dõi họ là những kẻ điên rồ không kém. Giữa những năm 1950 và 1980, hàng nghìn người đã biến mất trong các trại Gulag tâm thần của Liên Xô, nơi họ thường bị đánh thuốc mê để duy trì sự “ngoan ngoãn”.
Chắc chắn một số bác sĩ tâm thần người Nga đã đẩy mọi người vào nhà thương điên vì lòng thương xót: bệnh nhân của họ có thể đã bị hành quyết nếu không bị tuyên bố là bị điên. Nhưng hầu hết các bác sĩ tâm thần đều nhiệt tình ủng hộ KGB.
Tuy nhiên, hành vi lạm dụng tâm lý học của chính phủ Mỹ lại hoàn toàn mang tính logic. Đặc biệt, các thí nghiệm với LSD và các “huyết thanh sự thật” khác không được xem xét kỹ càng và thiếu tính nhất quán. Liều lượng dao động từ mức cực nhỏ đến mức gấp hơn 10 lần so với liều lượng thông thường, và có rất nhiều bí mật xung quanh các hợp chất mà ngay cả các bác sĩ liên quan thường cũng không biết họ đang tiêm cho người bệnh thứ gì. (Như một người đã nói, “Chúng tôi không biết đó là nước tiểu của chó hay là gì.”) Và thiệt hại về con người là có thật. Một cảnh sát trưởng người Mỹ bị tiêm thuốc đã cướp một quán bar bằng súng khi đang ở trạng thái phê thuốc. Các thí nghiệm khác đã gây chết người hoặc khiến họ tự sát.
Nghiên cứu của Harvard về các phương pháp thẩm vấn tàn bạo đã phản bội sự dửng dưng tương tự đối với phúc lợi của con người. Chắc chắn không có chuyện Henry Murray chủ động lập mưu hãm hại Ted Kaczynski hoặc những chàng trai trẻ có tài năng khác. Đồng thời, Murray dường như không bận tâm nhiều nếu ông ta làm vậy.
Là một cậu bé lớn lên ở Chicago, Ted Kaczynski là sự pha trộn kỳ lạ giữa quá nhạy cảm và quả lý trí. Vào một mùa hè nọ, cha của Kaczynski đã nhốt một con thỏ con trong sân sau nhà họ trong một chiếc lồng gỗ. Con thỏ vô hại, nhưng khi em trai của Kaczynski và những cậu bé khác tụ tập xung quanh vì tò mò, nó tự nhiên bắt đầu run rẩy. Đây là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Ted. Ngay khi chứng kiến cảnh đó, Ted bắt đầu hét lên rằng hãy thả con thỏ ra — thả chú thỏ ra! Ted sẽ không ngừng la hét cho đến khi người bố làm theo.
Đồng thời, Kaczynski có thể logic đến mức tàn nhẫn. Một ngày nọ, David, em trai của anh ta đang lật một số thẻ bóng chày trên sân cỏ với một người bạn, khi người bạn đó hỏi cầu thủ yêu thích của David là ai, David cảm thấy quá xấu hổ nếu thừa nhận mình không biết gì về bóng chày, vì vậy cậu bé đã nhìn xuống những tấm thẻ và thốt ra cái tên đầu tiên mình nhìn thấy. Cậu cảm thấy nhẹ nhõm khi người bạn kia cũng thích cầu thủ đó. Nhưng khi David trở về nhà và nói với Ted cầu thủ yêu thích mới của mình, Ted bắt đầu đặt ra một loạt câu hỏi. Em bắt đầu thích cầu thủ đó từ khi nào? Tại sao em lại thích cầu thủ đó đến vậy? David câm nín không thể nói được gì. “Tôi lẽ ra phải biết Teddy sẽ đặt ra một loạt câu hỏi”, sau đó anh ta thở dài, “mọi ý kiến... nên dựa trên lý do chính đáng.” Một lần khác, David nói với Ted, “chẳng phải chúng ta may mắn có được cha mẹ tốt nhất trên thế giới sao?” Kaczynski phản pháo lại, “Em không thể chứng minh điều đó.”
Tuy nhiên, David ít nhiều vẫn tôn thờ Ted, người giỏi giang trong cả toán học và âm nhạc. Như David từng nói, “tôi không thể biết liệu anh trai mình sẽ là Einstein hay Bach thế hệ tiếp theo.”
Cha mẹ của Ted không mấy lạc quan về tương lai của cậu con trai; có điều gì đó bất thường ở cậu. Khi còn nhỏ, Kaczynski từ chối ôm lại mọi người – anh ta luôn vặn vẹo bất cứ khi nào mọi người vòng tay quanh mình. Anh ta cũng gặp rất nhiều khó khăn khi muốn kết bạn. Ngay cả khi em trai anh ta mua chuộc những đứa trẻ khác bằng nước chanh và bánh quy để chúng chơi với anh ta, Kaczynski vẫn tỏ ra không mấy quan tâm. Mọi thứ thậm chí còn tồi tệ hơn khi Kaczynski làm bài kiểm tra IQ vào năm lớp năm. Anh ta đạt 167 điểm, và hiệu trưởng đề nghị cho anh ta “nhảy cóc” một năm ở trường. Cha mẹ Kaczynski không nhận ra rằng việc đẩy một cậu bé vốn đã nhỏ bé và vụng về vào giữa những đứa trẻ lớn hơn sẽ càng khiến anh ta bị cô lập, nên đã làm như lời hiệu trưởng.
Ngày nay, rất nhiều người cô đơn vẫn trưởng thành khỏe mạnh, có hành vi tốt đẹp. Kaczynski cũng đã kết bạn với một vài người bạn trong trường và tham gia vào các hoạt động xã hội như một ban nhạc (anh ta chơi trombone). Vậy thì Kaczynski không phải là một kẻ cô độc hoàn toàn. Nhưng cha mẹ của anh ta, Turk và Wanda, đã tỏ ra khó chịu vì sự kém nổi tiếng của anh ta, thậm chí còn đe dọa anh ta về điều đó, gọi anh ta là “yếu đuối”, “chưa trưởng thành” và “rối loạn cảm xúc” vì không hẹn hò hoặc tham gia các hoạt động hướng đạo sinh. Những lời nói đó làm Ted bị tổn thương sâu sắc. Turk và Wanda sau đó đã khiến những lỗi lầm trước đó của họ càng thêm trầm trọng khi bắt Kaczynski nhảy cóc thêm một năm trung học cơ sở. Bởi anh ta sinh vào tháng 5 nên bây giờ anh ta ít hơn 2 tuổi so với hầu hết các bạn cùng lớp.
Năm 15 tuổi, Kaczynski trúng tuyển vào Harvard. Đáng ra đó là một khoảnh khắc đáng tự hào, nhưng giáo viên thanh nhạc của anh ta đã cầu xin Turk đừng để Ted đăng ký học ở đó.
Người giáo viên lập luận rằng, dù rất thông minh nhưng Ted chưa sẵn sàng về mặt cảm xúc cho một ngôi trường “nồi áp suất” như vậy. Tệ hại hơn nữa, Kaczynski sẽ không bao giờ có thể hòa nhập với xã hội ở đó. Turk làm xúc xích để kiếm sống tại cửa hàng của chú mình gần kho dự trữ Chicago, một công việc bươn chải mà một học viên Harvard điển hình con trai của một chủ ngân hàng hoặc thượng nghị sĩ – sẽ khinh bỉ. Ông này cũng cho biết, trường Cao đẳng Oberlin gần đó cũng có chương trình âm nhạc phát triển, có vẻ phù hợp hơn. Turk bác bỏ điều đó. Dù chỉ làm một công việc thấp kém nhưng ông là một người kiêu hãnh, tham vọng và ông muốn điều tốt nhất cho con trai mình. Và ngôi trường đó chính là Harvard.
Công bằng mà nói, khi đưa Kaczynski đến Harvard, cha mẹ anh ta chỉ quan tâm đến lòng tự tôn của riêng họ. Tất cả họ đều phớt lờ việc Ted chỉ phù hợp với ngôi trường trung học gần nhà. Như các nhà tâm lý học đã ghi nhận, những người có chỉ số IQ thiên tài thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với bạn bè đồng trang lứa vì bộ não của họ hoạt động theo cơ chế khác nhau. (Kaczynski không muốn chơi với bạn bè trong khu phố của mình một phần vì anh ta thấy chúng thật trẻ con.) Nhưng tại Harvard, cha mẹ Ted nghĩ rằng anh ta sẽ gặp được những người ở cùng đẳng cấp với mình. Cuối cùng thì anh ta cũng kết bạn và ổn định với một cuộc sống bình thường.
Giá như điều đó xảy ra. Trong năm học thứ nhất, một trưởng khoa tốt bụng đã xếp Ted vào một ký túc xá nhỏ gồm những sinh viên có nền tảng giống nhau: những người đạt thành tích cao xuất thân từ các gia đình Harvard không điển hình. Về lý thuyết, nền tảng chung này sẽ giúp họ kết bạn với nhau. Trên thực tế, tòa nhà có những người có hoàn cảnh bất hạnh khác nhau, những người cũng gặp khó khăn trong việc giao tiếp xã hội. Nó biến thành nơi mà một nhà sử học gọi là “khu ổ chuột cho những kẻ mọt sách”. Một lần nữa, Kaczynski đã kết bạn với một vài người bạn ở Harvard; anh ta không hoàn toàn đơn độc. Tuy nhiên, Harvard không bao giờ chấp nhận một người nghèo đói trong những năm 1950 cũng như thời đại của John White Webster vào giữa những năm 1800. Ngoại hình có ý nghĩa quan trọng, và phong thái vụng về của Kaczynski và bộ quần xuề xòa đã ghim anh ta vào vị trí của một kẻ thủ bại.
Theodore Kaczynski, Unabomber tương lai, khi còn trẻ (trái). Bức ảnh gia đình Kaczynski, cha anh ta, người Thổ Nhĩ Kỳ, và em trai anh ta, David (phải). (Được phép của các Cơ quan Cảnh sát Tư pháp Mỹ.)
Kaczynski quen biết Henry Murray lần đầu vào năm hai đại học. Vào thời điểm đó, Murray đang sử dụng một khóa học tâm lý học trong khuôn viên trường để tuyển sinh viên cho nghiên cứu của mình và thực hiện các cuộc thẩm vấn mang tính lạm dụng. Nhưng tất nhiên ông ta không hề mô tả khóa học như thực tế. Trên các tờ rơi tuyển sinh, ông ta mô tả về nghiên cứu một cách nhạt nhẽo, như một cơ hội “đóng góp vào giải pháp của một số vấn đề tâm lý nhất định”. Kaczynski không tham gia khóa học nên không rõ anh ta và Murray gặp nhau như thế nào. Có lẽ Kaczynski đã thấy quảng cáo và tình nguyện tham gia, hoặc có lời lẽ Murray đã biết đến chàng trai trẻ này và đưa ra đề nghị. Bất kể lý do là gì, một cuộc sàng lọc sơ bộ đã xác định “Lawful” là thanh niên bị xa lánh nhất trong cả nhóm, điều này rõ ràng đã khiến Murray không thể dừng lại.
Vì Kaczynski khi đó mới 17 tuổi, là trẻ vị thành niên, Murray phải viết thư cho cha mẹ của anh ta ở Chicago và xin phép họ cho anh ta tham gia vào khóa học. Đáng buồn thay, Wanda Kaczynski không hoàn toàn hiểu được khóa học mà bà đang đẩy người con của mình vào. Tất cả những gì bà biết là Teddy vẫn không kết bạn, ngay cả ở Harvard, và rằng có thể nhà tâm lý học tốt bụng trong bức thư có thể giúp cậu bé của bà giải quyết những rắc rối đó. Bà đồng ý ngay lập tức.
Các sinh viên khác đã ký vào bản chấp thuận vốn cũng gian dối như tờ rơi quảng cáo. Đầu tiên, Murray yêu cầu họ viết ra “triết lý sống cá nhân... các nguyên tắc định hướng chính phù hợp với điều mà bạn đang sống hoặc hy vọng sẽ sống.” Sau đó, ông ta tuyên bố rằng họ đang tham gia vào một cuộc tranh luận thân thiện về những triết lý này với một sinh viên khác – không đề cập đến việc “sinh viên” đó thực sự là một luật sư giỏi công kích và tàn nhẫn. Như một trong những người được hỏi đã nói, “tôi nhớ mình đã bị sốc bởi mức độ nghiêm trọng của cuộc tấn công.”
Lừa dối đối tượng nghiên cứu là vi phạm Bộ luật Nuremberg về đạo đức nghiên cứu, nhưng Murray không quan tâm đến điều đó. Ông ta cũng che giấu mục đích thực sự của các thí nghiệm, và không có gì ngạc nhiên: Mục đích thực chất là hủy hoại các chàng trai trẻ. Trên thực tế, trong khi Bộ quy tắc nhằm mục đích giảm thiểu sự đau khổ trong quá trình nghiên cứu thì toàn bộ quan điểm nghiên cứu của Murray là tạo ra sự đau khổ. Cuối cùng, dù nói sẽ cho phép sinh viên từ bỏ nghiên cứu nếu muốn, tuy nhiên Murray đã sử dụng mọi sức hấp dẫn và quyền hạn đáng kể của mình để buộc họ phải tiếp tục tham gia vào nghiên cứu bằng cách tuyên bố rằng việc họ rời khỏi nghiên cứu sẽ phá hủy nó.
Đúng như biệt danh của mình, Lawful đã chứng minh là một trong những đối tượng biết nghe lời, chịu đựng hơn 200 giờ bị lạm dụng trong hơn 3 năm – bao gồm một buổi, theo cảnh đã được nhắc đến ở phần trên, lúc tay luật sư chế giễu bộ râu của anh ta. Kaczynski sau đó gọi cuộc nghiên cứu là “trải nghiệm tồi tệ nhất trong đời tôi”, nhưng anh ta vẫn kiên trì quay lại tuần này qua tuần khác vì một số lý do. Một là sự cáu kỉnh. “Tôi muốn chứng minh rằng tôi có thể thể kiểm soát nó”, anh ta từng nói, “tôi không thể bị hủy hoại”. Một nhà sử học suy đoán, anh ta cũng làm điều đó vì Murray đã trả tiền cho các sinh viên và Kaczynski thuộc tầng lớp lao động vốn đang rất cần tiền.
Tùy thuộc vào quan điểm của bạn, những gì Murray làm với Kaczynski có thể không được coi là tra tấn. Sau tất cả, ông ta không hề chạm tay vào chàng trai này, cũng không đe dọa Kaczynski hoặc những người thân của anh ta. Nhưng khoảng thời gian Kaczynski phải chịu đựng áp lực của Murray thực sự khủng khiếp – cả những hồi ức sau này và phản ứng của anh ta vào thời điểm đó (ví dụ: tim đập liên hồi) đều minh chứng cho điều đó. Hơn nữa, nếu chúng ta có thể ngoại suy từ trải nghiệm của những nạn nhân bị tra tấn với trải nghiệm của Kaczynski, thì loại đau khổ mà anh ta phải chịu là quá sức. Đây được gọi là hiện tượng Joan xứ Arc[*]: sức chịu đựng của họ thật đáng khâm phục, và sự tra tấn giúp tôi luyện họ. Ngược lại, những người bị chọn ngẫu nhiên để thực hiện hành vi lạm dụng hoặc những người bị cuốn vào một cuộc thập tự chinh mà họ không hề lựa chọn, có xu hướng đau khổ sâu sắc hơn và thường gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phục hồi. Họ không thể đưa ra câu chuyện nào biện minh cho điều đó, hay nguyên nhân sâu xa nào có thể xoa dịu nỗi đau ấy. Những màn tra tấn đã khiến họ suy sụp.
Bây giờ, nói rằng thí nghiệm Murray đã “biến” Kaczynski trở thành một kẻ đánh bom thư là không ngoa. Trên thực tế, 21 sinh viên khác cũng phải chịu đựng sự ngược đãi tương tự, và không ai trong số họ dựng chòi ở Montana và gửi bom cho mọi người. Như Murray là người đầu tiên chỉ ra, các cá nhân này rất phức tạp và mang phong cách riêng, nguyên nhân và kết quả hiếm khi minh bạch. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu ta coi hành vi bạo lực của Kaczynski là “gen xấu” hoặc do được nuôi dưỡng trong một “ngôi nhà tồi tệ” cũng là hành động đơn giản thái quá.
Tuy nhiên, ta có thể nói sự kết hợp của các gen xấu và trải nghiệm tồi tệ là nguyên nhân dẫn đến bạo lực. Ví dụ, hãy xem xét gen MAOA trên nhiễm sắc thể X. Gen này tạo ra một loại protein giúp phá vỡ các chất dẫn truyền thần kinh trong não. Các phiên bản khác nhau của gen phá vỡ các chất dẫn truyền thần kinh với tốc độ khác nhau và sự hiện diện hoặc vắng mặt của các chất dẫn truyền thần kinh khác nhau có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của chúng ta. Điều này có liên quan vì những người sinh ra với một số phiên bản MAOA nhất định có nhiều khả năng trở nên bạo lực và thể hiện hành vi chống đối xã hội – nhưng chỉ khi họ bị lạm dụng hoặc bị bỏ rơi khi còn nhỏ. Nếu không bị lạm dụng hoặc bị bỏ rơi, họ vẫn bình thường. Bạn cần cả gen xấu và trải nghiệm tồi tệ để thấy được kết quả đó.
Hiện tại, trong trường hợp không có xét nghiệm di truyền, chúng ta chỉ có thể suy đoán về DNA của Kaczynski. Nhưng anh ta rõ ràng là rất dễ kích động khi còn là một đứa trẻ, thậm chí là cuồng loạn (nhớ lại vụ việc với con thỏ). Trên hết, anh ta lớn lên trong một ngôi nhà không bình thường, với những ông bố bà mẹ coi con mình là kẻ “bệnh hoạn” vì không kết bạn, nơi anh ta phải đối mặt với những áp lực không thể dung hòa để vừa xuất sắc về học tập nhưng lại hoàn toàn bình thường về mặt xã hội. Thành thật mà nói, trí tuệ thiên tài của anh ta có lẽ cũng không giúp được gì cho anh ta. Nhiều người sở hữu trí tuệ thiên tài thì tâm hồn lại rất mỏng manh. Chúng giống như hoa lan, hoa sẽ rất đẹp và bền nếu được chăm sóc cẩn thận, nhưng thường héo úa trong những điều kiện bất lợi. Nếu Kaczynski thực sự dễ mắc bệnh tâm thần, cuộc sống ở nhà và trường học của anh ta có lẽ đã làm phức tạp thêm các vấn đề anh ta gặp phải.
Sau đó, anh ta gặp Murray. Một lần nữa, bạn có thể có hoặc không tin đây là hành vi tra tấn, nhưng cách hiệu quả nhất để giết chết những người đang bị tạm giam rất đơn giản: cô lập họ, gây căng thẳng cho họ và duy trì hành vi đó theo thời gian. Kaczynski 16 tuổi đã bị cô lập khi đến Harvard, và mọi thứ chỉ trở nên tồi tệ hơn khi được đưa vào khu ổ chuột của những thanh niên mọt sách. Sau đó, nghiên cứu của Murray tiếp thêm sự căng thẳng không cần thiết lên anh ta, nhấn mạnh rằng Kaczynski bướng bỉnh đã phải chịu đựng trong 3 năm. Trên thực tế, căng thẳng kéo dài có thể gây ra những thay đổi vĩnh viễn đối với não, làm teo một số bộ phận và khiến những bộ phận khác – như bộ phận xử lý sự tức giận và sợ hãi – dễ dàng trở nên kích thích vô cớ. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể đổ lỗi cho Murray vì những vụ giết người của Kaczynski, hay chúng ta có thể đổ lỗi cho những đứa trẻ đã không chơi với Teddy khi anh ta còn nhỏ. Nhưng tuổi thanh xuân là khoảng thời gian định hình, và thử nghiệm kéo dài nhiều năm không có đạo đức của Murray có thể đã đẩy một chàng trai trẻ vốn đã mỏng manh đến bờ vực thẳm.
Với tất cả những yếu tố này, chúng ta có thể so sánh Kaczynski với em trai anh ta để tìm hiểu thêm chi tiết. Đối lập với người anh trai, David thậm chí còn bị xa lánh hơn Ted khi còn nhỏ. Cả hai đều theo học các trường Ivy League (David học tại Columbia) và sau đó rút về sống trong hoang dã dưới sự hắt hủi của xã hội. Trên thực tế, David sống nguyên sơ hơn nhiều so với Ted từng làm trong căn nhà gỗ ở Montana của anh ta. Ít nhất thì chỗ ở của Ted còn có mái che và các bức tường. David chỉ đào một cái hố hình ngôi mộ trên sa mạc Texas và kéo một tấm thiếc phủ lên trên vào ban đêm. Những ẩn sĩ trong Kinh Thánh còn sống đầy đủ hơn. Tuy nhiên, dù cảm thấy bị xã hội xa lánh như nhau, và dù lớn lên trong cùng một môi trường gia đình và có nhiều gen giống nhau, cây phong lan của David vẫn sống sót – có lẽ vì anh ta chưa bao giờ phải chịu đựng điều gì đó giống như thí nghiệm Murray. Sau 8 năm, David cuối cùng cũng rời sa mạc Texas và kết hôn với người yêu thời trung học của mình. Cần nói thêm rằng, trong khi Ted khinh miệt việc sử dụng đạo đức truyền thống như một công cụ kiểm soát tâm trí tư sản, David có một la bàn đạo đức đủ mạnh để khiến anh trai mình ra tự thú sau khi đọc cái gọi là tuyên ngôn Unabomber trên một tờ báo nhiều năm sau đó.
Chắc chắn bản thân Kaczynski đã thấy rõ mối liên hệ giữa nghiên cứu của Murray và tội ác của ông ta, một mối liên hệ mà anh ta coi là quá giản lược và theo thuyết duy cảm. (Anh ta đổ lỗi cho cha mẹ vì những rắc rối bản thân gặp phải, điều này có vẻ cũng nói giảm nói tránh hơn.) Nhưng chính lời nói của Kaczynski đã phản ánh quá trình hình thành của thử nghiệm. Tuyên ngôn nổi tiếng lúc ấy của anh ta chủ yếu tập trung vào việc công nghệ hiện đại làm suy thoái và làm suy yếu tinh thần con người; dòng đầu tiên của tuyên ngôn có viết, “Cuộc Cách mạng Công nghiệp và hậu quả của nó là một thảm họa đối với loài người.” Nhưng anh ta cũng lặp đi lặp lại những cụm từ liên quan đến các nhà tâm lý học và lĩnh vực tâm lý học, nhắc đến chúng hàng chục lần. Trong phiên tòa xét xử, anh ta nói với luật sư của mình, “Tôi cực kỳ phản đối sự phát triển của một ngành khoa học về tâm trí con người.” Sau đó, anh ta đã viết cho thẩm phán, “Tôi không tin khoa học có bất kỳ lĩnh vực nào có thể thăm dò hoạt động của trí óc con người.” Ngay cả khi trở lại Harvard, Kaczynski gặp phải chứng khó ngủ, và trong nhiều năm sau khi ra trường, anh ta bị hành hạ bởi những cơn ác mộng về việc các nhà tâm lý học “cố thuyết phục tôi rằng tôi bị ‘bệnh hoặc... cố gắng kiểm soát tâm trí của tôi thông qua các kỹ thuật tâm lý.”
Dù xuất phát từ ai thì điều này cũng nghe có vẻ giống như chứng hoang tưởng mũ thiếc. Anh bạn à, CIA đang xâm nhập vào não tôi. Nhưng một nhà tâm lý học có quan hệ với giới tình báo thực sự đã thực hiện thử nghiệm trên Kaczynski, và đã cố phá vỡ tâm trí của anh ta.
Vụ án Murray-Unabomber là một vụ án bất thường trong lịch sử của khoa học phi đạo đức, bởi nạn nhân cuối cùng lại phạm phải tội ác kinh khủng hơn nhiều so với thủ phạm.
Có rất ít nghiên cứu về những thiên tài phạm tội, nhưng rất nhiều người lại phỏng đoán rằng nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là sự bất xứng trong não giữa IQ và EF – chức năng điều hành. Chức năng điều hành chủ yếu nằm ở thùy trán (các thùy đã bị loại bỏ ở tinh tinh Becky và Lucy). Nó giúp chúng ta quản lý các xung động của bản thân, đưa ra quyết định và áp đặt quyền tự chủ trong nhiều vấn đề khác. Như một nhà tâm lý học đã nói, “IQ hoạt động giống như mã lực thô của động cơ ô tô, trong khi EF... hoạt động giống như sự truyền tải, hướng sức mạnh” đến những mục đích hữu ích. Nhưng nếu chỉ số IQ của ai đó vượt xa EF thì về cơ bản, bạn có một tay đua mạo hiểm: chiếc xe có thể dễ dàng mất kiểm soát và khiến chủ sở hữu bay khỏi con đường hành vi có thể chấp nhận được. Hơn nữa, trong khi các thiên tài thường phạm tội vì những lý do cơ bản giống như hầu hết những người khác (tham lam, ghen tuông…), thì tội ác của họ thường phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều kế hoạch phức tạp hơn. Kaczynski đã dành nhiều năm để thiết kế và thử nghiệm quả bom của mình, lưu giữ các ghi chú được mã hóa tỉ mỉ[*] với mỗi “thí nghiệm”. Anh ta cũng thực hiện các bước công phu để che giấu dấu vết của mình, như ngâm mọi thứ trong nước muối và dầu đậu nành để xóa dấu vân tay.
Cuối cùng, những thiên tài phạm tội dường như có xu hướng đi theo chủ nghĩa hư vô – bác bỏ các quy ước đạo đức truyền thống với niềm tin rằng cuộc sống là vô nghĩa. Giống như những thông tin trên tạp chí mà anh ta đã công bố, Kaczynski chắc chắn có quan điểm ủng hộ chủ nghĩa này. (Ví dụ: “Đạo đức chỉ đơn giản là một trong những công cụ tâm lý mà xã hội sử dụng kiểm soát hành vi của con người.”) Có lẽ anh ta đã tự đưa ra kết luận này bất kể điều gì đã xảy ra trong cuộc đời của anh ta; nhiều người đã thực hiện giống như vậy. Đồng thời, không phải là ngẫu nhiên khi luật sư nổi tiếng trong nghiên cứu của Murray đã được huấn luyện đặc biệt để tấn công các giá trị của sinh viên và coi chúng là vô nghĩa. Nếu bạn muốn tạo một danh sách vô giá trị, đó là một khởi đầu khá tốt.
Giống như nhiều kẻ vi phạm pháp luật, bao gồm cả những thiên tài cũng như những người bình thường khác, Kaczynski bắt đầu từ những tội ác nhỏ. Sau khi chuyển đến căn chòi gỗ của mình ở Montana, và nhận thấy khu vực này ít tách biệt so với mong đợi, anh ta bắt đầu phá hủy các thiết bị khai thác gỗ gần đó. Anh ta cũng lẻn vào một căn nhà gỗ sang trọng của hàng xóm và đổ trộm rác vào nhà họ, sau đó đập vỡ xe mô tô và xe trượt tuyết của chủ nhà. Kaczynski sớm thực hiện các hành vi phạm tội nghiêm trọng hơn như bắn súng trường vào máy bay trực thăng ngang qua và giăng dây cản trở xe trượt tuyết. Cuối cùng, anh ta bắt đầu chế tạo bom và gửi chúng cho người lạ hoặc để chúng ở những nơi công cộng nhiều người qua lại. Anh ta không hoàn toàn lựa chọn mục tiêu một cách ngẫu nhiên, nhưng anh ta cũng không suy nghĩ nhiều về chúng. Anh ta cũng không tự lừa dối bản thân rằng một vài vụ nổ sẽ hạ gục toàn bộ “hệ thống” “kiểm soát tâm lý” mà anh ta coi thường. Anh ta chỉ đơn giản là tức giận và tìm cách tấn công, hy vọng sẽ giết được một người nào đó.
Đáng buồn thay, anh ta đã thành công. Tổng cộng, Kaczynski đã chế tạo 16 quả bom ngày càng tinh vi từ năm 1978 đến 1995, làm bị thương rất nhiều người và giết chết 3 người. FBI gọi anh ta là Unabomber vì anh ta nhắm mục tiêu vào các trường đại học (university) và hãng hàng không (airlines), và cuộc truy lùng Kaczynski là vụ án dài nhất và tốn kém nhất trong lịch sử FBI, vượt xa nhiệm vụ truy tìm Harry Gold khét tiếng.
Kaczynski đã lợi dụng sự nổi tiếng của mình để quảng bá lý thuyết về tác động ăn mòn của công nghiệp hóa đối với tinh thần con người. Anh ta thậm chí còn hứa sẽ ngừng giết người nếu The New York Times, The Washington Post, hay Scientific American đăng tuyên ngôn của anh ta. (Thật kỳ lạ, Penthouse cũng tình nguyện xuất bản nó, nhưng Kaczynski giữ lại cho mình quyền giết thêm người cuối cùng nếu tuyên ngôn đó xuất hiện trên một tờ báo ít nổi tiếng hơn.) The Washington Post đã đăng tuyên ngôn đó, nhưng giống như một người theo chủ nghĩa hư vô, Kaczynski không có ý định giữ lời hứa của bản thân. Ngay trước khi bị bắt, anh ta đang nghiền các thanh nhôm thành bột để chế tạo quả bom tiếp theo.
Dù đầu tóc và quần áo xộc xệch, căn chòi của Kaczynski thực sự khá ngăn nắp khi bị FBI đột kích. Các đặc vụ đã khoanh vùng nơi này trong nhiều tuần, và vào sáng ngày 3 tháng 4 năm 1996, một số đặc vụ bắt đầu chui qua một lòng lạch khô hướng về khu vực đó; những đặc vụ khác trốn trong khu rừng xung quanh. Một nhân viên kiểm lâm địa phương mà Kaczynski biết sau đó đã tiếp cận căn chòi gỗ với hai đặc vụ ngầm và giả vờ đang tranh cãi về ranh giới chính xác của tài sản của Kaczynski.
“Này, Ted,” người kiểm lâm cuối cùng cất tiếng. “Anh có thể ra đây và chỉ cho chúng tôi vị trí ranh giới không?”
Bên trong căn phòng của Unabomber ở Montana. Trái ngược với báo chí đưa tin, nó khá gọn gàng và ngăn nắp. (Được sự cho phép của FBI.)
Kaczynski ló đầu ra. Anh ta vẫn giữ thái độ cảnh giác như một thói quen, nhưng vẫn lên tiếng, “Chắc chắn rồi. Đợi tôi vào nhà lấy áo khoác đã.”
Ngay khi anh ta quay lưng lại, một trong những đặc vụ ngầm lao tới, tóm lấy Kaczynski và vặn cổ tay anh ta vào còng. Các đặc vụ khác sau đó lao ra khỏi rừng, tràn vào căn chòi và chú ý đề phòng bẫy thú cũng như những mối nguy hiểm khác.
Vô cùng ngạc nhiên, các đặc vụ phát hiện ra Kaczynski sở hữu những bộ vest và cà vạt cùng hàng chục tác phẩm văn học kinh điển trên giá (Shakespeare, Twain, Orwell, Dostoyevsky...). Đáng buồn thay, anh ta cũng có một bản sao bài báo của Henry Murray về việc thẩm vấn lạm dụng những thanh niên tài năng. Nó chỉ được xuất bản chín trang và là thứ duy nhất Murray từng bận tâm khi xuất bản về thử nghiệm. Nghiên cứu không đưa ra kết luận chuyên sâu và không thể hiện cảm giác hối tiếc hay xin lỗi – Murray chủ yếu nói về nhịp tim của các đối tượng. Cuối cùng, nhà quý tộc Murray đã quên mất những thanh niên này và hành vi lạm dụng của ông ta đã tác động khủng khiếp đến họ như thế nào. Nhưng Kaczynski không bao giờ có thể quên đi điều đó.
Sau khi bị bắt, Kaczynski đã nhận 13 tội danh liên bang. Trong lịch sử lừng lẫy, Harvard có hai cựu sinh viên bị xử tử vì hành vi tội ác của họ. Người đầu tiên là George Burroughs, liên quan đến thuật phù thủy, vào năm 1692. Người thứ hai là John White Webster xuất hiện trong chương bốn vì đã giết George Parkman vào năm 1849. Bằng cách nhận tội và thỏa thuận lời khai, Theodore John Kaczynski đã suýt trở thành kẻ thứ ba[*].
Khi cố gắng giải thích về Kaczynski, giới truyền thông chủ yếu tập trung vào cuộc sống của anh ta sau khi rời khỏi Harvard. Anh ta nhận bằng Tiến sĩ và trở thành giáo sư toán học tại Đại học California ở Berkeley. Thời điểm này là cuối những năm 1960, một thập kỷ cấp tiến, và “Bezerkeley” là trường đại học cấp tiến nhất trong cả nước. Những lời kêu gọi bạo lực và nổi dậy ở khắp mọi nơi, và đối với các nhà tâm lý học không có kiến thức thực tế trên các phương tiện truyền thông, thì mối liên hệ này dường như quá hiển nhiên: bầu không khí náo động ở Berkeley hẳn đã làm hư hỏng thiên tài trẻ tuổi, và đẩy anh ta đến cái ác.
Tuy nhiên, từ chính lời khai của anh ta, Kaczynski đã bị băng hoại trước khi đến California. Trên thực tế, anh ta nhận một công việc học thuật chỉ để tiết kiệm tiền, từ đó anh ta có thể mua đất ở đâu đó và bắt đầu thực hiện những hình ảnh tưởng tượng về hành động giết người và trả thù hướng tới miền Đông nước Mỹ. Việc anh ta đến Berkeley không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, và anh ta hầu như không nhận thấy tình trạng hỗn loạn xung quanh mình. Những rắc rối thực sự của anh ta bắt nguồn từ thời thơ ấu đầy khó khăn cùng những giờ phút bị ngược đãi mà anh ta phải chịu đựng trong một tòa nhà ở Harvard với một con cá voi trắng được trang trí trên cửa ra vào. Chưa kể đến sự hoang tưởng trong Chiến tranh Lạnh đã thuyết phục CIA và các nhà khoa học đồng minh của họ rằng sự đau khổ của con người là thứ hi sinh hoàn toàn xứng đáng.
Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, khoa học có kẻ thù ở cả hai phía trong hành lang chính trị. Trên thực tế, trong khi vụ án Unabomber tiết lộ sự nguy hiểm của khuynh hướng bảo thủ điên cuồng thì vụ án tiếp theo liên quan đến một cậu bé mà hạnh phúc và cuộc sống của cậu ta đã bị buộc phải hy sinh cho những thứ giáo điều của một nhà tâm lý học lừa đảo khác.
10,172 từ






