TruyenVip

Tâm Trí Tội Phạm

Tâm Trí Tội Phạm - Chương 09

Mục lục

GIÁN ĐIỆP | VỞ KỊCH TẠP KỸ

Bộ đôi này trông giống như nhân vật trong một vở kịch tạp kỹ – những kẻ đối lập đầy hài hước. Một người gầy gò, có vẻ đứng đắn, đeo kính cận và hỏi đầu. Ông ta lái một chiếc Buick màu xanh biếc luôn phát ra tiếng kêu cạch-cạch khi lăn bánh. Khi ông ta tới điểm hẹn ở Santa Fe, cộng sự của ông ta – béo lùn, mập mạp – từ bóng tối gần một nhà thờ bước ra và leo lên ghế khách. Chiếc xe phóng đi ngay lập tức, lượn đến rìa thị trấn, rồi vít ga qua những ngọn núi.

Đó là một đêm tháng 9 năm 1945. Sau khi dừng xe, hai gã đàn ông ngồi trong xe trò chuyện như những người bạn cũ, cùng ngắm nhìn ánh đèn của thành phố bên dưới. Cuối cùng sa mạc cũng bớt nóng, và họ trở lại Santa Fe. Ngay trước khi chia tay, gã có vẻ ngoài đạo mạo kia đưa cho người đồng hành một gói giấy tờ. Họ bắt tay nồng nhiệt và dù hẹn ngày gặp lại song họ biết rất có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Sau khi chiếc xe nổ máy, vẫn với những tiếng kêu lạch cạch, người đàn ông to béo lếch thếch đi ra bến xe. Với dáng vẻ vụng về, ông ta vừa đi vừa ngó nghiêng, lướt qua những khuôn mặt xung quanh mình. Bên trong nhà ga, ông ta ngồi trên một chiếc ghế dài và thử đọc một cuốn sách, Great Expectations (tạm dịch: Những kỳ vọng lớn lao). Nhưng gói giấy tờ kia không bao giờ rời khỏi tay ông ta và liên tục khiến dòng suy nghĩ của ông ta bị gián đoạn. Ông ta cũng liên tục liếc nhìn đám đông xung quanh mình như thể sợ có người đang theo dõi. Ông ta có lý do chính đáng để lấm lét như vậy. Ông ta là một điệp viên của Liên Xô, và gói giấy tờ kia là bản thiết kế một quả bom nguyên tử.

Sau khi đi xe buýt đến Albuquerque, ông ta đi máy bay đến thành phố Kansas và tới ga xe lửa. Ở đó, ông ta thấy một bà già và người cháu trai đang loay hoay đưa hành lý lên cùng con tàu với ông. Những người khác lướt qua họ, vì vậy ông ta dừng lại xếp túi và giúp họ ổn định chỗ ngồi. Thật không may, hành động tốt này khiến ông ta mất cơ hội có được một chỗ ngồi cho mình, và phải ngồi trên chiếc vali trong suốt chuyến đi đến Chicago.

Cuối cùng, sau nhiều lần dừng tàu và một khoảng thời gian rất dài, ông ta cũng đến được New York – nhưng đã quá muộn để gặp người liên lạc phía Liên Xô. Ông ta lo lắng vô cùng: phải hai tuần nữa bọn họ mới có buổi gặp dự phòng, có nghĩa là ông ta phải cắp gói tài liệu đi khắp trong hoang mang nơi thêm hai tuần nữa. Nhưng ông ta là một người rất có kỷ luật. Suốt 14 ngày sau đó, ông ta không rời mắt khỏi tập tài liệu, thậm chí còn mang chúng cả khi đi mua hàng tạp hóa. Thật vậy, chỉ có một nơi duy nhất mà ông ta cảm thấy an toàn trong suốt hai tuần đó – phòng thí nghiệm hóa học của ông ta.

Ngay sau khi ông ta bắt tay vào thực hiện các thí nghiệm, cảm giác căng thẳng liên quan đến hành vi gián điệp vơi bớt phần nào. Ông ta có thể dành hết tâm trí vào những chiếc bình đun hóa chất và ống nghiệm, hoàn toàn cho phép bản thân buông lỏng cảnh giác. Cuối cùng, hai tuần sau, khi đã hoàn tất việc chuyển giao bản thiết kế bom nguyên tử, ông ta lại vùi đầu vào công việc trong phòng thí nghiệm để đẩy vấn đề ra khỏi tâm trí. Một số người tìm đến hơi men để quên sầu; còn Harry Gold thì thực hiện những thí nghiệm hóa học.

Ngày nay, Harry Gold được biết đến nhiều nhất với tư cách là một điệp viên và một tên tội phạm. Ông ta nhận hàng tá tài liệu bí mật từ một nhà vật lý bất hảo trong Dự án Manhattan – Klaus Fuchs gầy gò, nghiêm nghị – và giao chúng cho các đặc vụ Liên Xô. Sau đó, khi FBI bắt được Gold, lời khai của ông ta đã tiễn Julius và Ethel Rosenberg lên chiếc ghế điện. Nhưng nếu có ai hỏi Gold rằng ông ta nhận mình là gì thì câu trả lời sẽ rất đơn giản: Ông ta là một nhà hóa học.

Lòng tận tụy với khoa học và một loạt những bất hạnh đã đẩy Gold trở thành gián điệp. Ông ta sinh ra và lớn lên trong một khu phố nghèo ở Nam Philadelphia, nơi gia đình ông ta bị kỳ thị vì là người Do Thái. Các băng nhóm du côn ném gạch vào cửa sổ những gia đình Do Thái, và đánh đập chàng trai Gold nhỏ bé, ham đọc sách trên con đường từ thư viện trở về nhà.

Cha của ông ta, Samson, một thợ mộc tại một xưởng máy hát đĩa, thậm chí đã phải đối diện với những tình huống tồi tệ hơn. Những người thợ khác sẽ cướp những chiếc đục của Samson và dùng keo dán các dụng cụ của ông ta lên cao. Người chủ luôn khinh miệt ông ta, và có lần gầm gừ, “Đồ khốn kiếp, tao sẽ bắt mày phải nghỉ việc”. Sau đó, tên này yêu cầu mọi người, trừ Samson, rời khỏi dây chuyền lắp ráp và buộc ông ta phải tự tay chà nhám tất cả số tủ gỗ. Samson phải làm việc tới kiệt sức, và Gold nhớ cha mình thường trở về nhà với những đầu ngón tay rớm máu. Nhưng Gold ngày ấy rất khâm phục cha vì ông không bao giờ phàn nàn hay bỏ cuộc.

Tuy nhiên, Samson bị sa thải vào năm 1931, khiến Gold rơi vào tình thế khó khăn. Trong những năm niên thiếu, Gold làm việc trong một phòng thí nghiệm khoa học tại Công ty Đường Pennsylvania ở địa phương; bắt đầu từ công việc rửa ống nhổ và đồ thủy tinh trước khi trở thành trợ lý phòng thí nghiệm chỉ sau 6 tháng. Ông ta yêu thích công việc và bắt đầu tham gia các lớp học để lấy bằng hóa học. Nhưng khi cha ông ta mất việc, Gold phải nghỉ học và nhận một vị trí toàn thời gian tại Penn Sugar để giúp gia đình trang trải qua ngày. Thật không may, cuộc Đại suy thoái ngày càng tồi tệ, và khi Gold buộc phải nghỉ việc vào tháng 12 năm 1932, gia đình ông ta đã đối mặt với khả năng mất nhà thực sự.

Sau nhiều tháng tuyệt vọng, người bạn Tom Black đã giới thiệu cho ông ta một công việc tại một nhà máy sản xuất xà phòng ở New Jersey với mức lương 30 đô la/tuần. Gold vô cùng biết ơn. Nhưng đã có một cái bẫy bày sẵn ra ở đó. Black là một người cộng sản nhiệt thành, và ông ta cương quyết đưa Gold cùng tới các cuộc họp của mình.

Nhà hóa học và điệp viên nguyên tử Harry Gold. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ.)

Dù Gold có khuynh hướng chính trị cánh tả, song ông ta vẫn bị những người cộng sản mà ông ta gặp dề chừng. Họ tổ chức những cuộc họp kéo dài đến 4 giờ sáng, trong những căn phòng được trang trí bằng hình vẽ những chú chó béo hút xì gà và ngồi trên đống tiền xu. Nhưng Gold không thích những người trong cuộc họp đó. Vài tháng sau, khi Penn Sugar thuê lại Gold, ông ta rời Jersey và từ chối tham gia thêm bất kỳ cuộc họp nào nữa.

Tuy nhiên, Black vẫn tiếp tục bám riết Gold, cố gắng thuyết phục ông ta gia nhập Đảng Cộng sản. Cuối cùng, để khiến Black im miệng, Gold đã chấp nhận thỏa hiệp. Black giải thích, Liên Xô cần xây dựng cơ sở công nghiệp và cải thiện mức sống của người dân. Cách tốt nhất để làm điều đó là thông qua khoa học, nhưng các công ty Mỹ lại tỏ ra bủn xỉn trong việc cấp phép công nghệ ở nước ngoài. Để bù đắp cho vấn đề này, Gold có thể đánh cắp một số bí mật thương mại hay không?

Gold ngập ngừng. Penn Sugar đối xử tốt với ông ta – không nhiều công ty chịu để một người rửa ống nhổ trở thành trợ lý hóa học. Công ty này cũng sở hữu nhiều công ty con trong một số ngành công nghiệp hóa chất khác nhau, có nghĩa là ông ta có thể làm việc trong hầu hết các lĩnh vực mà mình yêu thích. Tuy nhiên, lời thỉnh cầu của Black đã khiến ông ta cảm động. Gold khao khát được trở thành vị cứu tinh của những người Liên Xô đang co ro, đói khát – những người như chính gia đình của ông ta. Những lời của Black cũng đánh trúng chủ nghĩa lý tưởng khoa học của ông ta. Bằng cách tiết lộ các bí mật thương mại, Gold tự nhủ, ông ta sẽ giúp “xung quỹ” dữ liệu và ý tưởng – một việc làm quan trọng đối với tiến bộ khoa học. Các điệp viên Liên Xô cũng vẽ ra bức tranh trong đó khoa học là tình bằng hữu quốc tế, vượt lên trên những thứ vụn vặt như biên giới quốc gia và xung đột chính trị. Các nhà khoa học có nhiệm vụ biến thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn, và nếu các công ty Mỹ quá tham lam đến mức không thể cấp phép công nghệ một cách hợp pháp, thì Gold có nhiệm vụ đánh cắp chúng[*].

Động lực thứ hai thôi thúc Gold trở thành gián điệp mang tính cá nhân hơn: chống lại chủ nghĩa bài Do Thái. Vào thời điểm đó, Liên Xô là quốc gia duy nhất đứng lên chống lại Đức Quốc xã – quốc gia bài xích người Do Thái một cách tàn bạo. Từ cuộc đối đầu này, Gold nghĩ Liên Xô là quốc gia duy nhất trên Trái đất nơi người Do Thái thực sự được bình đẳng – không chỉ là kẻ thù của Đức Quốc xã, mà còn là bạn của người Do Thái ở khắp mọi nơi. Điều này không hoàn toàn chắc chắn nhưng Gold muốn tin tưởng vào một điều khác biệt. Ông ta vẫn nhớ như in những đầu ngón tay rớm máu của cha mình và những viên gạch ném vào cửa sổ, đồng thời luôn nung nấu để làm một điều gì đó “trên quy mô rộng hơn và hiệu quả hơn nhiều... như một hành động tát vào mặt một kẻ bài xích người Do Thái”. Ủng hộ cuộc thử nghiệm vĩ đại của Liên Xô là cơ hội để ông ta đáp trả.

Vì vậy, Gold trở thành gián điệp. Có chút châm biếm, những người Liên Xô đặt mật danh cho ông ta là “Goose” (Ngỗng cái) vì vóc dáng to béo và bước đi lạch bạch, vụng về của ông ta. Nhưng họ nhanh chóng biết rằng họ phải tôn trọng kỹ năng của ông ta. Ông ta bắt đầu chậm rãi, dượt nhanh đống tài liệu tại nơi làm việc và giấu tài liệu ở nhiều vị trí khác nhau. Nhiều tháng trôi qua, ông ta ngày càng dạn dĩ hơn, thu thập giấy tờ với tần suất ngày càng nhiều. Sau đó, ông ta dành hàng giờ sau giờ làm việc, thậm chí cả đêm để sao chép từng dòng tài liệu. Từ các công ty con khác nhau của Penn Sugar, ông ta nghiên cứu về sơn mài, vecni, về dung môi, chất tẩy rửa và cồn. Lúc đầu, ông ta không có ý định thu thập nhiều thông tin như vậy, nhưng ông ta là người luôn tận tụy trong công việc của bản thân, dù điều đó có bất hợp pháp hay không. Nếu cảm thấy muốn bỏ cuộc, ông ta lại nghĩ đến những người dân Liên Xô nghèo khổ và tự xốc lại tinh thần để đánh cắp nhiều thông tin hơn nữa. Nhìn chung, ông ta nhớ lại, “tôi đã đánh cắp trọn vẹn được rất nhiều thông tin.”

Lúc đầu, Gold chỉ giao các bản sao lậu cho Tom Black. Sau đó, ông ta tự đến New York để giao hàng, một nhiệm vụ mà ông ta cảm thấy thật ly kỳ vì được gặp trực tiếp các điệp viên Liên Xô bằng xương bằng thịt. Trên thực tế, ông ta phấn khích đến nỗi những khía cạnh khác trong cuộc sống của ông ta cũng vì thế suôn sẻ hơn. Trong thời gian này, ngoài công việc toàn thời gian, ông ta còn tham gia các lớp học buổi tối tại Đại học Drexel, cố gắng lấy được tấm bằng hóa học. Điểm số của ông ta cao ấn tượng sau khi bắt đầu làm gián điệp, từ những điểm B và C thành những điểm A nổi bật.

Tuy nhiên, sau một thời gian, những chuyến đi đến New York bắt đầu khiến ông ta kiệt sức. Điểm hẹn thường là một chuyến tàu tốc hành đêm, chưa kể hàng giờ lang thang khắp thành phố để cắt những cái đuôi nghi ngờ. (Chẳng hạn, ông ta có thể ngồi xem hết nửa bộ phim trước khi lách ra lối thoát bên hông, hoặc bắt tàu điện ngầm và lao ra khỏi tàu ngay trước khi cửa đóng lại.)

Sau đó, ông ta sẽ đợi gặp người liên lạc của mình ở một nơi vắng vẻ nào đó, thường dưới trời tuyết hoặc giữa những cơn mưa. Các chuyến đi rất tốn kém – ông ta phải chi hơn 6.000 đô la (110.000 đô la ngày nay) — và tình hình sức khỏe bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ông ta mất ngủ triền miên trong vài tuần và cân nặng tăng vọt lên 84kg.

Tệ nhất là ông ta đã vỡ mộng về thái độ của người Liên Xô với khoa học. Các nhà hóa học nghiên cứu như Gold luôn tìm kiếm những đổi mới trong quy trình, thủ thuật và điều chỉnh hóa học để có thể tăng hiệu quả và tỷ lệ sản xuất. Việc tìm ra những đột phá này không hề dễ dàng – những trục trặc và ngõ cụt là không thể tránh khỏi – nhưng hầu hết các nhà khoa học đều chấp nhận đây là cái giá phải trả cho sự tiến bộ. Ngược lại, Liên Xô không có đủ kiên nhẫn để nghiên cứu thăm dò hoặc suy đoán; họ khao khát công nghiệp hóa, và luôn ưu tiên các quy trình ổn định, đáng tin cậy dù cũ kỹ và kém hiệu quả. “Khi nỗ lực gửi tài liệu thể hiện một hoạt động nghiên cứu chưa được sản xuất ở quy mô hoàn chỉnh”, Gold nhớ lại, “tôi bị chỉ trích hoặc trừng phạt rất thô bạo”. Sự coi thường tiến bộ khoa học ấy của người Liên Xô khiến ông ta thất vọng, nhưng về bản chất ông ta vẫn phục tùng, và cấp trên của ông ta đã đe dọa buộc ông ta phải làm theo ý họ.

Chán nản và ngày càng mệt mỏi, Gold ngày càng mất tinh thần với những chuyến đi đến New York. “Đó là một công việc buồn tẻ, đơn điệu,” ông ta nhớ lại và việc phải lừa dối gia đình khiến lương tâm ông ta day dứt: “Mỗi lần đi thực hiện nhiệm vụ... tôi đã nói dối ít nhất 5 hoặc 6 người.” (Linh cảm thấy con trai mình đang nói dối, mẹ của Gold đã nghĩ ông ta là một kẻ phóng đãng, đang chạy theo những cô gái tại Bờ Đông. Sự thật thì ngược lại: quay cuồng giữa công việc toàn thời gian, trường học và công việc gián điệp, ông ta không có thời gian để hẹn hò với ai, việc mà sau này ông ta vô cùng hối hận.) Để duy trì sự tỉnh táo, Gold cố gắng không nghĩ đến khoa học trong các chuyến đi về phía bắc, sau đó khi trở lại Philadelphia, ông ta sẽ dành trọn tâm trí cho cuộc sống của một nhà hóa học. Nhưng mỗi năm qua đi, bận rộn lại thêm chất chồng khiến Gold gần như suy sụp.

Tuy nhiên, dù cảm thấy mệt mỏi đến nhường nào, Gold vẫn luôn dành thời gian cho công việc trong phòng thí nghiệm, ngay cả khi điều đó có nghĩa là ông ta phải làm việc 20 giờ một ngày. Một dự án nghiên cứu yêu thích của ông ta liên quan đến sự khuếch tán nhiệt, tận dụng sự chênh lệch nhiệt độ để tách hỗn hợp trong đó như tách carbon dioxide từ khí thải để làm đá khô. Ông ta tự nhận là một nhà hóa học có phương pháp trong phòng thí nghiệm – không phải là một “thiên tài chớp nhoáng”, mà là một biên tập viên, người chỉnh sửa mọi sai sót trong cuốn sách bằng quá trình lọc bỏ tẻ nhạt để cho ra đời một tác phẩm hay nhất có thể”. Một buổi chiều nọ, ông ta vô tình đánh rơi giá đựng 22 ống nghiệm và chứng kiến công sức lao động của cả tuần lễ tung tóe dưới sàn nhà. “Tôi không ngồi xuống và khóc; tôi cũng không đi chơi hay say xỉn”, ông ta nhớ lại. Thay vào đó, ông ta dành 2 ngày 2 đêm liên tục để làm lại mọi thứ.

Gold đang tìm cách từ bỏ dần hoạt động gián điệp thì vào năm 1938, Liên Xô đã tặng ông ta một bất ngờ. Ông ta luôn khao khát hoàn thành chương trình học để nhận bằng, và được cấp trên đề nghị trả học phí cho ông ta tại Đại học Xavier ở Cincinnati. Đây không phải là một động thái tốt đẹp: Liên Xô đang muốn có một điệp viên tại một nhà máy hàng không gần đó, và họ chọn Gold. Ông ta chẳng quan tâm. Ông ta trân quý từng phút giây của đời sống đại học, dành nhiều giờ trong phòng thí nghiệm và cổ vũ cuồng nhiệt cho các đội bóng rổ và bóng đá của Musketeer. Ông ta ở đó cho đến năm 1940, và sau đó gọi thời gian đi học là những năm hạnh phúc nhất trong cuộc đời.

Cuộc phiêu lưu kết thúc khi Gold trở về Philadelphia, nơi ông ta tiếp tục hoạt động gián điệp. Không rõ tại sao ông ta lại làm vậy. Có lẽ Gold cảm thấy mắc nợ người Liên Xô vì tiền học bổng. Hoặc có lẽ ông ta thích sự đồng hành và ý thức về mục đích của hoạt động gián điệp. (Thật vậy, Liên Xô đã khai thác sự cô đơn của Gold bằng cách ghép cặp ông ta với những quản lý hoạt động cũng là nhà khoa học. Trong những màn thể hiện tình bạn thân thiết không có thật, họ vỗ vai ông ta và thở dài, Thật tệ là chúng ta phải tự vấy bẩn mình bằng công việc gián điệp. Đáng lẽ chúng ta nên làm việc trong phòng thí nghiệm – thứ khiến chúng ta hạnh phúc.) Hơn nữa, các sự kiện thế giới buộc ông ta phải tiếp tục công việc này. Sau khi Đức Quốc xã tấn công Liên Xô vào năm 1941, Liên Xô rất cần sự trợ giúp quốc phòng, bao gồm cả chuyên môn kỹ thuật. Gold căm thù Đệ tam Đế chế giết người, vì thế tiếp tục cam chịu công việc làm gián điệp để giúp Liên Xô tồn tại.

Cũng vì thế Gold chuyển từ gián điệp công nghiệp sang gián điệp quân sự. Ông ta bắt đầu nhận tài liệu và thậm chí cả mẫu chất nổ từ các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm quốc phòng và thu thập thông tin từ họ để làm báo cáo. Quản lý các đặc vụ như thế này là một công việc tế nhị, đòi hỏi cả hiểu biết kỹ thuật và tâm lý. Nhưng Gold đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ. Ông ta được người Liên Xô gọi là “vận động viên có kỷ luật”: một điệp viên tuyệt vời, đáng tin cậy. Vì vậy, khi điệp viên khoa học hàng đầu trong hàng ngũ Liên Xô – một nhà vật lý người Anh gốc Đức tên là Klaus Fuchs – chuyển từ Anh đến New York vào cuối năm 1943 để tham gia Dự án Manhattan, Gold là lựa chọn hiển nhiên để làm việc cùng ông ta.

Vào ngày 5 tháng 2 năm 1944, ngay trước 4 giờ chiều, hai người đàn ông gặp nhau tại một bãi đất trống gần một sân chơi ở phía đông Manhattan. Một người dong dỏng, ăn vận chỉnh tề, với áo tuýt và đeo kính. Ông ta mang theo một cuốn sách bìa màu xanh lá và một quả bóng tennis bất chấp cái lạnh của mùa đông.

Nhìn thấy quả bóng và cuốn sách, một người đàn ông thấp mập, khuôn mặt chảy xệ – đeo một đôi găng tay da lộn và cầm một đôi găng tay khác – bước tới và hỏi đường đến Khu phố Tàu.

“Khu phố Tàu đóng cửa lúc 5 giờ”, người đàn ông dong dỏng trả lời, hoàn thành câu tín hiệu nhận dạng. Và cùng với đó, nhà vật lý Klaus Fuchs và nhà hóa học Harry Gold bắt đầu sải bước.

Gold tự giới thiệu mình là “Raymond” và đã bắt một chiếc taxi sau một cuốc đi bộ ngắn. Qua một vài dãy nhà, Gold dừng xe lại và vội vàng đưa Fuchs lên tàu điện ngầm để cắt đuôi bất cứ ai có thể đang theo sau họ. Tuyến đường quanh co này cuối cùng kết thúc tại một nhà hàng bít tết trên Đại lộ 3. Gold tự hào về những hành động lẩn tránh này, nhưng Fuchs – một người cộng sản cứng rắn đến từ Đức, một người từng chiến đấu với những tên côn đồ của Đức Quốc xã trên đường phố ở đó – coi đối phương là một tay mơ. Ông ta cũng mắng Gold vì thói quen liên tục xoay đầu khi họ vừa đi vừa quan sát những chiếc đuôi bám theo. Điều đó chỉ thu hút sự chú ý mà thôi, ông ta nói.

Với giọng kẻ cả, Fuchs vào việc ngay. Ông ta giải thích rằng mình đang làm việc cho Dự án Manhattan, nhằm chế tạo một loại vũ khí có sức mạnh chưa từng có – một quả bom nguyên tử.

Gold chưa bao giờ nghe đến thuật ngữ này, và là một nhà hóa học, ông ta chỉ nắm được thông tin mơ hồ về quá trình phân hạch hạt nhân. Nhưng trong cuộc trò chuyện giữa hai người, có một chi tiết khiến trái tim ông ta bị khuấy động. Một lần nữa, người Liên Xô coi hầu hết các nghiên cứu thăm dò đều mang tính lý thuyết. Nhưng sự phân hạch nguyên tử là một ngoại lệ: dù không ai biết liệu một quả bom hạt nhân có hoạt động hay không, nhưng khả năng này rất quan trọng nên không thể bỏ qua. Do đó, Gold sẽ xử lý các nghiên cứu tiên tiến nhất.

Nhà vật lý và điệp viên Klaus Fuchs của Dự án Manhattan. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ.)

Sau cuộc gặp gỡ đầu tiên, họ tiếp tục gặp nhau nhiều lần nữa liên tục trong vài tháng sau đó – ở Brooklyn, Queens, Bronx, tại các rạp chiếu phim, quán bar, viện bảo tàng. Fuchs thường đưa cho Gold một phong bì dày khi họ chia tay. Khi tâm trí bị sự tò mò thiêu đốt, Gold chui vào một cửa hàng thuốc và nhanh chóng liếc vào trong chiếc phong bì – một vi phạm an ninh vô cùng nghiêm trọng. Bên trong là những trang chứa đầy các sơ đồ và các phép tính toán học cỡ chữ nhỏ. Mọi thông tin tối mật về một quả bom nguyên tử.

Trong những lần gặp mặt, hai người họ cũng có trò chuyện, song mỗi người lại có nhận định riêng về những trao đổi đó. Fuchs nhắc lại sự chuyên nghiệp – trao đổi ngắn gọn và kỷ luật nghiêm ngặt. Gold gợi lại một tình bạn mới chớm nở. Giữa những cuộc trao đổi gián điệp, họ thảo luận về mối quan tâm chung với cờ vua và âm nhạc cổ điển, và đưa ra một câu chuyện quan trọng (hay “huyền thoại” theo các gọi của người Liên Xô) để giải thích về cách họ gặp nhau tại một buổi giao hưởng ở Carnegie Hall. Fuchs thậm chí còn úp mở về em gái của mình ở Cambridge, Massachusetts, người đang gặp rắc rối trong hôn nhân. Gold lần lượt kể cho Fuchs nghe về hai đứa con sinh đôi của ông ta, và vợ ông ta – một phụ nữ tóc đỏ từng làm người mẫu cho cửa hàng bách hóa Gimbels. Đây hoàn toàn là sự bịa đặt – chân dung tưởng tượng về một gã đàn ông cô đơn – nhưng Gold lại để bản thân suy nghĩ như vậy về người bạn của mình.

Gold cũng cố gắng gây ấn tượng với Fuchs bằng kiến thức khoa học của mình. Chuyện đó không được như ý. Trong một cuộc gặp mặt, Fuchs thừa nhận nhóm của ông ta đang không thể tìm ra cách làm giàu uranium, bước đầu tiên trong việc chế tạo lõi bom. Gold đã đóng góp ý kiến và đề nghị họ thử khuếch tán nhiệt, quy trình mà ông ta đã mày mò trong khi làm việc. Fuchs đã bác bỏ ý kiến này vì cho rằng nó nghiệp dư, điều này ý khiến Gold rất buồn. (Fuchs không biết rằng trên thực tế, Dự án Manhattan mới mở một nhà máy khuếch tán nhiệt; nếu không có nó, sẽ không có bom uranium trong Thế chiến II.)

Vào tháng 7 năm 1944, bộ đôi đã lên lịch cho cuộc gặp thứ tám, gần Bảo tàng Brooklyn. Fuchs không xuất hiện. Điều này khiến Gold lo lắng vì Fuchs luôn là người chuẩn chỉ. Nhưng họ có một cuộc gặp mặt dự phòng được lên lịch vài ngày sau gần Công viên Trung tâm, vì vậy ông ta đã ra về.

Fuchs tiếp tục bỏ lỡ cuộc gặp mặt sau đó. Suy nghĩ về những kẻ tấn công lóe lên trong đầu Gold, và ông ta quay trở lại Philadelphia với tâm trạng bối rối. Gold không biết Fuchs sống ở đâu hoặc làm cách nào để liên lạc với ông ta. Một điệp viên vô giá – một người bạn tốt của ông ta – đã “vắng mặt không phép” một cách đột ngột.

Ông ta không cần phải lo lắng. Fuchs vẫn ổn – thực tế là ổn hơn trước rất nhiều. Ông ta vừa nhận được lời mời đến “chốn thiêng” trong của Dự án Manhattan, phòng thí nghiệm vũ khí tại Los Alamos.

Fuchs rời đi đột ngột đến nỗi ngay cả người Liên Xô cũng không biết ông ta đang ở đâu. Thông qua một mưu đồ bí ẩn nhưng khả thi, cuối cùng sếp của Gold ở New York cũng lần ra được địa chỉ được biết đến gần thời điểm đó nhất của Fuchs, gần Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Mỹ. Anh ta chuyển thông tin này cho Gold, người đã mua bản sao cũ cuốn tiểu thuyết của Thomas Mann, Joseph the Provider, viết nguệch ngoạc tên và địa chỉ của Fuchs vào bên trong, đồng thời đến thăm tòa nhà bằng đá nâu bốn tầng với lý do muốn trả lại cuốn sách. Ông ta thấy cửa không khóa và tự đi vào, nhưng cặp vợ chồng người Scandinavia sở hữu nơi này đã đối chất ông ta. Gold giữ bình tĩnh và giải thích về cuốn sách, nhờ đó cặp đôi cũng dịu bớt, nhưng họ nói với ông ta rằng Fuchs đã chuyển ra ngoài và không để lại địa chỉ.

Quá tuyệt vọng, phía Liên Xô đã đánh một canh bạc lớn và đưa Gold đến Cambridge vài tuần sau đó để đến thăm Kristel, em gái của Fuchs. Gold đến cùng một cuốn sách để tặng cho cô ta và kẹo cho các con của cô ta – cháu gái và cháu trai của Fuchs. Ông ta giả làm một người bạn cũ đến thăm thị trấn. Than ôi, Kristel không biết anh trai cô ta đang ở đâu. Nhưng Gold vẫn kiên trì, và sau nhiều chuyến qua lại, cuối cùng ông ta cũng thấy Fuchs ngồi trong phòng khách nhà Kristel vào một buổi chiều tháng 1. Ông ta chắc hẳn đã thở phào nhẹ nhõm – bảy tháng đã trôi qua kể từ lần cuối cùng họ gặp nhau. Tuy nhiên, sự phấn khích nhanh chóng qua đi. Khi Gold gõ cửa, Kristel mở cửa và nhanh chóng đuổi ông ta đi, nói với ông ta rằng Fuchs không muốn gặp ông ta lúc này. Ông ta nên trở lại sau hai ngày nữa. Gold bối rối và đau đớn bước đi – ông ta đã đi cả chặng đường dài và tốn kém để đến gặp người bạn của mình nhưng lại không thể gặp.

Tuy nhiên, Gold làm theo lời em gái Fuchs và quay trở lại sau hai ngày, thậm chí còn mang thêm kẹo cho hai đứa nhỏ. Lần này Fuchs đã bước ra và cùng đi dạo với Gold. Fuchs xin lỗi vì đã đuổi Gold đi; vì lúc đó chồng của Kristel đang ở nhà và Fuchs sợ bị nghi ngờ. Sau đó, cả hai quay trở lại nhà Kristel để ăn trưa, tại đây Fuchs quay lại thái độ cũ, khiển trách Gold về việc gây nguy hiểm cho Kristel khi xuất hiện ở nhà cô ta thường xuyên và họ sẽ phải hẹn gặp ở Santa Fe kể từ đó.

– Gold kêu lên. Điều đó có nghĩa là các chuyến đi thậm chí còn dài hơn, tốn kém hơn. Không có bất cứ nơi nào khác hay sao? Fuchs nói không – ông ta là người quan trọng nên không thể thường xuyên đi xa. Fuchs sau đó đưa bản đồ Santa Fe và lịch trình xe buýt cho Gold. Gặp nhau ở đây vào ngày 2 tháng 6, ông ta nói.

Ngay trước khi họ chia tay, Fuchs đã đưa cho Gold một phong bì được niêm phong mà ông ta nói là “cực kỳ quan trọng”. Ông ta không hề đùa: bên trong là những bản phác thảo ban đầu cho một quả bom plutonium. Về phần mình, Gold đã trao cho Fuchs một “món quà Giáng sinh” từ Liên Xô. Đó là một chiếc ví mỏng kèm một chiếc phong bì bên trong đựng những những tờ 5, 10 và 20 đô la – tổng cộng 1.500 đô la (tương đương 20.000 đô la ngày nay). Món quà khiến Fuchs ghê tởm. Như Gold nhớ lại, “Fuchs đã cầm chiếc phong bì chứa 1.500 đô la như thể đó là một thứ ô uế.” Tôi không làm gián điệp vì tiền, ông ta phỉ nhổ. Cử chỉ này khiến Gold thích thú: giống bản thân ông ta, Fuchs không có động cơ vật chất. Ông ta đã thuyết phục Fuchs nhận chiếc ví nhưng trả lại số tiền cho Liên Xô.

Không lâu trước chuyến đi đến New Mexico, Gold đã gặp vị sếp người Liên Xô của mình, “John”, tại một quán bar. Để tránh bị theo dõi, John lệnh cho Gold thực hiện một hành trình vòng vèo đến Tây Nam bằng xe lửa và xe buýt, với các điểm dừng ở California, Denver và El Paso. Tuy nhiên, lần đầu tiên, Gold đã đứng lên bảo vệ ý kiến của mình. Ông ta đã vay 500 đô la tại Penn Sugar để phục vụ chuyến đi và không thể có thêm thời gian nghỉ ngơi. Ông ta muốn đến thẳng chỗ hẹn.

– hơn Tuy nhiên, nếu thắng trong cuộc tranh cãi đó, thì Gold lại sớm thua lần thứ hai – lần quan trọng trong vào ngày hôm đó. Sau khi trao đổi xong chi tiết cuộc gặp với Fuchs, John nói với Gold một điều đáng ngạc nhiên: Liên Xô có một điệp viên thứ hai ở Los Alamos, một thợ máy. Điệp viên này sẽ xuất hiện ở Albuquerque khi Gold đến thăm, vì vậy ông ta sẽ phải thực hiện một chuyến đi phụ đến đó để lấy thêm giấy tờ.

Trong bất kỳ công việc bình thường nào, đây sẽ là một yêu cầu hợp lý. Trong hoạt động gián điệp, đó là một điều tối kỵ, một rủi ro bảo mật rất lớn. Gold biết điều này và, ra vẻ ta đây quan trọng, ông ta quyết định đứng lên một lần nữa: “Với vẻ mặt bừng bừng tức giận, tôi đã đứng phắt dậy và gần như thẳng thừng từ chối”, ông ta nhớ lại.

Lần này, John đã chặn lời ông ta. “Tôi đã hướng dẫn những kẻ ngu ngốc như anh từng bước một!” Ông ta gầm gừ. “Các anh hẳn đã không nhận ra nhiệm vụ này quan trọng như thế nào đối với Albuquerque.”

Khi tràng chửi rủa tiếp tục, Gold đã lùi bước và tỏ ra quy phục như thường lệ. Cuối cùng, John đưa cho ông ta một mẩu giấy ghi địa chỉ ở Albuquerque và một cái tên, Greenglass. Sau đó, ông ta đưa thêm nửa trên của chiếc hộp Jell-O, đã được cắt thành hình lưỡi cưa. Anh sẽ biết đó là Greenglass, ông ta nói, vì anh ta sẽ có nửa còn lại của thứ này.

Xe đưa Gold đến Santa Fe vào thứ Bảy, ngày 2 tháng 6, lúc 2 giờ 30 phút chiều. Với 90 phút rảnh rỗi, ông ta lấy một tấm bản đồ từ một bảo tàng địa phương và lang thang dọc theo con sông gần đó. Con sông trông thật thảm hại, ông ta nghĩ, nó còn nhỏ hơn hầu hết những con lạch ở quê nhà của ông ta.

Fuchs lái chiếc Buick màu xanh lấp lánh của mình đến muộn. Họ lái xe đến một con đường vắng và đi dạo bộ một đoạn ngắn cùng nhau. Fuchs thảo luận về quả bom plutonium, nhưng ông ta quả quyết với Gold rằng, chiến tranh sẽ kết thúc trước khi quả bom được hoàn thiện để sử dụng chống lại quân Nhật. Đó là một nhận định sai lầm. Sau đó, ông ta đưa cho Gold một gói đồ và họ chia tay. Nói chung, đó là một cuộc gặp tốt đẹp.

Cuộc gặp thứ hai được cho là rất khác biệt. Gold bắt xe buýt đến Albuquerque vào khoảng 8 giờ tối, và đi thẳng đến địa chỉ trên tờ giấy, 209 High Street. Ông ta cảm thấy lo lắng khi cầm tài liệu từ Fuchs và muốn rời khỏi thị trấn này càng sớm càng tốt. Nhưng David Greenglass không ở nhà; vợ chồng ông ta đã đi xem phim.

Chán nản, Gold lên đường đi tìm khách sạn nghỉ ngơi nhưng đến đâu cũng bị từ chối. Albuquerque được bao quanh bởi các căn cứ quân sự và không bao giờ có chỗ trống vào các ngày thứ Bảy. Cuối cùng, ông ta được một viên cảnh sát chỉ đường đến một nhà trọ, nơi ông ta xin được ngủ lại trên một chiếc giường nhỏ xập xệ ở hành lang. Tiếng xe cảnh sát hú còi liên tục khiến ông ta gần như thức trắng đêm.

Sáng hôm sau, Gold lê bước lên các bậc thềm căn nhà số 209 High Street và gõ cửa. Khi cánh cửa mở ra, ông ta gần như ngã ngửa vì sốc. Người đàn ông mở cửa mặc chiếc quần quân đội. Gold không hề biết quân đội Mỹ đã bị lôi kéo vào việc này.

Tự trấn an bản thân, Gold hỏi ông ta có phải là Greenglass không. Greenglass gật đầu. Sau đó Gold nói mật mã, “Julius bảo tôi đến.”

“Ồ,” Greenglass nói và lấy nửa chiếc hộp Jell-O từ trong ví của vợ mình ra còn Gold chìa ra nửa của mình, và các mảnh khớp với nhau. Nóng lòng muốn rời đi, Gold hỏi Greenglass xem ông ta có sẵn tài liệu chưa. Greenglass nói chưa, rằng ông ta chưa chuẩn bị được. Gold hãy trở lại vào chiều hôm đó.

Với vẻ mặt cáu kỉnh, Gold đi tìm ít đồ ăn sáng và chờ đợi. Khi quay trở lại, ông ta và Greenglass đi dạo dưới ánh nắng chói chang và thực hiện nhiệm vụ trao đổi. Gói đồ này bao gồm các sơ đồ thấu kính có khả năng cháy nổ cao, một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bom plutonium. Sau đó, Gold trao cho Greenglass 500 đô la – tương đương với 16 tháng tiền thuê căn hộ, một tài sản nhỏ đối với một thợ máy. Giống như Fuchs, Greenglass tỏ ra khó chịu trước lời đề nghị – nhưng vì một lý do ngược lại. Anh không thể trả cao hơn sao? ông ta hỏi. Gold, cảm thấy thật kinh tởm, lẩm bẩm rằng ông ta sẽ chuyển yêu cầu này lên cấp trên.

Gold bắt một chuyến tàu rời khỏi thành phố vào buổi tối hôm đó, và dành hai ngày tiếp theo để đi về phía đông, vui mừng vì đã xong việc. Nhưng chuyến đi phụ của ông ấy đến Albuquerque có vẻ khá tốn kém. Chuyện xảy ra sau đó liên quan đến chị gái David Greenglass ở New York tên là Ethel, người này kết hôn với một người đàn ông tên là Julius Rosenberg.

Gold và Fuchs chỉ là hai trong rất nhiều nhà khoa học để chính trị ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp. Người thực sự “phạm tội” lớn nhất về vấn đề này chính là nhà sinh vật học Trofim Lysenko.

Tái tạo tín hiệu nhận dạng nửa trên hộp Jell-O được Harry Gold và David Greenglass sử dụng. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Mỹ.)

Lysenko sinh ra trong một gia đình nông dân ở một vùng đất thuộc Ukraine ngày nay vào năm 1898, và không biết chữ cho đến năm 13 tuổi. Sau Cách mạng Nga, ông ta trúng tuyển vào một số trường nông nghiệp, nơi ông ta bắt đầu mày mò các phương pháp trồng đậu mới trong suốt mùa đông dài khắc nghiệt của Liên Xô. Dù các thí nghiệm của ông ta được xây dựng kém hiệu quả (và có thể ông ta cũng đã làm giả kết quả của mình), nhưng ý tưởng của ông ta đã giúp bản thân nhận được nhiều lời khen từ một tờ báo nhà nước vào năm 1927. Với xuất thân nghèo khó – mọi người gọi ông ta là “nhà khoa học chân đất”. Các nhà lãnh đạo sau đó đã để ông ta phụ trách lĩnh vực nông nghiệp của Liên Xô vào giữa những năm 1930, nâng ông ta lên vị trí hàng đầu trong hệ thống thứ bậc khoa học của Liên Xô.

Vấn đề duy nhất là Lysenko có những ý tưởng khoa học sai lầm. Cụ thể, ông ta bài xích di truyền học. Di truyền học trong thời đại đó nhấn mạnh vào những đặc điểm cố định: thực vật và động vật có những đặc điểm ổn định, được mã hóa dưới dạng gen mà chúng truyền lại cho thế hệ sau đó. Dù là một nhà sinh vật học trên danh nghĩa, nhưng Lysenko lên án những ý tưởng như vậy là phản động – một phần vì kẻ thù lớn nhất của Liên Xô, Đức Quốc xã, đã ủng hộ một dạng di truyền biến thái khi quảng bá về một chủng tộc đứng đầu. Nhưng khi chiến đấu với những kẻ cuồng tín cánh hữu, Lysenko cũng phản khoa học như Đức Quốc xã. Trên thực tế, ông ta đi xa đến mức phủ nhận sự tồn tại của gen. Thay vào đó, ông ta đề cao ý tưởng cho rằng mỗi trường có tác dụng định hình thực vật và động vật. Ông ta tuyên bố rằng, hãy đặt các sinh vật vào môi trường thích hợp và cho chúng tiếp xúc với các kích thích phù hợp, bạn có thể tái tạo chúng ở một mức độ gần như vô hạn. Môi trường là yếu tố bản chất.

Để đạt được mục tiêu này, Lysenko bắt đầu các chương trình “chỉ dạy” các loại cây trồng của Liên Xô nảy mầm vào các thời điểm khác nhau trong năm bằng cách ngâm chúng trong nước đóng băng, bên cạnh một số thủ thuật khác. Ông ta cũng tuyên bố rằng các thế hệ cây trồng trong tương lai sẽ ghi nhớ những dấu hiệu môi trường này và ngay cả khi không được chăm sóc, chúng sẽ thừa hưởng những đặc điểm có lợi. Về mặt khoa học, điều này hoàn toàn vô lý – giống như việc cắt đuôi một con mèo và hy vọng nó sẽ sinh ra những chú mèo con cụt đuôi. Những thủ thuật này cũng không mang lại kết quả trên mọi loại cây trồng. Không nản lòng, Lysenko sớm khoe kế hoạch trồng chanh ở Siberia. Quan trọng hơn, ông ta hứa sẽ đẩy mạnh sản xuất cây trồng trên khắp cả nước và biến vùng khô cằn của Nga thành những trang trại rộng lớn.

Đó là những tuyên bố mà các nhà lãnh đạo Liên Xô muốn nghe. Vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, Joseph Stalin đã đưa ra một kế hoạch đầy căng thẳng nhằm hiện đại hóa” nền nông nghiệp Liên Xô, buộc hàng triệu người phải tham gia vào các trang trại tập thể do nhà nước quản lý. Mất mùa và đói kém trên diện rộng đã xảy ra. Tuy nhiên, Stalin từ chối thay đổi hướng đi, và một phần trông chờ vào những ý tưởng mới cấp tiến của Lysenko để khắc phục thảm họa. Ví dụ, Lysenko buộc nông dân phải gieo hạt giống gần nhau một cách kỳ cục, vì theo “quy luật về sự sống của các loài” của ông ta, các cây thuộc cùng một “lớp” không bao giờ cạnh tranh với nhau. Ông ta cũng cấm sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu nông nghiệp.

Số người chết vì nạn đói lên đến đỉnh điểm vào khoảng năm 1932-1933, nhưng 4 năm sau, sau khi diện tích đất canh tác theo phương pháp của Lysenko tăng gấp 163 lần, sản lượng lương thực còn thấp hơn trước. Lúa mì, lúa mạch đen, khoai tây, củ cải đường – hầu hết mọi thứ được trồng theo phương pháp của ông ta đều chết sạch.

Các đồng minh của Liên Xô cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Lysenko. Trung Quốc cũng áp dụng các phương pháp của ông ta vào cuối những năm 1950 và phải trải qua nạn đói thậm chí còn tồi tệ hơn. Ít nhất 30 triệu người đã chết vì nạn đói.

Với sự ủng hộ của Stalin, những thất bại của Lysenko không thể làm lu mờ vị trí ngôi sao của ông ta tại Liên Xô. Chân dung của ông ta được treo trong các viện khoa học, và mỗi khi ông ta phát biểu, tiếng kèn đồng gióng lên, sau đó một dàn hợp xướng ca vang bài ca vinh danh ông ta.

Bên ngoài Liên Xô, mọi người hát một giai điệu khác – giai điệu chỉ trích gay gắt. Một nhà sinh vật học người Anh đã than thở rằng, Lysenko “hoàn toàn không biết gì về các nguyên tắc cơ bản của di truyền học và sinh lý học thực vật... Nói chuyện với Lysenko giống như đang cố giải thích phép tính vi phân cho một người không biết bảng cửu chương”. Về phần mình, Lysenko lại tố cáo các nhà khoa học phương Tây là đế quốc tư sản. Ông ta đặc biệt phản đối phương pháp nghiên cứu ruồi giấm tại Mỹ, một phương pháp chính yếu của ngành di truyền học hiện đại. Ông ta gọi những nhà di truyền học đó là “những kẻ yêu loài ruồi và ghét loài người”, thiếu hiểu biết đến mức không thể thấy nghiên cứu cơ bản hầu như luôn đi trước những đột phá thực tế.

Không thể làm gì để ngăn chặn những lời chỉ trích từ bên ngoài, Lysenko cố gắng loại bỏ tất cả những bất đồng trong Liên Xô. Ông ta buộc các nhà khoa học Nga phải từ bỏ di truyền học, và những người từ chối chắc chắn sẽ bị cảnh sát mật thủ tiêu. Những người may mắn có thể bị sa thải khỏi chức vụ đang nắm giữ và sống đời nghèo túng từ đó về sau. Hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn người khác đã bị vây bắt và bị tống tù hoặc đưa vào viện tâm thần. Một số bị kết án tử hình vì là kẻ thù của đất nước và bị bỏ đói trong phòng giam của họ. Trước những năm 1930, Liên Xô được cho là cộng đồng di truyền học tài năng nhất trên thế giới. Lysenko đã phá hủy điều đó.

Quyền lực của Lysenko bắt đầu suy yếu sau khi Stalin qua đời năm 1953. Đến năm 1964, ông ta bị phế truất khỏi vị trí độc tài của nền sinh học Liên Xô và qua đời vào năm 1976. Bức chân dung của ông ta tiếp tục được treo trong một số viện trong suốt những năm Gorbachev cầm quyền, nhưng đến những năm 1990, người dân Nga cuối cùng đã có thể xóa bỏ nỗi kinh hoàng và xấu hổ của họ về chủ nghĩa Lysenko.

Trước công lao đạt được, những người cùng thời với Lysenko là Harry Gold và Klaus Fuchs cuối cùng cũng tỉnh táo và nhận ra những quái vật đội lốt nhà khoa học là mối đe dọa không chỉ đối với khoa học mà còn với cả nhân loại. Tuy nhiên, nhận thức về thực tại đó đã xuất hiện muộn màng. Như Fuchs từng nói, “Một số người trưởng thành ở tuổi 15, một số người phải chờ đến tận tuổi 38. Mọi thứ sẽ đau đớn hơn nhiều khi ở tuổi 38”. Trong khi đó, Fuchs và Gold tiếp tục đánh cắp Dự án Manhattan, và làm mọi cách để giao cho Joseph Stalin một quả bom nguyên tử.

Fuchs và Gold lại gặp nhau ở Santa Fe vào tháng 9 năm 1945, trong cuộc gặp được mô tả ở đầu chương. Thế chiến II đã kết thúc nhưng Chiến tranh Lạnh lại bắt đầu.

Trước sự ngạc nhiên của Gold, Fuchs tiết lộ vào đêm đó rằng ông ta và các nhà khoa học người Anh khác tại Los Alamos sẽ sớm trở lại Anh. (Fuchs bào chữa cho việc đến Santa Fe thực tế là để lấy rượu cho một bữa tiệc đi chơi xa dành cho người Anh; do đó, tiếng kêu lạch cạch trong chiếc Buick chính là: Một cái hòm đầy chai.) Theo lời kể của Gold, họ đã nói qua về việc ông ta sẽ đến thăm Fuchs ở Anh vào một ngày nào đó, vì ông ta ngưỡng mộ Wordsworth và Shakespeare và muốn đến thăm quê hương của họ. Fuchs đồng ý rằng tất cả những người này đều vĩ đại. Sau đó ông ta đưa cho Gold một gói dữ liệu về các vụ ném bom ở Hiroshima và Nagasaki.

Đây cũng là chuyến đi mà Gold đã mất liên lạc ở New York, và phải mang theo giấy tờ đi khắp nơi trong suốt hai tuần sau đó. Hai tuần ấy cũng làm ông ta kiệt sức, tốn kém thêm chi phí và thêm phần căng thẳng với các chuyến đi đến New Mexico. Ông ta cho rằng bản thân đã hết “duyên” với hoạt động gián điệp.

Tuy nhiên, hoạt động gián điệp không ngừng đeo bám ông ta. Năm 1946, Penn Sugar lại sa thải Gold lần nữa. Ông ta nộp đơn xin KGB tài trợ mở một phòng thí nghiệm khuếch tán nhiệt, và khi bị cơ quan này từ chối, Gold chuyển đến New York để tìm kiếm công việc với một nhà hóa học cộng sự – đồng thời là điệp viên – có tên là Abe Brothman. Đó là một sai lầm lớn. FBI đã để mắt đến Brothman và các sếp của Gold yêu cầu ông ta tránh xa người đàn ông này. Nhưng Gold hoặc quên lời cảnh báo của họ hoặc phớt lờ nó và chấp nhận một công việc. (Khi John phát hiện ra Gold đang làm việc cho Brothman, ông ta đã hét vào mặt Gold ngay nơi công cộng, “Đồ ngốc! Anh đã phá tan 11 năm chuẩn bị rồi!”) Chắc chắn rồi, Brothman sớm phải đối mặt với FBI và khiến Gold liên lụy vào tội gián điệp. Hai người được triệu tập để làm chứng trước bồi thẩm đoàn vào tháng 7 năm 1947.

Brothman tỏ ra mệt mỏi với những yêu cầu của Liên Xô giống như Gold, và ông ta bắt đầu đe dọa trong các cuộc nói chuyện riêng tư rằng sẽ thú nhận vai trò của mình trong bộ máy gián điệp của Liên Xô, đồng thời kéo những người liên quan khác xuống mồ cùng mình. Nhưng ông ta đã bình tĩnh lại khi ngồi ở vị trí nhân chứng và phủ nhận mọi thứ. Chín ngày sau, đến lượt Gold làm chứng. Đêm trước, Gold ghé qua căn hộ của Brothman, và họ lái xe đi một vòng. Gold muốn thảo luận về lời khai của ông ta, để đảm bảo nó không mâu thuẫn với lời khai Brothman, nhưng mỗi khi ông ta gợi ra chủ đề này, Brothman lại bắt đầu ngợi ca cái chết của chủ nghĩa tư bản. Cuối cùng thì Gold cũng bỏ cuộc, cả hai dừng lại và cùng ăn dưa hấu lúc 4 giờ sáng.

Gold không cần phải lo lắng: ông ta đã khéo léo dẫn dắt lời khai theo hướng có lợi cho mình như Brothman. Đứng trước tòa, ông ta tự nhận mình là một nhà hóa học vụng về, lơ đãng, một người quá ngây thơ thậm chí không biết chính trị là gì. Dù không tin cả hai người đàn ông này, nhưng FBI không thể chọc thủng bất kỳ lỗ hổng thực sự nào trong câu chuyện của họ và cả hai đều được thả tự do.

Tuy nhiên, nhờ có Brothman, FBI đã có hồ sơ về Gold. Tệ hơn nữa, các đặc vụ ở Anh đang để mắt tới một điệp viên có nhiều tài liệu buộc tội ông ta hơn nhiều – không ai khác chính là Klaus Fuchs.

Brothman trả tiền cho Gold một cách thất thường, một chuyện hiếm khi xảy ra. (“Khi không có tiền, tôi là một đối tác”, Gold nói về thời gian của ông ta ở đó. “Khi có tiền, tôi là một nhân viên.”) Gold cũng rất nhớ gia đình mình trong thời gian ở New York, đặc biệt là sau khi mẹ ông ta qua đời vì xuất huyết não vào tháng 9 năm 1947. Vì vậy, vào giữa năm 1948, Gold rời công ty của Brothman, chuyển về nhà và nhận một công việc tại Khoa tim mạch thuộc Bệnh viện Đa khoa Philadelphia. Ông ta không chỉ làm tốt công việc nghiên cứu hóa học chất rắn – nghiên cứu nồng độ chất điện giải trong máu và cách kali ảnh hưởng đến chức năng cơ – mà còn giúp cứu sống mọi người. Ông ta thậm chí còn gặp được tình yêu của đời mình tại bệnh viện, một nhà hóa sinh tên là Mary Lanning. “Tôi chưa bao giờ hạnh phúc hơn thế”, ông ta nói.

Trong một năm rưỡi tiếp theo, Gold cầu hôn Lanning hai lần. Cô từ chối cả hai – nhưng không phải vì cô không yêu ông ta. Đúng hơn, cô cảm thấy ông ta đang giấu giếm điều gì đó về quá khứ của mình, một bí mật lớn lao. Ví dụ, khi vô tình đề cập đến việc từng đến Santa Fe một lần trước đó, ông ta che giấu dấu vết của mình bằng cách nói rằng Penn Sugar đã cử ông ta xuống đó để kiểm tra một nhà máy Coca-Cola – một lý do hết sức vô lý. Lanning biết ông ta đang cố che giấu điều gì đó, nhưng Gold cương quyết giữ bí mật để cô bớt suy nghĩ về mình. Cuối cùng thì mối quan hệ của hai người cũng đổ vỡ vì ông ta sợ nếu họ cưới nhau, ông ta sẽ hủy hoại cuộc đời cô khi danh tính của bản thân bị bại lộ.

Ông ta đã lo lắng có cơ sở. Vào tháng 9 năm 1949, bốn năm sau cuộc gặp cuối cùng với Fuchs, vào một đêm thứ Bảy nọ, Gold mở cửa nhà riêng và thấy một người đàn ông với chất giọng nặng trịch đang đứng đó. Không biết người kia là ai, Gold định đóng cửa lại nhưng trước khi ông ta có thể làm thế, đối phương – một điệp viên Liên Xô – đã đọc một cụm mật mã, khiến Gold phải dừng tay. Ông ta từng nghe đồn về việc các điệp viên bất hợp tác sẽ bị theo dõi và bị sát hại, và dù muốn hạ gục người đàn ông này ngay lập tức, nhưng ông ta cảm thấy ông ta và gia đình mình sẽ được an toàn nhất khi ông ta vờ như thân mật. Sau vài lời trao đổi trong nhà bếp, Gold đồng ý đến gặp một điệp viên ở New York hai tuần sau đó.

Họ đã gặp nhau giữa một trận mưa như trút. Trước sự ngỡ ngàng của Gold, điệp viên nọ yêu cầu chuyển Gold sang Đông Âu. Người đàn ông từ chối giải thích lý do về quyết định này.

Mọi thứ trở nên rõ ràng trong vài tháng sau đó. Ngày 2 tháng 2 năm 1950, Klaus Fuchs bị bắt tại Anh và đã tự thú. Mỹ vẫn quay cuồng với thông tin Liên Xô đã cho nổ một quả bom hạt nhân vào tháng 8 trước đó, và vụ bắt giữ một điệp viên nguyên tử đã gây xôn xao trên toàn thế giới. Bảy ngày sau, trong một bài phát biểu ở Wheeling, Tây Virginia, Thượng nghị sĩ bang Wisconsin, Joseph McCarthy, đã đưa ra một mảnh giấy, mà theo ông, là danh sách 205 cộng sản đã xâm nhập Bộ Ngoại giao. Vụ bắt giữ Fuchs cũng thuyết phục Harry Truman – người trước đó từng công bố kế hoạch chỉ nghiên cứu tính khả thi của một quả bom nhiệt hạch – cam kết thực hiện quy trình chế tạo một quả bom.

Một phần lời khai của Fuchs đã khiến công chúng đặc biệt lo lắng: rằng ông ta biết một người liên lạc người Mỹ tên “Raymond”. Thành thật mà nói, Liên Xô có lẽ nên thanh loại Gold vào thời điểm này, nhưng vì một số lý do mà họ đã do dự. Trên thực tế, Gold gần như đã làm mọi việc cho họ. Sau khi Fuchs thú tội, Gold hoảng sợ và tính đến chuyện tự sát bằng thuốc ngủ. Tom Black, người bạn cũ của ông ta, người đầu tiên dắt mối ông ta đến với hoạt động gián điệp, đã phải ngăn cản ông ta thực hiện ý định đó.

Trong khi đó, FBI bắt đầu triển khai “nhiệm vụ ráo riết tìm kiếm quái vật” để truy lùng Raymond. Cơ quan này điều tra 1.500 nghi phạm, với hàng chục đặc vụ làm việc toàn thời gian và hơn 60 người làm việc bán thời gian cho vụ án. Dựa trên chuyên môn của Raymond về hóa học, họ yêu cầu thông tin về 75.000 giấy phép vật liệu dễ cháy được cấp ở New York vào năm 1945. Họ thậm chí còn cử các đặc vụ đến các trạm xe buýt trên khắp New Mexico để hỏi xem có ai còn nhớ một người đàn ông khàn khàn cầm một chiếc phong bì năm năm trước đó hay không.

FBI cuối cùng đã gặp may khi các đặc vụ đột nhập (bất hợp pháp) vào phòng thí nghiệm của Abe Brothman ở New York và tìm thấy một số giấy tờ mà Gold đã viết về sự khuếch tán nhiệt. Điều này khiến họ phấn khích vì Fuchs đã nghiên cứu về sự khuếch tán khí cho Dự án Manhattan. Trên thực tế, hai quy trình này có rất ít điểm chung, nhưng không ai ở FBI nắm được điều đó. (Đôi khi may hơn khôn.) Họ đã mở lại hồ sơ vụ án cũ của Gold và sử dụng thông tin này cùng các manh mối khác để liên kết ông ta với Raymond.

Vào ngày 15 tháng 5, hai đặc vụ ở Philadelphia đã tìm đến phòng thí nghiệm của Gold vào khoảng 5 giờ chiều, và ông ta đồng ý đi cùng họ vào trung tâm thành phố để trả lời một số câu hỏi. Họ giữ ông ta ở đó cho đến 11 giờ. Gold không hé răng tiết lộ thông tin, tuy nhiên sau đó ông ta quay trở lại phòng thí nghiệm để hoàn thành các thí nghiệm của mình – nhưng thực chất là để trấn an bản thân.

Cảm thấy không còn lựa chọn nào khác, Gold phải chấp nhận chịu thêm nhiều giờ thẩm vấn vào cuối tuần đó. Khi các đặc vụ hỏi ông ta có đến New Mexico trong thời kỳ chiến tranh không, ông ta phủ nhận việc từng ở phía tây Mississippi. Khi họ đặt một bức ảnh của Fuchs trước mặt ông ta, ông ta gật đầu và nói, “Đó là điệp viên người Anh”. Nhưng ông ta khẳng định biết Fuchs qua báo chí. Sau nhiều áp lực hơn nữa, cuối cùng ông ta đồng ý “giải quyết vấn để” bằng cách để FBI khám xét nhà mình – nhưng phải đến thứ Hai, khi anh trai và cha ông ta vắng nhà. Các đặc vụ không hài lòng với điều này bởi như thế Gold thời gian để loại bỏ tất cả bằng chứng buộc tội. Tuy nhiên, do không có lệnh khám xét của tòa án nên họ đồng ý trì hoãn.

Tuy nhiên, thật đáng kinh ngạc khi Gold không xóa bất cứ dấu vết nào ngay. Thay vào đó, ông ta đến thẳng phòng thí nghiệm. Ông ta đang thực hiện một số thử nghiệm phát hiện kali trong cơ thể, và không chấp nhận việc bỏ dở quá trình nghiên cứu này. Sau đó, ông ta dùng bữa tối cuối cùng với anh trai và cha mình vào tối Chủ nhật – “để cứu vãn thêm vài giờ quý giá” của cuộc đời bình thường, như ông ta nói.

Đến 5 giờ sáng thứ Hai, cuộc loại bỏ dấu vết mới bắt đầu. Lục tung căn phòng, Gold tìm thấy những tấm vé tàu cũ, thư từ các điệp viên Liên Xô, báo cáo các cuộc phỏng vấn... Ông ta cố xả một số thứ xuống bồn cầu, và chôn những thứ khác vào thùng rác trong hầm.

Đến khoảng 8 giờ sáng thì ông ta xong việc và cũng là lúc hai nhân viên FBI gõ cửa. Trong bộ đồ ngủ, Gold dẫn họ lên phòng mình, chứng kiến họ lục tung các ngăn kéo và lỗi mọi thứ có thể ra khỏi kệ. Có những ghi chú cũ từ thời học sinh, sách phòng thí nghiệm, văn bản hóa học và vật lý. Ông ta cũng có nhiều tập thơ và vài bí mật nghề nghiệp. Gold co rúm người khi phát hiện cuốn tiểu thuyết của Thomas Mann vẫn được đặt ở đó, cuốn tiểu thuyết mà ông ta đã sử dụng khi cố truy tìm Fuchs. Tuy nhiên, là “vận động viên có kỷ luật”, Gold vẫn giữ bình tĩnh và trò chuyện với họ trong khi họ làm việc.

Khoảng 10 giờ sáng, một đặc vụ lấy xuống một cuốn sách yêu thích của Gold – một bản sao được đánh giá cao có tên Principles of Chemical Engineering (tạm dịch: Nguyên tắc kỹ thuật hóa học). Chắc hẳn nó đã mang lại nụ cười trên khuôn mặt ông ta. Nhưng trong số tất cả những cuốn sách ông ta sở hữu, cuốn này đã phản bội ông ta. Người mật vụ mở cuốn sách để lộ một bản đồ đường phố màu nâu nhạt với tiêu đề “New Mexico, Land of Enchantment” (New Mexico: Vùng đất của sự say mê). Gold đã lấy nó tại bảo tàng trước cuộc gặp của ông ta với Fuchs.

Người mật vụ giơ tấm bản đồ lên và hướng sang Gold. “Vậy là, anh chưa bao giờ đến phía tây Mississippi...”

Gold gần chết lặng và ngồi thụp xuống ghế. Ông ta xin một phút để suy nghĩ, sau đó hút một điếu thuốc, điều mà bình thường ông ta rất ghét. Kể cả lúc này, Gold có lẽ vẫn được an toàn. FBI không có bằng chứng chắc chắn nào liên kết ông ta với Fuchs. Ông ta thậm chí còn nghĩ ngay ra một lý do lấp liếm: một diễn viên hài ưa thích của ông ta thường lấy bối cảnh những câu chuyện ở Santa Fe và ông ta có thể khẳng định mình đã đặt mua bản đồ làm tài liệu tham khảo. Nhưng sau một thập kỷ rưỡi hoạt động gián điệp, ông ta đã quá mệt mỏi – mệt mỏi vì nói dối, mệt mỏi vì chạy trốn, mệt mỏi vì gánh nặng. Tất cả những gì ông ta có thể nghĩ là làm thế nào để báo tin cho anh trai và cha mình.

Cuối cùng ông ta cũng quay sang các đặc vụ. “Tôi chính là người nhận tin tức từ Fuchs”.

Sau khi bị bắt, Gold thề rằng sẽ không bao giờ phản bội bất kỳ điệp viên đồng minh nào của mình. Mình sẽ chấp nhận hình phạt của mình như một người đàn ông và giữ im lặng, ông ta nghĩ. Sau đó anh trai ông ta đến thăm ông ta tại nơi tạm giam. “Sao em lại ngu ngốc như vậy?” người anh chất vấn. Vào lúc đó, Gold nhớ lại, “Một nửa tốt đẹp của hàng rào tinh thần to lớn mà tôi đã dựng lên để chống lại những tiếng kêu la đã sụp đổ hoàn toàn.”

Bị còng tay và bị tháp tùng bởi hai viên cảnh sát Mỹ, nhà hóa học và điệp viên nguyên tử Harry Gold (giữa) đã rời tòa án liên bang tại New York để vào tù vài tháng sau khi bị bắt. (Được sự cho phép của Thư viện Quốc hội.)

Đau khổ hơn, cha của Gold đến thăm ông ta sau đó. Samson luôn tự hào về Harry – cậu con trai thông minh của mình, một nhà hóa học, người đã đưa gia đình họ vượt qua cuộc Suy thoái. Giờ đây, ông ấy đang khóc, trông yếu ớt và hoang mang. “Điều này sẽ không ảnh hưởng đến công việc của con tại Khoa tim mạch đúng không?” ông ấy hỏi.

Câu hỏi làm tan nát trái tim Gold. “Đã quá trễ rồi.”

Gold sớm nhận tội và tiết lộ mọi thông tin mà ông ta biết. Ông ta cũng viết một tài liệu dài 123 trang giải thích chi tiết về công việc gián điệp của mình, sau đó trả lời các câu hỏi bổ sung suốt nhiều giờ. Một đặc vụ đã so sánh việc phỏng vấn Gold với việc “vắt chanh – luôn có một hoặc hai giọt còn lại”. Cuối cùng, sau khi đã trút bỏ được gánh nặng của bản thân, lần đầu tiên sau nhiều năm ông ta cảm thấy bình yên. Sức khỏe của ông ta cũng dần hồi phục và nhanh chóng giảm được hàng chục cân[*].

FBI tìm ra 49 trường hợp gián điệp dựa trên lời khai của Gold. Nhưng lịch sử chỉ ghi nhớ một người trong tất cả những người đó – Rosenberg. Gold không thể nhớ tên anh trai của Ethel Rosenberg, David Greenglass, nhưng lại nhớ tên vợ ông ta, Ruth và con phố có căn hộ của họ ở Albuquerque. Thời gian nghỉ phép của Greenglass cũng trùng với khung thời gian Gold được thông tin về điểm hẹn của họ. Khi bị bắt, Greenglass thú nhận mọi chuyện và khẳng định ông ta bị vợ chồng em gái, Ethel và Julius, đẩy vào hành vi gián điệp.

Cuối cùng, Greenglass là người khiến nhà Rosenberg phải ngồi ghế điện, và báo chí tấn công ông ta vì đã quay lưng lại với em gái mình. Nhưng danh tiếng của Gold cũng bị ảnh hưởng từ cả hai phía của chính trường. Những người cộng sản gọi ông là “kẻ dối trá bệnh hoạn” và “kẻ yếu đuối” cô đơn, kẻ tự huyễn hoặc mình bằng cách bịa ra những câu chuyện viển vông. Trong khi đó, những người chống cộng lên án ông ta là kẻ phản bội tổ quốc. Những người tố cáo này bao gồm các công tố viên tại phiên tòa xét xử Gold, những người đã yêu cầu 25 năm tù bất chấp sự hợp tác phục vụ điều tra của ông ta. Thẩm phán, người thậm chí còn chống cộng gay gắt hơn, đã tuyên án ông ta 30 năm tù giam. (Ngược lại, Klaus Fuchs – kẻ đã thực sự đánh cắp các tài liệu – chỉ phải thụ án 9 năm tù ở Anh, sau đó bị trục xuất sang Đông Đức[*].) Ngay cả những người bạn tù của Gold tại Lewisburg Penitentiary cũng khinh bỉ ông ta. Những tên trộm, những kẻ hiếp dâm, những kẻ giết người cũng được tôn trọng ở Lewisburg. Nhưng khi Gold trở thành con chim mồi tố cáo những người khác, những điệp viên cuối cùng đã phải bước ra vành móng ngựa. Và ông ta may mắn khi mọi thứ không leo thang. Vài năm sau, một bộ ba tù nhân tại Lewisburg đã đánh chết một điệp viên đang bị kết án khác bằng một viên gạch bọc trong một chiếc tất.

Một lần nữa, hóa học được chứng minh là một nơi trú ẩn của Gold. Lewisburg có một chương trình chăm sóc sức khỏe tù nhân bất thường kết hợp chăm sóc y tế cho các tù nhân thông qua nghiên cứu y sinh. Ngày nay, để ngăn chặn những hành vi lạm dụng mà chúng ta đã khám phá trong các chương khác, việc sử dụng tù nhân trong nghiên cứu y tế không được thực hiện. Nhưng thời điểm đó, các quy tắc đạo đức lỏng lẻo hơn, và Gold, một tù nhân, đã chớp lấy cơ hội quay trở lại phòng thí nghiệm. Ông ta nghiên cứu bệnh tiểu đường và bệnh tuyến giáp tại Lewisburg và tình nguyện được tiêm máu có chứa bệnh viêm gan để nghiên cứu một loại vaccine. Với thành tích đỉnh cao của mình, Gold nhận được bằng sáng chế của Mỹ vào năm 1960 khi ở trong tù vì phát minh ra một phương pháp kiểm tra lượng đường trong máu nhanh chóng bằng cách sử dụng một hóa chất có tên là indigo disulfonate.

Trong thời gian rảnh rỗi, Gold làm theo ca ở khu chăm sóc bệnh nhân gần phòng thí nghiệm và giúp các tù nhân hồi phục sức khỏe. Điều này đã giúp ông ta phục hồi được uy tín của bản thân trong mắt họ. Thật vậy, Gold đã chứng tỏ là một tù nhân kiểu mẫu về mặt tổng thể, và vào tháng 4 năm 1966, sau 16 năm thụ án, ông ta được ân xá. Một lần nữa, trường hợp của ông ta lại trở thành tin tức quốc gia. Vào ngày được trả tự do, luật sư của ông ta đến đón ông ta và vô cùng sợ hãi khi nghe thấy những tiếng huyên náo vang dội bên trong như bạo động. Trên thực tế, đó là tiếng cổ vũ của những người bạn tù dành cho Gold. Sau nhiều năm cống hiến quên mình, họ đã mang lại cho ông ta một ân xá to lớn.

Gold đã dành nhiều tháng cuối trong thời gian thụ án để nghiên cứu sách giáo khoa khoa học trong phòng giam của mình mỗi đêm, để bắt kịp các kỹ thuật mới kể từ khi bị bắt. May mắn cho ông ta, ông ta đã tìm được một một giám đốc phòng thí nghiệm, người có niềm tin đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại và thuê ông ta làm việc tại một bệnh viện khác ở Philadelphia. Gold sống cuộc đời bình lặng ở đó, làm công việc liên quan đến huyết học và vi sinh cũng như cố vấn cho các nhà khoa học trẻ, đóng vai một nhân vật người chú tốt bụng. Lần duy nhất sự điềm đạm trong ông ta bị bị đổ vỡ là khi ai đó đề cập đến vụ Rosenberg. Trong một buổi phát sóng tin tức, một bức ảnh của David Greenglass hiện lên trên màn hình. Trước sự ngỡ ngàng của đồng nghiệp, Gold đứng dậy và hét lên yêu cầu họ tắt nó đi.

Cuối cùng, sức khỏe của Gold dần giảm sút do căn bệnh suy tim. (Ông ta bị một khuyết tật bẩm sinh, và khuyết tật này có thể đã trở nên trầm trọng hơn do máu nhiễm virus viêm gan mà ông tự tiêm vào người khi ở trong tù.) Vào tháng 8 năm 1972, ông ta trải qua một cuộc phẫu thuật thay van tim đầy rủi ro và qua đời trên bàn mổ ở tuổi 61. Những đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm của ông ta đã khóc khi biết tin.

Gold từng hy vọng tạo dựng được tên tuổi với tư cách là một nhà khoa học sau khi ra tù: “Một lúc nào đó trong tương lai, tôi sẽ sửa chữa được nhiều lỗi lầm hơn những gì mình đã mắc phải trong quá khứ. Sự bù đắp này sẽ không bao gồm việc tạo ra và cung cấp bằng chứng cho FBI... [mà] là trong lĩnh vực nghiên cứu y học”. Đó là một ảo tưởng khác. Gold vẫn được biết đến rộng rãi về hoạt động gián điệp hơn là hóa học: ông ta chỉ đơn giản là đã tiết lộ quá nhiều bí mật và phản bội quá nhiều người. Nhưng không giống như hầu hết các điệp viên khác, Gold có lý tưởng cao hơn là chính trị. Trong sâu thẳm, trước hết, ông ta là một nhà hóa học – một người bị ám ảnh bởi khoa học đến nỗi mong muốn kết thúc một số thí nghiệm để thanh lọc hồ sơ của mình hơn là tự cứu lấy chính bản thân.

Thật không may, các nhà khoa học khác đã để cho nền chính trị thời Chiến tranh Lạnh phá hủy sự chính trực của họ. Cụ thể, một nhóm các nhà tâm lý học làm việc với CIA và quân đội Mỹ đã nghĩ ra một hệ thống kỹ thuật thẩm vấn lạm dụng, tra tấn hàng chục đối tượng vô tội và dẫn đến một số cái chết không đáng có. Và những kẻ khủng bố khét tiếng nhất trong lịch sử Mỹ có lẽ đã nổi lên từ cuộc chiến này.


Mục lục

12,309 từ

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1