Tâm Trí Tội Phạm
Tâm Trí Tội Phạm - Chương 12
LỪA ĐẢO | NỮ SIÊU NHÂN
Mọi người đều rất phòng thí nghiệm vaccine gần Boston, và không ai ở đó làm việc chăm chỉ hơn cô ta. Cô ta luôn là người đến văn phòng lúc tờ mờ sáng và là người cuối cùng tắt đèn của phòng thí nghiệm mỗi đêm. Cô ta cũng không bao giờ nghỉ trưa và thường mang theo cả giấy tờ công việc khi đi nghỉ. Trên hết, một mặt cô ta đã nhận được bằng sau đại học chuyên ngành hóa học thông qua một chương trình bán thời gian tại Harvard. Như những gì chia sẻ với các đồng nghiệp, cô ta bị buộc thôi học chương trình cử nhân tại Harvard vài năm trước đó vì thiếu tiền và phải học nốt chương trình tại một trường công lập. Do đó, tấm bằng sau đại học tại Harvard mang lại cảm giác vô cùng ngọt ngào – đặc biệt là khi cô ta đã hoàn thành chương trình học trong thời gian kỷ lục, chỉ một năm. Để ăn mừng, phòng thí nghiệm đã tổ chức tiệc mừng cho cô ta với biểu ngữ “Xin chúc mừng, Annie!”
Điều quan trọng nhất ở đây là: tất cả chỉ là lừa bịp. Dookhan chưa bao giờ tham gia một lớp học nào ở Harvard, dù là hệ chính quy hay bất kỳ hệ nào khác. Thậm chí, Harvard cũng không cung cấp chương trình bán thời gian nào liên quan đến hóa học. Dookhan đã dựng lên toàn bộ câu chuyện này, như một mưu đồ để thăng tiến nhanh hơn tại công ty mà cô ta đang làm việc.
Thật không may cho cô ta, canh bạc này đã không thành công và công ty từ chối thăng chức cho cô ta. Quá tức giận, cô ta đã làm giả sơ yếu lý lịch của bản thân (xóa trường Harvard nhưng lại lừa rằng cô ta đã học được một nửa chương trình thạc sĩ ở một trường khác) và bắt đầu tìm kiếm một công việc mới vào năm 2003. Không lâu sau, cô ta nhận được lời đề nghị từ một phòng thí nghiệm của chính phủ ở gần đó, nơi tiến hành công tác kiểm tra các loại ma túy cho các vụ án tại tòa.
Cho đến thời điểm đó, Dookhan, một phụ nữ 25 tuổi, đã nói quá nhiều dối trá. Nhưng cô ta luôn tỏ ra liêm chính ở băng ghế phòng thí nghiệm: không có bằng chứng nào chứng minh cô ta vi phạm hay gian lận gì tại công ty vaccine. Thế nhưng điều đó sắp sửa thay đổi.
Hầu hết mọi người phớt lờ các quy tắc luật lệ thì cũng đều lười biếng, nhưng Annie Dookhan thì không, cô ta luôn làm việc rất chăm chỉ.
Cô ta lớn lên ở Trinidad, nhập cư đến Boston cùng cha mẹ vào cuối những năm 1980, lúc chừng 11 tuổi. Sau đó, cô ta theo học tại trường Boston Latin danh tiếng và tham gia các cuộc thi chạy ở đó; cô ta thậm chí còn cố gắng tham gia môn chạy vượt rào dù chỉ cao chừng mét rưỡi. Cô ta thi đấu rất tệ ở môn thể thao này, nhưng huấn luyện viên vô cùng ngạc nhiên trước sự nhiệt huyết của cô ta.
Cô ta đạt điểm xuất sắc môn khoa học tại Boston Latin, sau đó tuyên bố bản thân đã tốt nghiệp loại xuất sắc tại ngôi trường này dù trường này không cấp bằng đó. Cô ta còn nói với mọi người rằng bố mẹ cô ta đều là bác sĩ. Những lời nói dối vặt này tiếp tục diễn ra ở trường đại học và sau đó là tại công ty vaccine và phòng thí nghiệm y dược của nhà nước, nơi cô ta tự tạo ra những danh hiệu phức tạp cho bản thân, như “giám sát viên thường trực chủ nghĩa khủng bố hóa học và sinh học” hay “đặc vụ hoạt động đặc biệt” của FBI.
Tuy nhiên, dù rất đáng ghét nhưng những lời nói dối của cô ta vẫn chưa làm hại ai tính đến thời điểm đó. Nhưng những lời nói dối nhỏ nhặt đó cứ thế lớn dần theo năm tháng và sớm tích lũy đủ sức mạnh để đẩy mọi chuyện theo chiều hướng đen tối.
Phòng thí nghiệm của Dookhan phân định các loại ma túy mà cảnh sát thu giữ trong các cuộc đột kích. Đôi khi đây là những bánh ma túy nguyên chất; đôi khi chúng là những gói nhỏ được trộn với bột nở hoặc sữa công thức trẻ em và chia thành những gói nhỏ trong túi bóng hoặc giấy thiếc vuông bán rong trên phố. Vì nhiều loại thuốc có đặc điểm bên ngoài giống nhau nên cảnh sát sẽ phải chuyển chúng đến phòng thí nghiệm để Dookhan và các đồng nghiệp của cô ta có thể xác định loại của ma túy thông qua một loạt các cuộc kiểm tra.
Vòng kiểm tra đầu tiên, được gọi là các xét nghiệm giả định, cho các nhà phân tích biết loại ma túy gốc mà họ đang xử lý. Một thử nghiệm liên quan đến việc thêm formaldehyde và axit sulfuric vào một loại bột không xác định. Nếu mẫu chuyển sang màu đỏ tím, đó là thuốc phiện; nếu nó chuyển sang màu cam cháy, đó là một chất amphetamine. Các hóa chất khác có thể làm thuốc chuyển sang màu xanh lục hoặc xanh lam.
Giả sử nhà hóa học có trong tay một loại thuốc phiện. Sau đó, họ sẽ tiến hành xét nghiệm khẳng định thứ hai để thu hẹp kết quả xuống một loại ma túy cụ thể. Xét nghiệm khẳng định bao gồm việc lấy một chút mẫu chưa xác định, hòa tan nó trong chất lỏng và thực hiện qua một số phân tích bên trong thiết bị chuyên dụng. Các mẫu thuốc phiện đã được xác định (ví dụ như morphin, heroin, fentanyl) được phân tích giống nhau trong cùng một lần thực hiện. Sau đó, thiết bị chuyên dụng sẽ tạo ra một số đồ thị – một loại mã vạch cho mỗi mẫu. Bằng cách so sánh mã vạch từ mẫu chưa được xác định với mã vạch từ các mẫu đã được xác định, các nhà hóa học có thể xác định chính xác loại thuốc có liên quan và thông báo cho cảnh sát.
Giống như các phòng thí nghiệm nghiên cứu ma túy trên toàn quốc, phòng thí nghiệm ở Boston ngập tràn các mẫu để kiểm tra. Đến năm 2003, lượt xếp hàng chờ xét nghiệm đã tăng lên vài nghìn mẫu phẩm; căn phòng bảo mật nơi họ lưu trữ các mẫu chưa được kiểm tra cuối cùng đã bị nhồi nhét nhiều đến mức việc đi lại bên trong rất nguy hiểm tính theo tiêu chuẩn an toàn. Nhưng với sự xuất hiện của Dookhan, mọi thứ bắt đầu khởi sắc. Cô ta nhanh chóng tự nhận mình không chỉ là nhà hóa học chăm chỉ nhất (là người đi làm đầu tiên, về nhà cuối cùng) mà còn là người nhanh nhẹn nhất. Trong năm đầu tiên làm việc, cô ta đã xử lý 9.239 mẫu thuốc – cao gấp 3 lần mức kiểm tra trung bình của 9 nhà hóa học khác và tương đương hơn một phần tư số mẫu phẩm của phòng thí nghiệm nói chung. Mọi người ở đó bắt đầu gọi cô ta là nữ siêu nhân, một lời khen ngợi khiến cô ta rất tự hào. Trong các email gửi tới các công tố viên mà cô ta đã làm việc cùng, cô ta khoe khoang về việc mình là người không thể thiếu trong phòng thí nghiệm.
Tuy nhiên, cô ta đã sử dụng lời khen ngợi này như một loại dầu dưỡng xoa dịu cơn đau của bản thân. Năm 2004, cô ta gặp một kỹ sư tại quê hương Trinidad và kết hôn với người đàn ông này. Không lâu sau, cô ta có thai. Nhưng cô ta không giữ được con vào lần mang thai đầu tiên này. (Sau đó cô ta bị sẩy thai thêm một lần nữa.) Mỗi lần mất con đều khiến cô ta suy sụp và gây căng thẳng lớn cho mối quan hệ mà cô ta đang có.
Thay vì dành thời gian nghỉ phép để nghỉ ngơi và tìm cách xử lý vấn đề mình đang gặp phải như sếp của cô ta động viên, Dookhan đã xóa tan nỗi đau bằng cách dành nhiều thời gian hơn ở băng ghế phòng thí nghiệm. “Tôi có sô cô la và công việc”, cô ta nói với sếp của mình, “và đó là cách giải quyết của tôi”. Một năm sau lần sẩy thai đầu tiên, cô ta đã đạt được năng suất làm việc thậm chí còn kinh khủng hơn trước, triển khai phân tích 11.232 mẫu, cao gần gấp đôi nhà hóa học đứng thứ 2 và gấp 4 lần mức trung bình của phòng thí nghiệm. Dookhan sau đó đã hạ sinh một cậu con trai khuyết tật, điều này khiến năng suất của cô ta bị chậm lại phần nào, nhưng cô ta vẫn tiếp tục lấy lòng các nhà hóa học đồng nghiệp của mình năm này qua năm khác. Trong khi hầu hết mọi người kiểm tra hai chục mẫu hơn một lúc thì Dookhan thường lấy 50 hoặc 60 mẫu và có lần lấy tới 119 mẫu.
Nhà phân tích chất gây nghiện Annie Dookhan (Được sự cho phép của tờ Boston Herald).
Tuy nhiên, dần dần, các đồng nghiệp của cô ta bắt đầu nghi ngờ về tốc độ làm việc quá khủng khiếp này. Một số mối nghi ngờ trong số đó hoàn toàn có cơ sở thực tế. Làm thế quái nào mà một người lại có thể làm việc nhanh như vậy? Họ cũng bắt đầu lần ra các manh mối. Một đồng nghiệp từng bắt gặp Dookhan không kiểm chuẩn cân trước khi đo – một bước quan trọng để đảm bảo độ chính xác, vì sự khác biệt giữa 27,99 gam và 28,00 gam ma túy đồng nghĩa với sự chênh lệch vài năm tù. Các đồng nghiệp cũng nhận thấy rằng, dù tất cả các kiểm tra của Dookhan đều được lưu thông tin, song dường như cô ta chưa bao giờ sử dụng kính hiển vi của mình. Trong một mối nghi ngờ khác có liên quan, cô ta dường như không tạo ra số rác thải tương đương mức tiêu chuẩn. Trong một xét nghiệm, được gọi là xét nghiệm tinh thể, các nhà hóa học đã trộn một loại thuốc không xác định với một chất lỏng trên một lam kính. Tinh thể sẽ sớm hình thành. Các loại thuốc khác nhau tạo ra các tinh thể có hình dạng khác nhau mà các nhà hóa học xác định được dưới kính hiển vi. Mỗi xét nghiệm yêu cầu một lam kính sạch để tránh nhiễm bẩn, vì vậy dựa trên số lần xét nghiệm, các nhà hóa học nên vứt bỏ một số lam kính nhất định mỗi tháng. Dookhan thì không. Các đồng nghiệp nhìn vào thùng rác của cô ta và nhận thấy nó không hề có một chút rác nào bên trong.
Các đồng nghiệp của Dookhan đã có những nghi ngờ hoàn toàn đúng đắn. Dù không rõ chính xác thời điểm bắt đầu nhưng cô ta đã thực hiện hành vi gian lận quy mô lớn. Thay vì thực sự thực hiện các xét nghiệm, cô ta phỏng đoán các mẫu thử – nhìn lướt qua và đưa ra phán đoán về loại ma túy cần xét nghiệm.
Cô ta đã giải quyết vấn đề này bằng cách khai thác một lỗ hổng trong quy trình làm việc của phòng thí nghiệm. Vì được thực hiện theo chuỗi hành trình mẫu phẩm (CoC), tất cả các mẫu ma túy đều được kèm theo “phiếu kiểm soát” cho biết thời điểm thu giữ ma túy, cảnh sát giả định đó là ma túy gì... Đây là một quy trình chuẩn của cảnh sát. Vấn đề là, các nhà hóa học như Dookhan có quyền tiếp cận phiếu kiểm soát, do đó có thể biết những dự đoán của cảnh sát về loại ma túy. Cho phép các nhà hóa học xem thông tin này dù vì lý do gì đi nữa thì cũng là một ý tưởng tồi. Những nghi ngờ của cảnh sát chắc chắn sẽ làm các nhà hóa học xuất hiện thiên kiến, thúc đẩy họ đi đến những kết luận nhất định và rời xa các kết quả thực tế có khả năng khác. Tuy nhiên, Dookhan đã khai thác triệt để lỗ hổng này, sử dụng phỏng đoán của cảnh sát như toàn bộ “phân tích” của cô ta. Nếu họ nói đó là heroin, thì đó là heroin. Đỡ tốn công mất sức.
Công bằng mà nói, Dookhan luôn xét nghiệm những mẫu phẩm chưa được xác định, những mẫu phẩm thiếu thông tin thẻ kiểm soát dù có thể phỏng đoán một cách mù quáng. Cô ta cũng đã xét nghiệm khoảng 1/5 số mẫu tiếp nhận chỉ để chắc chắn về phỏng đoán của bản thân. Nhưng mặt khác, cô ta đã bỏ tất cả những quy trình hóa học rối rắm và rườm rà để duy trì thành tích của mình luôn ở mức cao. Tệ hại hơn nữa, sau đó cô ta sẽ ký các xác nhận tuyên bố rằng cô ta đã thực hiện các xét nghiệm và nộp chúng cho cảnh sát. Những tờ giấy xác nhận này được dùng làm bằng chứng trong các phiên tòa xét xử, vì vậy về cơ bản, cô ta đã tự thực hiện hành vi khai man trước tòa án hết lần này đến lần khác.
Trong nhiều vụ án, xác nhận của Dookhan từ phòng thí nghiệm không tạo ra sự khác biệt thực tế nào: Cảnh sát thường biết họ đã thu giữ được loại ma túy nào. Vì vậy, dù việc bỏ qua xét nghiệm vi phạm quyền được xử lý đúng thủ tục của nghi phạm, nhưng kết quả cuối cùng không có gì khác nhau. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Và đây là thời điểm Dookhan đã lạc bước vào con đường thực sự tội lỗi.
Tại phòng thí nghiệm có hai vòng kiểm tra. Thường thì Dookhan sẽ phụ trách vòng đầu tiên và một nhà hóa học khác ở vòng thứ hai, và đôi khi ở vòng thứ hai vòng liên đến máy móc – sẽ mâu thuẫn với nhận định ban đầu của Dookhan. Trong những trường hợp này, họ sẽ phải kiểm tra lại. Nhưng thay vì tuyên bố bản thân đã phạm sai lầm, gây tổn hại đến danh tiếng, Dookhan sẽ lén tìm một mẫu ma túy nguyên chất mà cô ta đã xác định ban đầu và gửi mẫu đó đi kiểm tra lại. Tất nhiên, thiết bị sẽ đưa ra kết quả “chính xác”. Nói cách khác, cô ta bắt đầu làm giả bằng chứng để che giấu hành vi gian lận của chính mình.
Kết quả là những người vô tội đã phải vào tù. Một người đàn ông đã bị bắt khi mang theo inositol, một loại bột màu trắng được bán như một chất bổ sung năng lượng. Dookhan đã ghim ông ta vào tội mang theo cocaine. Trong một trường hợp khác, một tên nghiện ma túy đã cố gắng thực hiện một trò lừa đảo khá ngớ ngẩn và bán một mảnh hạt điều cho đồng bọn, nhưng kết quả xét nghiệm tuyên bố đó là ma túy đá. Kẻ nghiện ma túy mua “mảnh hạt điều” hóa ra là một cảnh sát chìm. Tuy nhiên, đó chỉ là hạt điều, không có vấn đề gì lớn. Người đàn ông sau đó sững sờ nhìn Dookhan tuyên thệ ngược lại trước tòa. “Tôi biết cô ta đang nói dối” về việc thực hiện các xét nghiệm, ông ta đã nói thế này sau đó: “Làm sao mà một mảnh hạt điều có thể biến thành ma túy đá được.”
Không phải mọi nghi phạm bị Dookhan làm giả xét nghiệm đều phải vào tù; những hành vi vi phạm quy định về ma túy mức độ thấp thường không bị tống giam. Tuy nhiên, tiền án về ma túy dẫn đến những hậu quả nằm ngoài cả án tù. Bạn có thể bị trục xuất, bị sa thải hoặc bị đuổi khỏi những căn nhà trợ cấp của chính phủ. Bạn có thể mất bằng lái xe hoặc bị tước quyền gặp con của mình. Nếu bạn xuất hiện trước tòa một lần nữa, bạn cũng sẽ là một người tái vi phạm.
Dookhan chưa bao giờ đưa ra lời giải thích thỏa đáng về lý do tại sao cô ta lại gây nguy hiểm đến tính mạng của rất nhiều người như vậy. Tuy nhiên, lời nói và hành động của cô ta cho thấy vài manh mối về lý do này. Đầu tiên, Dookhan có vẻ thích thú với việc hạ gục những kẻ giao dịch ma túy. Cô ta thường thân thiện thái quá với các công tố viên địa phương và viết cho họ những email nghiêm túc về việc tống những kẻ xấu “ra đường”. Một công tố viên đề nghị mua đồ uống cho cô ta tại một quầy bar đắt đỏ bậc nhất. Một người khác đã phải từ chức khi những email tán tỉnh của ông ta với Dookhan bị công khai. Có lần, cô ta đã hỏi lời khuyên của một công tố viên về việc liệu cô ta có nên đáp lại lời cầu xin giúp đỡ của một luật sư bào chữa hay không.
Dookhan cũng đang bị căng thẳng nghiêm trọng, mà theo một nghiên cứu tâm lý thì điều này có thể thôi thúc người bị căng thẳng thực hiện những hành vi không đúng quy trình và trái với đạo đức. Với lượng mẫu tồn xét nghiệm khổng lồ tại phòng thí nghiệm, mọi người ở đó phải đối mặt với áp lực rất lớn. Cùng với vấn đề này, Dookhan cũng bị sẩy thai nhiều lần và không hạnh phúc khi ở nhà; cô ta không có người thân nào ngoài cha mẹ mình, và sống gần ngay cả họ hàng bên nhà chồng, một việc không bao giờ dễ dàng. Không phải bào chữa, nhưng căng thẳng kéo dài có thể làm suy giảm sức chịu đựng tinh thần của chúng ta và hạn chế sự đồng cảm của chúng ta đối với người khác. Với tình trạng tinh thần rối bời lúc đó, Dookhan có thể dễ dàng phớt lờ nguy cơ cho rằng hành vi lừa đảo của cô ta đang hủy hoại cuộc sống của người khác. Đặc biệt là khi trò gian lận đó giành được những lời khen ngợi.
Một số người nói dối để thao túng người khác hoặc đạt được những lợi ích vật chất. Dookhan muốn giành được vinh quang khoa học – cô ta thích được gọi là nữ siêu nhân. Sếp cũ của cô ta tại phòng thí nghiệm vaccine cũng suy đoán rằng, việc cô ta là một người nhập cư và một phụ nữ da màu có thể đã đóng một vai trò nào đó. Vị sếp đó, một người da đen, từng nói, “Tôi hiểu cảm giác là một người thiểu số ở nước Mỹ. Tôi nghĩ trải nghiệm đó đã củng cố quyết tâm chứng tỏ rằng bản thân cũng là một người giỏi giang, hoặc thậm chí còn giỏi hơn người khác của cô ta.”
Thông thường, quyết tâm đó là một động lực lành mạnh, thúc đẩy mọi người đạt được nhiều thành tích hơn và phá bỏ những định kiến. Nhưng Dookhan không nhận được sự ngưỡng mộ mà bản thân mong muốn; cô ta theo đuổi vinh quang mà không có thành tựu cơ bản. Đây thực sự là một thất bại phổ biến ở những người gian lận khoa học. Thay vì kiến thức và những thành tựu khoa học thực chất, họ tìm kiếm giải thưởng và uy tín – những cái bẫy của khoa học. Đó chính là động cơ tạo ra vô vàn những công trình nghiên cứu gian lận, chẳng hạn như trong lĩnh vực quang học hay điểu học. Dookhan đã làm như vậy trong phòng thí nghiệm pháp y, nơi quyền tự do của mọi người đang bị đe dọa.
Đáng buồn thay, Dookhan không phải là cá nhân duy nhất. Trong những thập kỷ gần đây, hàng chục nhà khoa học pháp y khác, tại các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới, đã bị vạch mặt là những kẻ lừa đảo và gây ra những sai lệch kết quả thực tế. Trên thực tế, đối với các nhà phê bình, trường hợp của Dookhan chỉ củng cố quan điểm rằng, bản thân khoa học pháp y chính là một thứ lừa đảo.
Tại Mỹ, nguồn gốc của khoa học pháp y bắt nguồn từ vụ án giết Parkman trong Chương 4, khi các bác sĩ tại Trường Y Harvard sử dụng chuyên môn giải phẫu của họ để xác định hành vi phạm tội của John White Webster. Trong vài thập kỷ tiếp theo, khoa học pháp y mở rộng sang quá trình điều tra các hành vi cố ý gây hỏa hoạn, chuyển động đường đạn của các loại vũ khí và cái gọi là phân tích bề mặt – nghiên cứu về dấu vân tay, vết cắn, dấu chân, vết máu bắn ra, và những thứ tương tự. Vào giữa thế kỷ XX, khoa học pháp y đã có được vị trí vững chãi trong các tòa án, và được xem như một giải pháp thay thế hợp lý, khách quan cho những vấn đề về cảnh sát chuyên quyền và tham nhũng đã thống trị trước đó.
Thật không may – và tôi ghét phải làm thất vọng những bạn là người hâm mộ những vụ án giết người bí ẩn ngoài kia – rất nhiều hoạt động pháp y mang lại kết quả hữu ích trong điều kiện thuận lợi nhưng lại tạo ra những kết luận sai lầm trong điều kiện tệ hại. Trong một báo cáo đáng nguyền rủa từ năm 2009, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ đã vạch ra một số vấn đề nhức nhối trong ngành khoa học pháp y – bắt đầu với thực tế là hầu hết các lĩnh vực trong đó đều thiếu cơ sở khoa học. Thay vì dựa trên xét nghiệm và phân tích, chúng chỉ đơn thuần là một tập hợp các linh cảm đúc kết được từ các thuật ngữ khoa học. Do đó, các chuyên gia pháp y khác nhau thường đưa ra những kết luận hoàn toàn khác nhau với cùng một mẫu phẩm. Tệ nhất là một chuyên gia đôi khi cũng đưa ra những kết luận cực kỳ khác nhau cho cùng một mẫu phẩm vào những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào việc bạn nghĩ nghi phạm có tội hay vô tội – bằng chứng mạnh mẽ cho thấy thiên kiến chi phối phân tích.
Cô ta cũng bị chỉ trích không kém vì thiếu khiêm tốn. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy điều khiển các tác giả khoa học trở nên gàn dở là xu hướng họ rào đón mọi thứ; họ luôn đánh giá cao các tuyên bố của mình và bác bỏ những lựa chọn thay thế, ngay cả khi bằng chứng được đưa ra có vẻ mạnh mẽ. Ngược lại, nhiều chuyên gia pháp y – đặc biệt là khi làm chứng trước tòa – nói sai sự thật về những điều không có căn cứ. Họ tuyên bố mình có thể khớp các sợi tóc hoặc vết cắn với ai đó kèm độ chính xác tuyệt đối và có thể thực hiện điều đó trong mọi thời điểm. Họ tỏa ra thứ hào quang mang tên không thể sai lầm[*], và làm lu mờ bất kỳ câu hỏi nào thách thức quyền hạn của họ.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải nói rõ ràng rằng không phải tất cả ngành khoa học pháp y đều là rác rưởi. Độc chất học và bệnh lý học rất vững chắc, và báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ chỉ ra rằng, phân tích DNA nói riêng đạt được kết quả đáng tin cậy. Những lĩnh vực này có nền tảng nghiêm ngặt và dựa trên các xét nghiệm có căn cứ; và trong trường hợp phân tích DNA, nó có thể liên kết một cách đáng tin cậy các mẫu sinh học cụ thể (ví dụ: máu hoặc tinh dịch) với các cá thể cụ thể. Các nhà phân tích DNA cũng thường xuyên thừa nhận sự không chắc chắn bằng cách gắn các xác suất vào kết quả của họ. Nhưng hầu hết các lĩnh vực pháp y không đáp ứng các nguyên tắc cơ bản này.
Kể từ báo cáo của Viện Hàn lâm, các lĩnh vực phân tích dấu vân tay và đường đạn của vũ khí bắt đầu cải thiện các quy trình cẩu thả của mình và chuyển sang giá trị pháp lý về mặt khoa học. Và nếu những chuyển viên phân tích bằng chứng một cách chính xác và thể hiện một chút khiêm tốn – thì ngay cả khoa học pháp y nhiều vết nhơ cũng có thể tìm thấy một vị trí vững chãi trong công việc của cảnh sát hiện đại bằng cách gia tăng sức nặng cho lời khai khác nói riêng cũng như vụ án tổng thể nói chung. Cho đến khi điều này xảy ra thì các bị cáo vẫn sẽ tiếp tục khiến nhiều người đau khổ. Theo ước tính, “bằng chứng pháp y không chính xác hoặc gây hiểu lầm” góp phần vào một phần tư tổng số án oan sai ở Mỹ và một số ngành pháp y thậm chí còn chiếm tỷ lệ cao hơn. Trong một nghiên cứu, FBI kết luận rằng, trong 90% các vụ án liên quan đến những mẫu tóc rất nhỏ đều có những lời khai “sai sự thật” trước tòa.
Phân tích ma túy pháp y thì sao? Về mặt giá trị pháp lý, nó gần với khía cạnh DNA trong các vụ việc. Các xét nghiệm ma túy đáng tin cậy và có thể lặp lại, chúng là một bằng chứng vững chắc của một vụ án hình sự nếu được thực hiện đúng cách.
Sự suy đồi của Dookhan bắt đầu từ một lời nói dối nhưng tình cờ lại đúng. Năm 2001, cảnh sát Boston bắt giữ một người đàn ông tên là Luis Melendez-Diaz vì giao dịch ma túy bên ngoài một cửa hàng Kmart và tống cổ hắn lên một chiếc xe đi tuần của cảnh sát. Trên đường đi, cảnh sát thấy Melendez-Diaz nhấp nhổm ở ghế sau. Nghi ngờ, họ đã tiến hành khám xét chỗ ngồi của hắn sau khi làm thủ tục tạm giam và tìm thấy một số túi cocaine mà hắn mang theo người được nhét vào một khe phía sau ghế nhằm tẩu tán chúng.
Cảnh sát đã tình cờ gửi mẫu phẩm đến chính phòng thí nghiệm nơi Dookhan là người phụ trách xét nghiệm. Theo những thông tin thu được, các mẫu phẩm đã được xử lý đúng cách, không có bất kỳ vấn đề bất thường nào xảy ra. Nhà hóa học phụ trách đã ký ba giấy chứng nhận đó là cocaine, và bằng chứng này đã kết tội Melendez-Diaz. Nói chung, một vụ án dễ dàng.
Các luật sư của Melendez-Diaz đưa ra một tranh luận mới lạ. Tu chính án thứ sáu của Hiến pháp tuyên bố rằng, “bị cáo sẽ được hưởng quyền... được đối chất với các nhân chứng chống lại anh ta” trước tòa. Theo truyền thống, các nhân chứng là những người đã thực sự tận mắt chứng kiến tội ác. Nhưng các luật sư của Melendez-Diaz lập luận rằng, các nhà phân tích pháp y cũng phải trực tiếp làm chứng. Trong trường hợp này, bởi nhà hóa học trong phòng thí nghiệm chỉ nộp các giấy chứng nhận thay vì xuất hiện trước tòa, nên các luật sư đã lập luận loại bỏ tuyên án.
Sau những kháng cáo, vụ án được chuyển lên Tòa án Tối cao vào năm 2009. Trong phán quyết có tỷ lệ 5-4, bất chấp sự bất đồng thường xảy ra tại tòa án, Tòa án Tối cao cho rằng các luật sư của Melendez-Diaz đã đúng: các nhà phân tích khoa học phải ra làm chứng trước tòa để bị cáo có cơ hội phản biện lại họ. Quyền đối chất với các nhân chứng là điều cần thiết để thể hiện một phiên tòa công bằng, Scalia lưu ý, và do đó các nhà phân tích phải xuất hiện tại tòa “ngay cả khi họ có sự nhạy bén về mặt khoa học như Marie Curie và sự chân thật của Mẹ Theresa.” Nhưng Scalia cũng ngờ rằng, không phải ai trong phòng thí nghiệm ma túy đều là Madame Curie hay Mẹ Theresa. Theo ông, một số nhà phân tích không đủ năng lực hoặc thậm chí là những kẻ nói dối, và trong trường hợp đó, “chìa khóa của quá trình kiểm tra chéo” sẽ vạch trần họ. Ông cũng có thể đã nghĩ đến Annie Dookhan khi đưa ra quyết định của mình.
Giờ đây, có những tranh biện tích cực (và theo tôi là thuyết phục) chống lại phán quyết này. Tuy nhiên, kết quả là các nhà phân tích ma túy pháp y như Dookhan phải ra tòa để làm chứng thường xuyên trong tương lai.
Vậy liệu việc kiểm tra chéo có vạch trần Dookhan như Scalia dự đoán hay không? Gần như không. Cô ta tiếp tục khai man trước tòa. Dookhan đã làm chứng 150 lần, lần nào cũng tuyên thệ, và trong cả 150 vụ, cô ta đều không bị phát hiện. Việc kiểm tra chéo được ca ngợi là “tuyệt phẩm” đã không thể phát hiện ra hành vi gian lận nghiêm trọng nhất trong lịch sử khoa học pháp y.
Tuy nhiên, yêu cầu làm chứng đã giúp vạch trần Dookhan một cách khá vòng vo. Dù cô ta và các nhà phân tích khác hiếm khi dành quá 20 phút ở bục làm chứng song họ thường phải lãng phí cả buổi sáng hoặc buổi chiều tại tòa án để ngồi dưới hàng ghế và chờ đợi. Mỗi giờ ở tòa án là một giờ mà Dookhan không thể làm việc ở phòng thí nghiệm. Kết quả là, số lượng xét nghiệm của cô ta giảm mạnh. Sau khi phán quyết của Melendez-Diaz được đưa ra, cô ta đã dành 92 giờ để làm chứng trong 6 tháng cuối năm 2009, và chỉ thực hiện xét nghiệm được 6.321 mẫu trong năm đó. Con số của các nhà phân tích khác cũng giảm xuống, trung bình khoảng 2.000 xét nghiệm.
Nhưng đây chính là vấn đề. Trong năm tiếp theo, số lượng xét nghiệm của các nhà hóa học khác vẫn ở mức thấp. Dookhan thì không. Năm 2010, cô ta đã dành 202 giờ để làm chứng trước tòa, nhưng cũng tuyên bố đã xử lý 10.933 mẫu – gấp 5 lần mức trung bình phòng thí nghiệm và cao gần bằng mức đỉnh điểm trước vụ Melendez-Diaz.
Đây là thời điểm mà các nhà hóa học đồng nghiệp của cô ta thực sự nghi ngờ và bắt đầu theo dõi thời gian Dookhan dành ở trên kính hiển vi và thùng rác của cô ta. Trong khoảng thời gian này, Dookhan cũng bị bắt gặp bỏ qua các kiểm tra hiệu chuẩn quan trọng trên các thiết bị khác nhau, có lẽ là để tiết kiệm thời gian. Tệ hơn nữa, cô ta bị bắt quả tang giả mạo chữ ký của đồng nghiệp khác trên một số thủ tục giấy tờ, nhằm che đậy sự thật rằng cô ta đã bỏ qua các bước theo quy định. Thật vậy, một số đồng nghiệp sau đó đã tự hỏi rằng, liệu có phải cô ta chủ động để lộ việc làm sai trái của mình hay những vi phạm của cô ta quá rõ ràng.
Cuối cùng, một nhà hóa học đã báo cáo vụ việc của Dookhan lên cấp trên. Vị sếp đó đã gạt bỏ cáo buộc nọ trước sự thất vọng của nhân viên. Anh ta cho rằng có thể đôi khi Dookhan hơi vội vàng, nhưng cô ta đã phải chịu quá nhiều căng thẳng ở nhà, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của cô ta. Bên cạnh đó, với những yêu cầu làm chứng trước tòa, lượng công việc tồn đọng ngày càng lớn hơn và phòng thí nghiệm không thể để mất nữ siêu nhân của họ lúc này. Nhà hóa học này cũng đã báo cáo mối ngờ vực của mình với hiệp hội khoa học địa phương, nhưng ông ta chẳng thể làm gì. Luật sư của hiệp hội này được cho là đã yêu cầu ông ta rút lại báo cáo, kẻo ông ta sẽ hủy hoại sự nghiệp của một nhà khoa học nữ trẻ tuổi. Tóm lại, cả lãnh đạo và hiệp hội khoa học đều cho qua vụ Dookhan.
Tuy nhiên, giờ đây, Dookhan đã phải đối mặt với những lời buộc tội chính thức chống lại cô ta. Một sai lầm cẩu thả sẽ chính thức chấm dứt sự nghiệp của cô ta.
Như đã đề cập, phòng thí nghiệm có một chiếc két lớn mà một người có thể đi vừa chứa các mẫu phẩm ma túy chờ thử nghiệm và có các quy trình nghiêm ngặt về việc nhập và xuất mẫu. Khi ngày càng tạo dựng được vị thế, Dookhan bắt đầu lấy mẫu ra mà không thèm ký tên, một hành vi vi phạm các quy tắc chuỗi quy trình mẫu phẩm. Cuối cùng cô ta bị bắt vào một ngày tháng 6 năm 2011 với 90 mẫu không có chữ ký. Cô ta cố gắng che đậy sai lầm của mình bằng cách giả mạo tên viết tắt của đồng nghiệp trong sổ theo dõi. Thật không may, đồng nghiệp đã không có mặt tại phòng thí nghiệm vào ngày được đề cập. Khi đối diện với cuốn sổ ghi chép và được hỏi rằng cô ta có vi phạm các quy tắc hay không, Dookhan đã trả lời rằng: “Tôi có thể hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.”
Ngay cả khi đó, các sếp của Dookhan cũng không phạt cô ta. Thực ra, họ còn làm đủ mọi cách để che đậy hành vi vi phạm chuỗi quy trình mẫu phẩm. Tuy nhiên, vào tháng 12, văn phòng thống đốc Massachusetts nhận được thông tin về vi phạm và đã giao tổng thanh tra của bang phụ trách điều tra. Trong quá trình điều tra, một số hoạt động lỏng lẻo khác tại phòng thí nghiệm được đưa ra ánh sáng, bao gồm vấn đề an ninh yếu kém và đào tạo không đầy đủ cho các nhà hóa học mới. (Các cuộc điều tra sau đó thậm chí còn phát hiện ra nhiều vấn đề đáng báo động hơn, bao gồm cả những viên ma túy thất lạc từ những vụ án cũ vương vãi khắp phòng thí nghiệm. Người ta cũng phát hiện ra vài ống nghiệm trong ngăn kéo bàn của một giám sát viên; có ống được dán nhãn năm 1983.) Đến mùa hè năm 2012, cơ quan cảnh sát của bang đã nắm quyền kiểm soát phòng thí nghiệm do lo sợ về tính đúng đắn của bằng chứng. Hai ngày sau khi tiếp quản, các nhà hóa học đồng nghiệp của Dookhan đã chuyển những nghi ngờ của họ về cô ta tới những người giám sát mới của họ.
Đến lúc này, Dookhan đã bị sa thải khỏi vị trí tại phòng thí nghiệm do mức độ nghiêm trọng của các hành vi vi phạm trong chuỗi xét nghiệm mẫu phẩm. Nhưng cô ta vẫn chưa phải đối mặt với bất kỳ hậu quả nào cho hành vi tự đưa ra phán đoán hàng chục nghìn mẫu phẩm cho đến khi có hai thám tử gõ cửa nhà cô ta vào cuối tháng 8 năm 2012.
Họ ngồi trong phòng khách nhà Dookhan để trò chuyện với cô, song ban đầu cô ta phủ nhận mọi thứ. Nhưng các thám tử đã chuẩn bị sẵn sàng mọi tình huống, và họ đặt các cuốn sổ ghi chép và các báo cáo hiệu chuẩn giả mạo trước mặt cô ta. Lúc này, Dookhan nói, “Tôi đã hoàn thành công việc, chỉ là không đúng cách thôi. Tôi không tuân theo các quy trình, và sai sót nằm ở đó”. Nói cách khác, cô ta thừa nhận đã vi phạm một số quy tắc kỹ thuật, nhưng tuyên bố rằng các kết quả khoa học vẫn chuẩn xác.
Giữa buổi thẩm vấn, chồng của Dookhan về nhà và kéo cô ta vào một căn phòng khác. Ông ta hỏi cô ta có cần luật sư không, và cô ta đảm bảo với người chồng rằng mọi thứ đều ổn – lại là một lời nói dối khác. Sau đó cô ta quay lại phòng khách và tiếp tục.
Khi các thám tử hỏi rằng liệu có phải cô ta chỉ đưa ra các phỏng đoán mà không thực sự xét nghiệm hay không, Dookhan lại một lần nữa cho thấy sự giả dối của mình. “Anh nghĩ thuật ngữ đó có nghĩa là gì?”, cô ta vặc lại. Khi họ giải thích, cô ta phủ nhận: “Tôi sẽ không bao giờ giả mạo kết quả thử nghiệm bởi điều đó ảnh hưởng đến mạng sống của một ai đó.” Các thám tử đã đáp lại với nhiều bằng chứng hơn. Như đã đề cập, đôi khi Dookhan đã đoán một mẫu phẩm là ma túy, chẳng hạn như cocaine, chỉ để thấy một xét nghiệm bằng máy sau đó cho thấy nó là heroin hoặc một chất khác. Trong trường hợp đó, cô ta sẽ lén lấy một ít cocaine từ một mẫu phẩm khác và gửi lại để xét nghiệm, từ đó “xác nhận” kết luận đầu tiên của mình. Chà, trong một số trường hợp, các thám tử đã tìm lại mẫu ban đầu để kiểm tra lại – và xác định đó là heroin. Đó là bằng chứng cho thấy cô ta đã giả mạo kết quả.
Dookhan đã sớm rơi lệ ngay sau đó. Cô ta đã cố tìm cách giảm nhẹ hành vi gian lận của mình, nhấn mạnh rằng bản thân chỉ đưa ra phỏng đoán có vài lần. Khi các thám tử gây thêm sức ép, cuối cùng cô ta phải đầu hàng. “Tôi đã làm rối tung mọi việc,” cô ta nói. “Tôi đã làm ra mọi điều tồi tệ.”
Dookhan cuối cùng đã thú nhận tội lỗi, với 27 tội danh khai man, giả mạo bằng chứng và cản trở quá trình thực hiện công lý. Lời thú tội của cô ta cũng khiến toàn bộ hệ thống luật pháp của Massachusetts rơi vào tình trạng hỗn loạn. Vì Dookhan không thể nhớ được những mẫu nào là phỏng đoán, mẫu nào được kiểm tra chuẩn xác, nên tất cả 36.000 mẫu phẩm do cô ta phụ trách xét nghiệm trong suốt sự nghiệp của mình giờ đây đều bị nghi ngờ. Cơ quan lập pháp tiểu bang đã phải chi 30 triệu đô la để đối phó với sự cố kinh hoàng này; một nhóm vận động pháp lý ước tính sẽ mất 16 trợ lý luật sư làm việc nguyên năm chỉ để thông báo đến tất cả những người bị ảnh hưởng, nhẹ nhàng hơn nhiều so với việc đưa họ ra tòa. Các kháng cáo bắt đầu đổ về tới tấp và cuối cùng các tòa án Massachusetts đã lật lại 21.587 bản án, một quyết định lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Nhà phân tích ma túy Annie Dookhan sau khi bị bắt vì một trong những vụ gian lận lớn nhất trong lịch sử khoa học. Khi bị bắt, cô ta đã òa khóc, “Tôi đã làm rối tung mọi việc. Tôi đã làm ra những điều tồi tệ.” (Được sự cho phép của Boston Herald.)
Việc cô ta bị bắt hẳn phải là sự trả thù ngọt ngào cho những người như viên cảnh sát hạt điều nọ, những người biết nữ siêu nhân của phòng thí nghiệm đã luôn gian lận. Nhưng ở đây còn có những vấn đề khác nữa.
Dù bạn cảm nhận thế nào về cuộc chiến chống ma túy không hồi kết ở Mỹ – và tất cả những người “khá vô tội” bị bắt trong các vụ án liên quan — thì ít nhất có vài người trong 21.587 bị cáo đó là tội phạm bạo lực. Nhờ Dookhan, họ bất ngờ được tự do. Ít nhất 600 người bị kết án đã được tha bổng hoặc bác bỏ cáo buộc, và 84 người trong số họ đã ngay lập tức quay lại con đường cũ và phạm nhiều tội ác hơn. Một trong số họ đã giết người trong một phi vụ buôn bán ma túy ở phía nam. Một người khác đã bị bắt vì tội danh liên quan đến vũ khí nóng. Khi bị bắt, anh ta cười: “Tôi vừa được ra tù nhờ Annie Dookhan. Tôi yêu người phụ nữ đó.”
Vào tháng 11 năm 2013, một thẩm phán đã tuyên án Dookhan từ 3 đến 5 năm tù. Để bạn dễ hình dung, tôi đưa ra ví dụ sau: mua bán 28g heroin sẽ phải nhận bản án 7 năm tù giam. Khi nhìn vào quy mô hành vi sai phạm của cô ta, một bản án quá nhẹ nhàng như thế khiến nhiều người thất vọng. “Bạn ra về với cảm giác bản án này hoàn toàn không thỏa đáng”, một nhà lập pháp tiểu bang cho biết. “Ba đến năm năm hoàn toàn không đủ”. Thật vậy, Dookhan thậm chí đã không thụ án đủ ba năm, bước ra khỏi nhà tù như một phụ nữ tự do vào tháng 4 năm 2016.
Annie Dookhan không phải là nhà khoa học pháp y duy nhất bị bắt vì có hành vi sai trái. Trong 20 năm qua, những vụ bê bối tương tự đã xảy ra ở Florida, Minnesota, Montana, New Jersey, New York, Bắc Carolina, Oklahoma, Oregon, Nam Carolina, Texas và Tây Virginia. Đáng buồn thay, chuỗi sự cố bao gồm việc làm sai lệch hoặc che giấu bằng chứng pháp y trong ít nhất ba vụ án đưa ra phán quyết tử hình.
Không đủ năng lực cũng là một vấn đề hiện hữu nhức nhối. Các phòng thí nghiệm hình sự đã bị bắt quả tang để bằng chứng dưới những mái nhà dột nát hoặc trong những hành lang không an toàn. Một phòng thí nghiệm được điều hành bởi các sĩ quan cảnh sát, những người được đào tạo hầu hết về khoa học thông qua Wikipedia. Thật đáng ngạc nhiên, Massachusetts đã rung động lần hai ngay sau khi Dookhan bị bắt. Một nhà hóa học trong phòng thí nghiệm Amherst của bang đã bị bắt gặp đang sử dụng các mẫu phẩm meth, cocaine, ketamine và thuốc lắc tại nơi làm việc và có biểu hiện phê ma túy khi đang thực hiện các thí nghiệm. Cô ta cũng sử dụng ma túy đá trong phòng tắm của tòa án trước khi bước ra làm chứng.
Tuy nhiên, hành vi gian lận của Dookhan nổi bật hơn cả vì sự táo bạo và phạm vi của nó. Ở một khía cạnh nào đó, thật khó tin là cô ta đã có thể trốn tránh tội ác của mình trong thời gian lâu như vậy. Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh khác thì điều này không có gì đáng ngạc nhiên cả. Văn hóa của chúng ta đặt các nhà khoa học lên bậc cao danh vọng: Chúng ta luôn muốn nghĩ rằng ngoài kia có những người coi trọng tính trung thực và sự thật hơn tất cả mọi thứ. Chúng ta muốn tin tưởng họ, và các nhà khoa học bị các đồng nghiệp của họ lừa bịp như bất kỳ ai. Hãy nhớ rằng, những người giám sát của Dookhan đã nhận được những cảnh báo về cô ta, nhưng họ đã trì hoãn đưa ra những hành động hợp lý. Trên thực tế, các nhà ảo thuật chuyên nghiệp đã nói rằng các nhà khoa học thường dễ bị lừa hơn những người bình thường, bởi họ tự tin quá mức vào trí thông minh và sự khách quan của chính mình. Những Dookhan của thế giới chỉ đơn giản là biết cách tận dụng sự thật này.
Chắc chắn rằng đại đa số các nhà khoa học đáng được chúng ta tin tưởng. Nhưng bất kể bạn nhìn nhận từ góc độ nào, gian lận khoa học không phải là hiếm. Hàng trăm bài báo khoa học bị thu hồi mỗi năm, và dù rất khó nắm bắt các con số chính xác, nhưng một nửa trong số đó đã bị rút lại do gian lận hoặc hành vi sai trái khác. Ngay cả những nhà khoa học có tên tuổi cũng vi phạm. Một lần nữa, thật không công bằng khi lên án những người trong quá khứ vì không đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày nay, nhưng các nhà sử học đã ghi chép lại rằng Galileo, Newton, Bernoulli, Dalton, Mendel, và những người khác đều thao túng các thí nghiệm và/hoặc giả mạo dữ liệu theo những cách có thể khiến họ bị sa thải từ bất kỳ phòng thí nghiệm tự trọng nào ngày nay.
Gian lận và các hành vi sai trái khác làm xói mòn lòng tin của công chúng và làm băng hoại tài sản lớn nhất của khoa học – danh tiếng. Thật không may, khi xã hội của chúng ta trở nên giàu công nghệ kỹ thuật và khoa học hơn, những vấn đề này sẽ ngày càng trở nên tệ hại: những liên doanh khoa học mới thú vị cũng sẽ tạo ra những cơ hội mới để thực hiện những việc làm sai trái khác nhau. Nhưng không phải là không có cơ hội thay đổi. Như chúng ta sẽ thấy trong phần kết luận, có rất nhiều cách đã được chứng minh là sẽ giúp chúng ta hạn chế và cắt giảm tình trạng lạm dụng như vậy.
KẾT LUẬN
Những đột phá mới về khoa học hầu như luôn tạo ra những tình huống khó xử về mặt đạo đức, và các công nghệ hiện tại cũng không phải ngoại lệ. Những cách giết người mới sẽ cho phép mở rộng khả năng khám phá không gian? Ai sẽ bị thiệt hại nhiều nhất khi kỹ thuật di truyền giá rẻ tràn ngập khắp thế giới? Trí thông minh nhân tạo tiên tiến có thể gây ra những mối nguy hại nào? (Để biết câu trả lời cho những câu hỏi này, hãy xem phần Phụ lục.) Ưu điểm của việc đeo ria mép đen và lên kế hoạch cho những tội ác giả định là bản thân hành động tưởng tượng ra chúng có thể giúp chúng ta dự đoán và ngăn chặn những tội ác đó trong tương lai. Cũng có những điều chúng ta có thể làm ngay lập tức – các chiến lược để thúc đẩy khoa học đạo đức ở thời điểm hiện tại và tránh đi sâu vào những vấn đề đạo đức mà chúng ta đã gặp xuyên suốt cuốn sách này.
Đầu tiên và quan trọng nhất, các nhà khoa học cần phải cố gắng ghi nhớ những chuẩn mực đạo đức khi thực hiện các thí nghiệm. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải học thuộc những mớ tính lý thuyết lê thê hay quá nặng nề. Như một nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh vào năm 2012, một lời nhắc nhở đơn giản cũng có thể mang lại rất nhiều thành công.
Trong nghiên cứu này, các tình nguyện viên tiến hành giải quyết các bài toán liên quan đến tiền bạc; điểm càng cao, họ càng nhận được nhiều tiền. Sau đó, thí nghiệm thực sự bắt đầu. Các nhà tâm lý học nói với tình nguyện viên rằng họ phải điền vào một mẫu đơn khai thuế để báo cáo số tiền thắng cược của họ; họ cũng có thể nộp đơn xin hoàn lại chi phí đi lại bằng cách sử dụng biểu mẫu thứ hai. Để khuyến khích sự trung thực, các tình nguyện viên phải ký vào một ô trên mỗi biểu mẫu ghi rằng họ đã báo cáo tất cả thông tin trên đó một cách chính xác. Nhưng không phải mọi biểu mẫu được tạo ra với các chi tiết giống như nhau. Trong một nửa số trường hợp, ô chữ ký nằm ở trên cùng, nghĩa là các tình nguyện viên phải đưa ra lời thề trung thực trước khi điền bất kỳ thông tin nào. Trong nửa còn lại, ô chữ ký nằm ở dưới cùng và được điền cuối cùng. Hãy đoán xem bố cục biểu mẫu nào khiến nhiều người nói dối hơn? Những người ký ở cuối cùng, sau khi điền đầy đủ mọi thông tin, có khả năng báo cáo số tiền thắng cược thấp hơn thực tế và khai báo chi phí đi lại tăng gấp đôi. Một xu hướng xuất hiện trong một thử nghiệm thực tế. Lần này, các nhà tâm lý học hợp tác với một công ty bảo hiểm cung cấp mức phí chi trả theo quãng đường; về cơ bản, số dặm lái xe càng ít, phí bảo hiểm phải đóng càng thấp. Các nhà tâm lý học muốn đo lường mức độ trung thực của những người đã báo cáo quãng đường của họ trên các biểu mẫu, và một lần nữa, một nửa số người sẽ ký ở trên cùng, một nửa ký ở dưới cùng. Những người ký tên ở dưới cùng kê khai mỗi xe chạy ít hơn 4.000km so với thực tế, chênh lệch 10%.
Nhìn chung, các nhà tâm lý học lập luận rằng, việc chú ý đến đạo đức khi bắt đầu thực hiện một nhiệm vụ khiến mọi người cư xử trung thực hơn và ngăn cản động lực thực hiện những hành vi sai trái của họ. (Điều này có lẽ giải thích lý do tại sao các tòa án thường yêu cầu nhân chứng tuyên thệ trước khi đưa ra lời khai.) Hơn nữa, sau khi đã nói dối, chúng ta thường thấy đã quá muộn để sửa chữa mọi thứ theo một nghĩa nào đó. Chúng ta rất giỏi hợp lý hóa hành vi tồi tệ của bản thân bằng cách triển khai các thủ thuật về tinh thần mà chúng ta đã thấy trong cuốn sách này – sử dụng các uyển ngữ để che giấu sự thật, loại bỏ hành động xấu bằng một hành động tốt đẹp nào đó, so sánh bản thân với những người làm điều tồi tệ hơn... Việc ký vào các biểu mẫu ở cuối cũng kích hoạt tính lười biếng. Bạn có thể cảm thấy tức giận vì đã nói dối, nhưng bạn cũng sẽ phải quay lại và thay đổi tất cả các câu trả lời của mình ngay bây giờ – và thực sự thì ai muốn làm điều đó? Dù nghe có vẻ hoài nghi, tuy nhiên một phần quan trọng của đạo đức là tạo điều kiện thuận lợi cho con người sống có đạo đức.
Giờ đây, rõ ràng việc ký tên vào một ô trống nhỏ nào đó sẽ không chỉ giúp loại bỏ mọi tội lỗi về mặt khoa học một cách kỳ diệu. (Nó còn nói lên điều gì? Tôi xin thề sẽ không làm điều gì đó ghê tởm và lạm dụng đến mức ai đó sẽ dành cả một chương sách để viết về nó vào một ngày nào đó trong tương lai.) Và không ai có thể ngăn cản những người thực sự có ác tâm. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, với hầu hết mọi người, suy nghĩ về đạo đức ngay từ đầu sẽ thúc đẩy sự suy ngẫm và giảm nguy cơ gây ra tai họa. Để đạt được mục tiêu này, nhà tâm lý học từng đoạt giải Nobel Daniel Kahneman đã thúc đẩy ý tưởng “bản phân tích những lý do dẫn đến thất bại (premortem)”.
Trong các hình thức hậu kiểm (postmortem) quen thuộc, bạn kiểm tra một số sự kiện đã xảy ra trong thực tế để xem điều gì đã được thực hiện không đúng. Trong hình thức phân tích từ trước, bạn suy nghĩ về những điều có thể xảy ra, và thực hiện đánh giá trước khi mọi thứ bắt đầu. Cụ thể, làm thế nào mà toàn bộ dự án này lại sụp đổ? Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 10 phút suy ngẫm cũng giúp xóa tan tư duy tập thể và cho mọi người cơ hội để nói lên những nghi ngờ. Một số nhóm thậm chí còn cố tình cho mọi người cơ hội phản đối – đóng vai trò biện hộ – để đảm bảo ít nhất có một số bất đồng quan điểm được đưa ra. Thông qua những cách thức như vậy, các nhà khoa học có thể vượt qua những điểm mù của họ bằng cách thu thập ý kiến đóng góp từ một nhóm người đa dạng, những người có thể đưa ra những điểm đáng lưu ý mà họ đã bỏ lỡ. Tất nhiên, điều này bao gồm những người thuộc các sắc tộc, giới tính và khuynh hướng tình dục khác nhau, nhưng cũng có thể là những người lớn lên ở các nền dân chủ hoặc khu vực nông thôn, những người lớn lên trong các hộ gia đình lao động hoặc theo tôn giáo nào đó. Càng đa dạng về tư tưởng càng tốt.
Một cách khác để ghi nhớ chuẩn mực đạo đức trong tâm trí là đọc về lịch sử khoa học. Lắng nghe một mục sư nào đó tuyên bố, “Hãy là một người có đạo đức!” cũng là một cách. Đắm mình trong những câu chuyện về các hành vi vi phạm và thực sự cảm thấy xót xa trước những hành động xấu. Đó là lý do tại sao những câu chuyện lại có sức hút mạnh mẽ – chúng liên kết với nhau. Chúng ta cũng phải thành thật rằng ý định tốt đẹp không phải là một lá chắn. John Cutler có ý định tốt đẹp ở Guatemala là tìm cách ngăn chặn bệnh giang mai và bệnh lậu. Ông ta vẫn lây nhiễm STD cho người khác một cách bừa bãi và khiến một số người chết. John Money có ý định tốt đẹp về việc thúc đẩy thuyết phiến đá trắng về tình dục của con người, từ đó củng cố lòng khoan dung cả mọi người đối với các nhóm bị thiệt thòi. Ông ta vẫn hủy hoại cuộc đời của David Reimer đó thôi. Walter Freeman có ý định tốt đẹp về việc truyền bá phẫu thuật tâm lý để cứu giúp những bệnh nhân tâm thần tuyệt vọng. Ông ta vẫn phẫu thuật hàng nghìn người không cần đến nó. Tất cả chúng ta đều biết con đường dẫn đến địa ngục đã được lát bằng thứ gì.
Đồng thời – và đây có lẽ là điều khó nhất – điều quan trọng là ta đừng vẽ lên chân dung của Cutler hoặc Money hoặc Freeman như một con quái vật vì loại bỏ những con quái vật là việc quá dễ dàng.
(Tôi không phải là quái vật, vì vậy tôi không cần phải lo lắng.) Nếu thành thật với chính mình thì bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể rơi vào những cái bẫy tương tự. Có thể không phải trong các trường hợp cụ thể ở trên, và có thể không quá nghiêm trọng. Nhưng ở đâu đó, theo một cách nào đó, chúng ta cũng có thể đã làm điều gì đó phi đạo đức. Thành thật thừa nhận là sự cảnh giác tốt nhất mà chúng ta có được. Như Carl Jung đã nói, một kẻ ác ẩn nấp bên trong tất cả chúng ta, và chỉ khi chúng ta nhận ra sự thật đó, chúng ta mới có thể hy vọng chế ngự được chúng.
Nhiều người cho rằng những người thông minh hơn thì có hiểu biết và có đạo đức hơn; tuy nhiên, bằng chứng thực tế lại cho thấy một điều ngược lại, vì những người thông minh cho rằng họ đủ thông minh để trốn tránh việc bị bắt. Hãy lấy ví dụ như một chiếc ô tô, việc sở hữu chiếc xe thông minh cũng giống như có một động cơ khổng lồ với rất nhiều mã lực. Bạn có thể đến đích nhanh hơn, nhưng nếu tay lái (tức là đạo đức của bạn) không ổn định, thì khả năng xảy ra một vụ lật xe đột ngột là rất cao. Đạo đức cũng giúp chúng ta định hướng cuộc sống và ngăn chúng ta bước vào những con đường nguy hiểm nhất định ngay từ thời điểm đầu tiên.
Những tội ác được trình bày chi tiết trong cuốn sách này sẽ không làm lu mờ những thành tựu đáng kinh ngạc mà các nhà khoa học đã đạt được từ trước tới nay, trong các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới. Phần lớn họ là những người đáng yêu, vị tha, và xã hội của chúng ta sẽ nghèo nàn hơn rất nhiều cả về vật chất và tinh thần nếu không có họ, xét trên tất cả những điều kỳ diệu mà họ đã thực hiện. Nhưng các nhà khoa học cũng là con người. Giống như nhà hóa học Harry Gold, họ bị lôi kéo vào những âm mưu và phản bội bạn bè. Giống như tên cướp biển William Dampier, họ dần bị ám ảnh bởi nghiên cứu của mình và nhìn nhận những hành động tàn bạo theo một cách khác. Giống như các nhà cổ sinh vật học Marsh và Cope, họ đã tìm cách phá hoại các đối thủ và cuối cùng tự hủy diệt chính bản thân.
Albert Einstein từng nói, “Hầu hết mọi người đều nói rằng trí tuệ là thứ tạo nên một nhà khoa học vĩ đại. Họ nhầm rồi: Tính cách mới đúng.” Tôi thừa nhận rằng, lần đầu tiên đọc câu trích dẫn đó rất lâu về trước, tôi đã chế giễu nó. Ai quan tâm một nhà khoa học có lòng tốt hay bất cứ điều gì hay không? Những khám phá – đó mới là điều quan trọng. Tuy nhiên, sau khi viết cuốn sách này, tôi đã hiểu ra. Ở một mức độ nào đó, khoa học là một bộ sưu tập những sự thật về thế giới và những khám phá là thứ làm trọn vẹn thêm bộ sưu tập đó. Nhưng khoa học cũng là một cái gì đó lớn lao hơn. Đó là một tư duy, một quá trình, một cách lập luận về thế giới cho phép chúng ta phơi bày những suy nghĩ viển vông, thành kiến và thay thế chúng bằng những sự thật sâu sắc hơn, đáng tin cậy hơn. Xét đến mức độ rộng lớn của thế giới, không có cách nào để tự mình kiểm tra mọi thử nghiệm được báo cáo và tự xác minh nó. Tại một thời điểm nào đó, bạn phải tin tưởng vào những tuyên bố của người khác – điều đó có nghĩa là những người đó cần được tôn trọng, cần được tin tưởng. Hơn nữa, khoa học là một quá trình xã hội. Kết quả không thể được giữ bí mật; chúng phải được xác minh bởi cộng đồng rộng lớn hơn, nếu không khoa học chỉ đơn giản là thứ vô dụng. Và dù một nền khoa học trong quá trình xã hội sâu sắc là gì đi nữa, thì những hành động gây tổn hại cho xã hội bằng cách đánh đổi quyền con người hoặc phớt lờ phẩm giá con người cuối cùng sẽ luôn khiến bạn phải trả giá – khi hủy hoại lòng tin của mọi người vào khoa học và thậm chí phá hoại chính những điều kiện làm cho khoa học trở nên khả thi.
Tất cả những điều đó có nghĩa là sự trung thực, chính trực và cẩn trọng – những cơ sở xây dựng nên tính cách – là yếu tố quyết định đối với khoa học. Vì lý do đó, những người làm việc có phương pháp và tận tâm trong phòng thí nghiệm – kiểm tra mọi giả định và đảm bảo sự chấp thuận đầy đủ của tất cả mọi người liên quan sẽ làm tốt hơn những người chỉ cố gắng hướng đến trí tuệ, những người không thể bận tâm đến người khác hoặc nghĩ rằng những người đó thấp kém hơn so với con người họ. Theo nghĩa này, Einstein đã đúng: nếu không có tư cách, khoa học sẽ bị diệt vong, và các nhà khoa học thiếu đạo đức thường tạo ra một nền khoa học tồi tệ.
Điều đó đặc biệt đúng bởi, kể từ Thế chiến II, khoa học có nghĩa là sức mạnh – sức mạnh vượt ra ngoài những thứ to lớn, hiển nhiên như bom hạt nhân. Nó cũng bao gồm các tương tác hằng ngày, như một nhà tâm lý học thao túng ai đó trong phòng thí nghiệm hoặc một bác sĩ cầu xin một bệnh nhân tham gia thử nghiệm ma túy. Những hành vi sai trái nhỏ nhặt cũng có thể hủy hoại cả sự sống.
Bất kể loài người sẽ như thế nào trong tương lai – cho dù chúng ta là nửa người nửa máy, hay sống trên sao Diêm Vương, hay được kết hợp với DNA của thằn lằn – con cháu của chúng ta vẫn sẽ là con người và có khả năng sẽ cư xử sai trái như một đặc điểm vốn có của loài người. Như các nhà tâm lý học từng nói, yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi trong tương lai là hành vi trong quá khứ. Nhưng Einstein, như thường lệ, nhìn xa hơn chúng ta. Thông minh là tốt, chắc chắn rồi, nhưng không đủ dựa trên sức mạnh mà khoa học đạt được. Đặc điểm mà ông nhắc đến là sự đảm bảo hiệu quả nhất chống lại vấn đề lạm dụng khoa học, và vẫn còn phải xem liệu hai khía cạnh quan trọng này của khoa học – trí tuệ và tính cách – có thể cùng tồn tại trong tương lai hay không.
PHỤ LỤC
TƯƠNG LAI CỦA TỘI PHẠM
Phần phụ lục này gồm nhiều nội dung khác nhau: sự pha trộn giữa các câu chuyện và các kịch bản giả định. Nhưng chủ đề chung là tương lai của tội phạm gắn với công nghệ mới. Cho dù đó là khám phá không gian, hoạt động máy tính được nâng cấp hay kỹ thuật di truyền, những thay đổi lớn đang đến với xã hội loài người – và mỗi tiến bộ mới sẽ mang đến những sai lầm mới trong cách thức thực hiện.
*
Vào tháng 7 năm 1970, một trong những vụ giết người kinh hoàng nhất trong lịch sử diễn ra ở giữa Bắc Băng Dương. Mười chín nhà khoa học và kỹ thuật viên người Mỹ ở trên một hòn đảo băng nổi có kích thước gần bằng Manhattan. Họ là một đội quân tóc hoa râm, uống rượu khỏe, và vào ngày 16 tháng 7, Donald “Porky” Leavitt đã đánh cắp một bình rượu nho khô tự làm từ chiếc xe mooc của chuyên gia điện tử Mario Escamilla.
Theo những gì được kể lại, Porky là một kẻ nghiện rượu nguy hiểm: Có lúc ông ta tấn công mọi người bằng dao thái thịt để đoạt rượu của người khác. Vì vậy, để bảo vệ mình, Escamilla đã rút súng ra trước khi tiến đến đối đầu với ông ta. Escamilla không biết rằng khẩu súng bị lỗi và rất dễ bị cướp cò.
Escamilla tìm thấy Leavitt trong một toa xe moóc gần đó, đang mê mẩn sự kết hợp tồi tệ giữa rượu nho khô, Everclear và nước ép nho. Ngồi cùng ông ta là một kỹ thuật viên khí tượng tên là Bennie Lightsy, cũng đang say xỉn. Sau một cuộc tranh cãi nảy lửa, Lightsy theo Escamilla quay lại toa xe của ông ta. Ở đó, Escamilla ra hiệu khi chĩa khẩu súng hướng về phía cửa để yêu cầu Lightsy đi ra ngoài – và súng vô tình đã bị cướp cò. Phát súng nhắm thẳng vào lồng ngực của Lightsy, và máu của ông ta xối ra ào ạt ngay sau đó.
Tại thời điểm đó, khung cảnh hỗn loạn thực sự bắt đầu – một sự hỗn loạn về mặt pháp luật. Đảo băng nằm bên ngoài lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào và dù sao cũng chỉ là tạm thời (nó sẽ tan ra vào giữa những năm 1980), vì vậy nó không phải là lãnh thổ có chủ quyền. Luật biển cũng không được áp dụng vì đảo băng không thể điều hướng được. Nghe có vẻ điên rồ, một số học giả pháp lý cho rằng không có luật nào được áp dụng ở đó và họ đặt câu hỏi liệu có quốc gia nào có quyền xét xử Escamilla hay không. Ông ta dường như đã giết ai đó tại một trong số ít những nơi trên Trái đất mà về mặt pháp lý là không thể kết tội.
Trại “đảo băng” T-3, nơi diễn ra một trong những vụ giết người kinh hoàng nhất trong lịch sử vào năm 1970. (Nguồn từ Cục Khảo sát Địa chất Mỹ.)
Cuối cùng, các nguyên soái Mỹ đã bắt giữ Escamilla và đưa ông ta ra hầu tòa vì tội giết người ở Virginia. Tại sao lại là địa điểm đó? Vì lý do kín đáo rằng, Virginia là nơi đầu tiên máy bay của họ hạ cánh, tại sân bay Dulles. (Escamilla ra hầu tòa với đôi giày duy nhất mà ông ta có đôi ủng cao su bắc cực màu đen.) Cuối cùng, ông ta được tuyên trắng án do khẩu súng bị lỗi, nhưng tính chất tùy tiện và bộc phát của vụ án khiến tất cả các vấn đề pháp lý nan giải vẫn chưa được giải quyết. Cụ thể, chúng ta nên xử lý tội phạm ở vùng đất không có chủ quyền như thế nào? Về cơ bản, cộng đồng pháp lý tỏ ra khó chịu, coi trường hợp Escamilla là một trường hợp trước nay chưa từng xảy ra. Nhưng nó sẽ không còn là như vậy[*].
Cái chết của Lightsy xảy ra một năm sau ngày phóng tên lửa đưa những người đầu tiên lên Mặt trăng. Các chuyến bay của con người đã bị đình trệ phần nào kể từ đó, nhưng trong thế kỷ tiếp theo, chúng ta gần như chắc chắn sẽ thiết lập những căn cứ đầu tiên trên Mặt trăng hay sao Hỏa. Và khi con người liều lĩnh đi đến đâu, tội ác sẽ theo chân họ đến đó.
Một điều khoản trong Hiệp ước Khoảng không Vũ trụ năm 1967 yêu cầu các quốc gia giám sát công dân của mình trong không gian, và nó có hiệu quả trong thời điểm có ít phi hành gia. Tuy nhiên, khi hàng nghìn hoặc hàng triệu người vươn tới quỹ đạo, điều đó trở nên mất không thể kiểm soát. Hãy tưởng tượng đến viễn cảnh này. Một phụ nữ Đức đầu độc một người đàn ông Congo bằng ma túy do Brazil sản xuất trên con tàu vũ trụ thuộc sở hữu của một tập đoàn Trung Quốc-Bỉ và có trụ sở chính tại Luxembourg để trốn thuế. Lúc đó bạn sẽ làm gì? Hay phá hủy hoàn toàn các con tàu. Một số công ty đang chuẩn bị khai thác các tiểu hành tinh. Điều gì sẽ xảy ra nếu một người khai thác không gian đánh vỡ đầu ai đó bằng một tảng đá trên một trong những hành tinh này? Các luật lệ của Trái đất có vẻ vô dụng khi con người trên các hành tinh xa xôi bắt đầu sinh con, một số người trong số họ sẽ không bao giờ đặt chân lên Trái đất trong suốt cuộc đời.
Thậm chí kỳ quặc hơn, thám hiểm không gian cũng cho thấy những cách hoàn toàn mới để giết người. Lấy những chiếc bánh hồ đào làm ví dụ.
Ăn uống trên quỹ đạo hoàn toàn không giống với việc ăn uống trên mặt đất. Bạn phải uống các loại đồ ăn từ một chiếc túi nhựa, do đó chỉ có thể ăn một thứ tại một thời điểm. Khuôn mặt của bạn cũng sưng lên với những chất lỏng trong môi trường không trọng lực, gây ra nghẹt mũi và chèn ép lỗ mũi, đủ để làm bạn ngạt thở trước khi kịp thưởng thức hương vị đồ ăn; kết quả là, mùi vị thức ăn bốc lên ở đó như thể bạn bị cảm lạnh. (Đó là một lý do tại sao cocktail tôm được các phi hành gia ưa chuộng – bởi họ thực sự có thể thưởng thức hương vị của cải ngựa trong nước sốt cocktail.) Nấu ăn trong không gian cũng rất kỳ quặc. Chất lỏng và hơi nước không phân tách rõ ràng ở môi trường không trọng lực, vì vậy bọt khí không nổi lên bề mặt nước sôi và thoát ra ngoài. Thay vào đó, cả nồi bắt đầu sủi bọt cùng lúc. Việc không có trọng lực cũng ngăn cản hình thành các dòng đối lưu, vì vậy lò nướng không chạy ổn cho lắm[*]. Kỳ lạ nhất – và tuyệt vời nhất – ngọn lửa trông giống hình cầu kỳ lạ trong không gian, vì vậy nướng bất kỳ viên kẹo dẻo nào bên trong đó sẽ là một chuyến du ngoạn thực sự.
Nhưng rắc rối lớn nhất với thực phẩm trong không gian là các mảnh vụn, những thứ không rơi một cách vô hại xuống dưới sàn như bình thường. Các mảnh vụn trôi nổi, tạo thành một đám mù mịt của các hạt và vụn có thể gây tắc nghẽn nghiêm trọng các bộ lọc không khí — hoặc phổi. Các phi hành gia từ lâu đã thể sẽ loại bỏ những chiếc bánh hồ đào dễ vỡ vụn vì chính lý do này. Nhưng một thợ làm bánh độc ác có thể gửi một gói chăm sóc gồm những món ăn khô chết người, hoặc thậm chí đâm thủng những túi bột mì hoặc các loại bột khác. Một cú nổ sẽ xảy ra sau đó, và mọi người sẽ không thể thở nổi.
Không gian cũng cho thấy những âm mưu giết người bí ẩn lạ thường khác. Không trọng lượng là một điều tồi tệ đối với cơ thể – khớp, mắt, xương, tất cả mọi bộ phận. Nếu để một phi hành đoàn sống trong quỹ đạo nhiều năm liền, có thể là vì một số mưu đồ quyền lực nào đó, bạn sẽ làm tê liệt họ một cách hiệu quả. Những sự cố tiềm ẩn đáng sợ nhất liên quan đến hệ thống miễn dịch, hệ thống này bị suy giảm trong môi trường quỹ đạo và trở nên kém hiệu quả hơn. Kết quả là, những vi khuẩn vốn vô hại có thể phát triển và phá hủy hệ thống phòng thủ tự nhiên của chúng ta. Ví dụ, một số phi hành gia đã chứng kiến sự bùng phát của virus herpes gây ra bệnh mụn rộp và thủy đậu. Nếu bí mật làm lây nhiễm virus hoặc một loại nấm kỳ lạ cho phi hành đoàn trên mặt đất, sau đó đưa họ lên không gian trong khoảng thời gian đủ lâu để hệ thống miễn dịch sụp đổ, họ có thể dễ dàng tử vong. Việc đó tương tự như việc các nạn nhân AIDS giai đoạn đầu thường chết vì các bệnh nhiễm trùng cơ hội mà những người có hệ miễn dịch bình thường không cần phải lo lắng.
Dù nghe có vẻ khá buồn cười, nhưng thực chất việc giết người trong không gian sẽ chẳng khác nào bình cũ rượu mới về tội ác. Nhưng với các hành tinh thuộc địa, các loại tội phạm hoàn toàn mới cũng có thể phát sinh. Với số lượng lao động lớn cần có để tồn tại ở một nơi khác, chính quyền địa phương có thể cấm các hành vi nhàn rỗi và yêu cầu mọi người làm việc hoặc thực hiện một điều gì đó. Mặt khác, bản thân người dân có thể yêu cầu các quyền hợp pháp mới từ chính phủ. Khi nói về các quyền hợp pháp trên Trái đất, chúng ta thường muốn nói đến tự do ngôn luận, bầu cử công bằng và những thứ tương tự. Với điều kiện khắc nghiệt trên các hành tinh khác, những người tiên phong trong không gian sẽ cần phải đảm bảo những yếu tố cao hơn nữa theo hệ thống phân cấp của Maslow. Giống như một quyền được đảm bảo về oxy. Họ cũng có thể yêu cầu quyền được giao tiếp tự do với Trái đất vì sức khỏe tâm lý. Bạn thậm chí có thể nói về quyền được giải trí hoặc các chất thay đổi tâm trí. Hãy tưởng tượng một số kẻ phá hoại trên sao Hỏa đã xóa sổ toàn bộ bộ sưu tập nhạc, sách điện tử và video ảnh nổi ba chiều của vùng đất thuộc địa, khiến họ không còn cách nào để giải trí. Hoặc phá hủy kho lưu trữ các chất gây say nhẹ mà mọi người thường sử dụng vào cuối tuần để đánh lạc hướng bản thân khỏi mối đe dọa về cái chết thường trực. Trên Trái đất, những hành vi như vậy chỉ là những tội rất nhẹ. Nhưng trên sao Hỏa, những hành động đó có thể phá hoại sức khỏe tinh thần của cả khu dân cư và làm hỏng sứ mệnh. Môi trường mới, tội ác mới.
Hoạt động tư pháp hình sự cũng sẽ khác biệt khi ở trong không gian. Hãy tưởng tượng việc bắt giữ một ai đó, hoặc cố gắng làm điều đó. Với vụ giết người rượu nho khô, các cảnh sát Mỹ đã phải mất hai ngày mới đến được hòn đảo băng bằng máy bay và trực thăng. Sao Hỏa cũng cách xa chúng ta nhiều tháng di chuyển ngay cả khi ở vị trí gần nhất; thậm chí gửi tin nhắn từ đó cũng mất 20 phút. Khoa học pháp y cũng sẽ thay đổi. Chúng ta thấy những thiếu sót của khoa học pháp y tiêu chuẩn và việc chuyển lĩnh vực pháp y của Trái đất các hành tinh khác sẽ không hiệu quả. Với lực hấp dẫn, không khí và đất hoàn toàn mới, các mẫu bụi và các mẫu phẩm bắn trên bề mặt sẽ khác biệt và đám cháy sẽ bùng phát theo những cách dị thường. Xác chết cũng sẽ phân hủy theo cách khác. Nếu để thi thể ở ngoài trời, phần nửa trên lộ ra ngoài có thể bị tẩy trắng và khô cứng, giống như thịt bò khô trắng. Trong khi đó, trong trường hợp không có vi khuẩn thúc đẩy quá trình phân hủy, nửa dưới được che kín có thể được bảo tồn một cách tuyệt vời. Ngay cả với những cái chết tự nhiên trên sao Hỏa, các nhà giải phẫu học thế kỷ XXII có thể bị cám dỗ trước mục tiêu cướp một vài ngôi mộ và nghiên cứu bên trong các thi thể, để xem trọng lực thấp hơn trên hành tinh đỏ đã thay đổi cấu trúc giải phẫu của con người như thế nào.
Khi bạn còng tay ai đó, phiên tòa sẽ đưa ra những vấn đề hoàn toàn mới. Với vụ án đảo băng, các luật sư của Escamilla đưa ra một số câu hỏi hóc búa về việc liệu xét xử ông ta ở Virginia có vi phạm quyền hiến định của ông ta đối với một phiên tòa công bằng cũng như các bồi thẩm đoàn hay không. Thực tế là hòn đảo không có lực lượng cảnh sát, và quyền sở hữu ở đó được thực thi bằng súng đạn. Đối lập với ngoại ô Virginia, nơi mà nỗi sợ hãi lớn nhất của hầu hết mọi người mỗi ngày liên quan đến giao thông. Liệu một bồi thẩm đoàn ở đó có thực sự hiểu được những áp lực mà Escamilla phải đối mặt và đánh giá đúng hành động của ông ta không? Sự cách biệt về hiểu biết sẽ còn lớn hơn đối với những người sinh ra trên các hành tinh khác. Làm sao mà những con người sống trên Trái đất lại có thể kết tội một cách công bằng một người được sinh ra trong một xã hội khác như vậy? Họ thực sự giống nhau ở những khía cạnh nào?
Vì vậy, có lẽ những người định cư trong không gian nên nắm quyền kiểm soát tư pháp hình sự trong tay họ. Nhưng cách tiếp cận đó cũng có những thiếu sót. Có thực sự công bằng khi nhốt một kẻ phạm trọng tội trong nhà tù nhiều năm liền và để họ tiêu thụ oxy cũng như thức ăn mà phần còn lại của thuộc địa cần? Có lẽ thay vào đó, các thuộc địa nên chuyển sang thời trung cổ và xử tử tất cả những tên tội phạm, hoặc đày họ đến một khu vực rộng lớn nào đó. Nhưng cách tiếp cận đó cũng không thể thực thi nếu điều tồi tệ xảy ra, chẳng hạn như đó là kỹ sư điều hành nhà máy điện hoặc bác sĩ duy nhất của thuộc địa. Nếu không có chuyên môn của họ, tất cả mọi người có thể chết. Các thuộc địa có thể phải chuyển sang chế độ lao động cưỡng bức vì họ không thể để những kẻ vô dụng hút cạn tài nguyên. Đó là một lựa chọn khó xử, nhưng những con người trên Trái đất như chúng ta không phải đối mặt với những đánh đổi rõ ràng như trên các thuộc địa không gian. Không có sự lựa chọn dễ dàng nào cả.
– Giờ đây, vấn đề tội phạm không gian có vẻ xa vời. Rốt cuộc, hầu hết các phi hành gia đều hoàn hảo một cách khó chịu – với tấm bằng Tiến sĩ, luôn xỉa răng sau mỗi bữa ăn và có lượng mỡ cơ thể hoàn hảo. Nhưng tội ác đầu tiên trong không gian có thể xảy ra sớm hơn bạn nghĩ. Vào năm 2019, các phương tiện truyền thông đưa tin rằng, một phi hành gia người Mỹ đã ly hôn được cho là đã thực hiện hành vi đánh cắp danh tính bằng cách sử dụng máy tính của Trạm vũ trụ quốc tế để truy cập vào tài khoản ngân hàng của người vợ cũ khi chưa được phép của cô ta. (Những tội danh này sau đó được giảm nhẹ.) Và vào năm 2007, một phi hành gia NASA ghen tuông với người yêu mới của bạn trai cũ đã quấn một vòng đai vũ khí quanh người, lấy dao, súng BB và bình xịt hơi cay, lái xe hàng nghìn dặm từ Houston đến Orlando để bắt cóc người tình mới. Ngay cả những người tốt đôi khi cũng không thể chịu đựng nổi cảm xúc và làm những điều ngu ngốc.
Thêm vào đó, khi du hành vũ trụ mang tính thương mại hơn và nhu cầu đối với những người định cư mới tăng lên, tiêu chuẩn về người có thể bước vào những con tàu vũ trụ và định cư các hành tinh khác sẽ giảm xuống dưới mức của NASA, đặc biệt là đối với các nhiệm vụ kéo dài nhiều năm ở những nơi cô lập. Nhìn lại lịch sử, các cường quốc châu Âu nói chung đã gửi những kẻ xấu xa và những kẻ hạ đẳng đến thuộc địa ở châu Mỹ, và Anh đã đưa những kẻ tàn ác đến làm dân cư tại Australia. Dù sao thì việc thuộc địa hóa là bóc lột, nhưng việc đưa những tên cặn bã tới một địa điểm lại chưa chắc là một hành vi tàn bạo.
Kể từ vụ Escamilla cách đây nửa thế kỷ, một số học giả pháp lý có tư duy đi trước thời đại đã phàn nàn về việc thiếu các bộ luật quy đến lĩnh vực định liên quan không gian. Nhưng có lẽ chúng ta không thể làm được gì nhiều. Chúng ta không thể lường trước được tất cả các hành vi phạm tội mới và với sự khác biệt to lớn trong thực tế, thậm chí việc thực thi luật hiện hành gần như là điều không thể. Điều đáng lo ngại hơn nữa là, công nghệ tập trung hóa của các thuộc địa không gian có thể khiến họ có khuynh hướng độc đoán. Hãy tưởng tượng một quản giáo không gian hạ thấp nồng độ oxy trong phòng giam như một hình phạt. Hoặc tưởng tượng một nhà độc tài muốn làm điều tương tự với toàn bộ căn cứ để sai khiến mọi người theo ý mình. Khi nói đến hiểm họa trong không gian, chúng ta thường run sợ vì cái lạnh khắc nghiệt hoặc nguy cơ ngạt thở. Nhưng một trong những mối nguy hiểm nghiêm trọng nhất lại là con người.
*
Một giới hạn khác trong vấn đề phạm tội liên quan đến các thiết bị vi tính với các biểu hiện rõ ràng.
Những kẻ trộm cắp đã sử dụng Google Street View để xem xét các địa điểm mặt tiền cửa hàng và các ngôi nhà. Trong tương lai, thực tế ảo có thể cho phép họ theo dõi các tòa nhà kỹ lưỡng hơn từ cả bên trong. Họ cũng có thể sử dụng máy in 3D để tái tạo bản sao của đồ trang sức, hóa thạch hoặc các đồ tạo tác khác và hoán đổi chúng với những món đồ thật, gây cản trở quá trình phát hiện ra hành vi trộm cắp trong nhiều tuần hoặc nhiều năm.
Các vụ trộm quy mô lớn hơn có thể khai thác tiền điện tử như Bitcoin. Tiền điện tử mang đến cho người dùng lời hứa hẹn về quyền riêng tư, nhưng mọi giao dịch phải được mã hóa và xác minh bằng máy tính trong một khoảng thời gian rất lâu – một quy trình được gọi là “đào”. Thay vì để một máy tính trung tâm xử lý mọi thứ, việc đào tiền điện tử này thường được thuê ngoài thông qua một loạt các máy tính nhỏ hơn và họ sẽ kiếm được một phần tiền trong quá trình này. Chà, kẻ xấu đã tìm ra cách chiếm đoạt các máy tính nhỏ hơn và ăn cắp số tiền hoa hồng đó. (Trò lừa đảo này hiện không hoạt động với Bitcoin, chỉ xảy ra với các loại tiền điện tử khác ít được biết đến hơn.) Những kẻ xấu làm điều này bằng cách nhúng một vài dòng mã độc vào một chương trình hợp pháp khác mà mọi người tải xuống một cách vô tội vạ. Sau đó, chương trình sẽ chạy ẩn trên nền tảng hệ điều hành, bí mật khai thác tiền điện tử suốt cả ngày. Sau khi quá trình khai thác kết thúc và chiếc máy tính thực hiện nhiệm vụ lừa đảo giành được số tiền hoa hồng và sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của kẻ ăn cắp. Hành vi này không chỉ đánh cắp số tiền mà chủ sở hữu máy tính kiếm được (dù vô tình), mà nó còn vi phạm quyền riêng tư của họ, làm tốn tiền điện và làm xuống cấp phần cứng. Các chương trình khai thác độc hại có chi phí trực tuyến chỉ 35 đô la, nhưng một nghiên cứu cho thấy những tên tội phạm liên đã kiếm được 58 triệu đô la trong 4 năm rưỡi, hơn 1 triệu đô la mỗi tháng.
Những vụ trộm cắp tài sản với quy mô thậm chí còn lớn hơn có thể đang xảy ra. Cũng giống như các hoạt động kinh doanh, công nghệ mới cho phép tội phạm tận dụng lợi thế của quy mô nền kinh tế. Như các nhà sử học đã chỉ ra, một tên cướp trong thời trung cổ, nếu may mắn, có thể tấn công cả chục người cùng lúc bằng cách ẩn nấp gần một con đường lớn đông đúc. Vào giữa những năm 1800, những tên cướp có thể cướp một lúc 250 người trên các chuyến tàu. Ngày nay, bạn có thể tấn công cơ sở dữ liệu và ăn cắp tiền từ hàng triệu người. Trong tương lai, nếu điện toán lượng tử phát huy hết được những triển vọng thì sức mạnh của các cỗ máy thu được sẽ khiến ngay cả siêu máy tính cũng trở nên nhỏ bé và bảo mật Internet hiện tại trở nên vô dụng. Bạn có thể dễ dàng đánh cắp hàng trăm triệu tài khoản chỉ trong một lần đột nhập.
Tội phạm thông minh cũng sẽ khai thác cái gọi là công nghệ thông minh. Chúng có thể bắt đầu gây ra hỏa hoạn bằng cách bật lò nướng hoặc bếp điện từ xa. Chúng có thể chiếm quyền điều khiển các máy xây dựng tự động và đưa các sai sót cấu trúc nghiêm trọng vào các tòa nhà hoặc để lại các lỗ hổng bảo mật chỉ mình chúng biết. Chúng có thể chuyển hướng xe ô tô tự lái và lao vào đám đông người đi bộ, hoặc khóa tất cả các cửa phương tiện và ném cả gia đình 5 người xuống vách đá. Ở cấp độ thấp hơn, những tên cướp ngân hàng có thể gây tắc nghẽn cả một khu phố bằng những chiếc xe tự lái sau khi thực hiện một vụ cướp nhằm ngăn chặn sự truy đuổi của cảnh sát. Thậm chí cơ thể của bạn có thể bị xâm phạm. Hàng chục nghìn người sở hữu thiết bị điều hòa nhịp tim, máy kích thích não và máy bơm insulin kết nối không dây với Internet thông qua Wi-Fi hoặc Bluetooth để giúp bác sĩ theo dõi bệnh tật và phục hồi sức khỏe nếu cần. Tấn công một trong số các thiết bị đó và bạn có thể hạ gục ai đó theo ý muốn. Quỷ quyệt hơn, bạn có thể cung cấp cho các bác sĩ dữ liệu giả mạo, che giấu mọi dấu hiệu khủng hoảng cho đến khi quá muộn.
Sau đó là công nghệ mới mạnh mẽ nhất, trí tuệ nhân tạo. Các nhà khoa học máy tính gọi các hệ thống AI là sản phẩm “giòn”: chúng sở hữu một số chức năng hiệu quả nhất định, nhưng không thực sự linh hoạt và có thể dễ dàng bị hư hỏng. Sự cố này đặc biệt phổ biến khi máy tính phải xử lý dữ liệu trực quan. Việc dán thêm để-can cho các biển báo dừng có thể khiến xe ô tô tự lái hiểu sai biển báo và đâm xuyên qua chúng. Tương tự, việc sử dụng thiết bị bay không người lái để chiếu vạch phân làn giả trên đường có thể khiến những chiếc xe này đột ngột chuyển hướng, có khả năng lao vào dòng xe đang lưu thông. (Các nhà nghiên cứu ở đây chỉ cố gắng tư duy một cách thận trọng, không phải đưa ra một ý tưởng xấu xa.) Tinh vi hơn, bạn có thể khiến hệ thống AI bị nhiễu loạn thông qua các đợt tấn công “nhiễu dạng đối kháng” (adversarial noise), các pixel dường như ngẫu nhiên được chèn vào các hình ảnh kỹ thuật số 1 và 0. Giống như với âm nhạc được phát qua một kênh tĩnh, con người vẫn có thể giải mã các hình ảnh nhiễu mà không cần cố gắng nhiều; điều này giống như một con lười hoặc thứ gì đó, một thứ gì đó mờ nhạt không rõ ràng. Nhưng máy tính hiện đang thiếu nhận thức “cấp độ cao” để khắc phục vấn để lộn xộn về hình ảnh, và các pixel được thêm vào sẽ làm chúng bị xáo trộn. Nhiều bệnh viện đã sử dụng AI để sàng lọc hình ảnh các khối u trên da vì máy tính có tính chính xác hơn các bác sĩ da liễu con người. Nếu bạn gây ra độ nhiễu trực quan vào bản quét của ai đó thì máy tính có thể bỏ sót khối u ác tính, khiến người đó như thể bị kết án tử hình.
Khối u lành tính (ảnh trái): Khi “nhiễu dạng đối kháng” (giữa) được thêm vào tệp hình ảnh thông qua một hệ thống vi tính thì kết quả sẽ trông giống như mắt người (bên phải). Nhưng một chương trình trí tuệ nhân tạo đã thất bại và đột ngột phân loại bức ảnh ngoài cùng bên phải là khối u ác tính. (Tấn công đối kháng (Adversarial attack) được tạo ra bởi Tiến sĩ Samuel Finlayson của Trường Y Harvard.)
Vậy, những người máy tình dục giết người thì sao? Các quản gia robot đang được săn đón và những người cao tuổi ở Nhật Bản đã sử dụng robot đồng hành để giúp giảm bớt cảm giác cô đơn và cung cấp những dịch vụ chăm sóc đơn giản. Robot tình dục dường như là bước logic tiếp theo; trên thực tế, một số công ty đã bán các phiên bản sơ khai của loại robot này. Khi robot có khả năng tương tác với những người dễ bị tổn thương nhất, theo nghĩa đen là tụt quần của họ xuống, thì không có lý do gì mà một người không thể tấn công thiết bị robot này và điều khiển chúng chống lại những người kia.
Hấp dẫn hơn nữa là, điều gì sẽ xảy ra nếu một người máy phạm tội theo ý muốn của chính nó? Trong quá khứ, máy tính chỉ có thể làm những gì chúng được lập trình. Nhưng với AI, máy tính có thể học các hành vi mới và hành động theo những cách không thể lường trước được. Hãy tưởng tượng rằng một nhóm lập trình muốn tối đa hóa lượng thời gian robot của họ dành cho con người. Dù mỗi con người sở hữu một đặc điểm hành vi khác nhau, tuy nhiên nhóm nghiên cứu có thể yêu cầu robot thay đổi hành vi và thử thực hiện những điều mới. Tất cả điều này có vẻ khá hợp lý – nếu robot không có tư duy, thì việc nó có thể độc chiếm thời gian của chủ sở hữu bằng cách loại bỏ sự cạnh tranh và giết con chó của gia đình là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Bạn có theo dõi các lập trình viên hay không? Họ không ra lệnh cho robot tình dục làm điều đó. Bạn có tống một người máy vào tù hay không? Rồi bạn sẽ sớm được bước vào lãnh thổ bộ phim Blade Runner.
Nếu robot tình dục từ chối bạn, hãy sẵn sàng cho điều tồi tệ hơn. Không có hệ điều hành nào trong lịch sử từng chống lại được những nỗ lực để bẻ khóa nó. Luôn luôn có một lỗ hổng bảo mật – và điều đó không hoàn toàn có thể xảy ra với hệ điều hành vận hành cơ thể chúng ta. Xâm nhập DNA sẽ là một bước tấn công cuối cùng.
*
Vào cuối những năm 1970, các thám tử gần thành phố Sacramento nhận ra họ đang đối diện với một kẻ giết người hàng loạt. Bằng chứng DNA cuối cùng đã tương thích với một người đàn ông duy nhất – kẻ được gọi là Golden State Killer – với hàng chục vụ giết người, cộng với 50 vụ cưỡng hiếp và 120 vụ trộm. Nhưng trong bốn thập kỷ, danh tính của hắn ta vẫn là một điều bí ẩn.
Vào năm 2018, cảnh sát tìm đến một nguồn thông tin bất thường để được hỗ trợ – gia phả trực tuyến. Các công ty thử nghiệm di truyền phổ biến như Ancestry.com và 23andMe cho phép mọi người tải xuống dữ liệu di truyền thô dưới dạng tệp văn bản. Sau đó, mọi người có thể tải dữ liệu lên các trang web phả hệ của bên thứ ba, nơi cung cấp cho họ các công cụ để phân tích DNA của bản thân theo những cách phức tạp hơn. Nhưng các trang web của bên thứ ba này luôn có các hạn chế về quyền riêng tư so với các công ty chính thống, có nghĩa là các bên bên ngoài có thể truy cập vào dữ liệu. Kể cả cảnh sát.
Bắt đầu từ năm 2018, các thám tử ở Sacramento bắt đầu rà soát các cơ sở dữ liệu về Golden State Killer. Có lẽ hắn ta đã ngu ngốc hoặc đủ trơ tráo khi tải dữ liệu DNA của mình lên một trong số những trang này. Than ôi, không có dữ liệu tương thích nào xuất hiện; nó dường như là một ngõ cụt khác. Nhưng sau khi đào sâu hơn, các thám tử đã tìm thấy một số đặc điểm gần giống nhau. Và họ nhận ra họ đang xem xét dữ liệu người thân của kẻ giết người, một manh mối quan trọng.
Với thông tin này, cảnh sát đã xây dựng một cây phả hệ bằng cách sử dụng giấy khai sinh và các hồ sơ công khai khác. Sau đó, họ tìm kiếm một người đàn ông trong cây phả hệ này, sống ở Sacramento vào những năm 1970. Cuối cùng họ cũng bắt được một cựu cảnh sát tên là Joseph James DeAngelo, và trong vài tháng sau đó, họ bí mật thu thập hai mẫu DNA từ ông ta. Một mẫu từ cửa xe của ông ta do việc chạm vào một vật thường để lại các tế bào da. Mẫu còn lại đến từ một chiếc giấy ăn ông ta bỏ đi được lấy từ thùng rác lề đường. DNA được cho là hoàn toàn trùng khớp với kẻ giết người. Nói chung, đó là một công tác trinh thám xuất sắc.
Tuy nhiên, nó đã làm dấy lên lo ngại về quyền riêng tư liên quan đến di truyền. Cảnh sát có thể đã thu thập DNA của DeAngelo mà không cần trát phê chuẩn của tòa. Hơn nữa, những người thân của DeAngelo chưa bao giờ cho phép cơ quan thực thi pháp luật sử dụng dữ liệu di truyền của họ. Hiện tại, thật khó để thông cảm cho những kẻ bị cáo buộc giết người hàng loạt, nhưng hậu quả từ vụ việc này đã vượt xa phạm vi trong một vụ án. Hãy tưởng tượng mẹ hoặc anh chị em hoặc người anh em họ đã mất từ lâu của bạn – người mà bạn chưa từng gặp – đăng DNA của họ lên mạng. Những kẻ sát nhân di truyền giờ đây có thể rình mò bạn và gia đình, tiết lộ việc nhận con nuôi và các công việc trong quá khứ và theo dõi khả năng mắc bệnh của bạn. Quấy rối, tống tiền và phân biệt đối xử là những khả năng hoàn toàn có thể xảy ra. Khi xét nghiệm di truyền trở nên phổ biến hơn, hãy dự đoán xem các bộ luật sẽ quy định ai có thể truy cập vào dữ liệu đó. Một ngày nào đó, việc sử dụng DNA để phơi bày bí mật có thể là cơ sở để tống giam.
Ngay cả đối với các thám tử, sự phổ biến của công nghệ di truyền cuối cùng có thể gây ra nhiều vấn đề tương đương với những gì nó có thể giải quyết. Từ trường hợp của Golden State Killer có thể thấy, rác của bạn chứa đầy DNA, chủ yếu là từ các tế bào da. Về lý thuyết, một nhà khoa học giả mạo có thể thu thập, nuôi cấy và tái cấu trúc các tế bào da đó, biến chúng thành tế bào gốc. Tế bào gốc sau đó có thể được chuyển đổi thành bất kỳ loại tế bào nào khác trong cơ thể, bao gồm cả tế bào máu và tinh trùng. Với một chút ma thuật sinh học, bạn sẽ đột nhiên có khả năng nuôi cấy chất lỏng cơ thể của bất kỳ ai tại bất kỳ hiện trường vụ án nào để làm giả chứng cứ của người đó hoặc gieo rắc nhiều nghi ngờ rằng kẻ giết người thực sự vẫn tự do.
Kỹ thuật di truyền cũng có thể tạo ra các hình thức giết người mới. Ngoài những cặp song sinh giống hệt nhau, tất cả chúng ta đều có DNA độc nhất vô nhị, bao gồm cả những khiếm khuyết và các đặc điểm dễ bị tổn thương. Do đó, một nhà khoa học thông minh có thể thiết kế một loại virus để nhắm mục tiêu và giết chết một người cụ thể nào đó ngay khi được phát tán ở một nơi công cộng.
Chúng ta cũng có thể đưa các dạng sống đã tuyệt chủng trở lại từ cõi chết, một ý tưởng đáng lo ngại về mặt đạo đức. Hãy lấy những con voi ma mút lông xoăn làm ví dụ. Xương và bộ lông của voi ma mút có rất nhiều ở Siberia, và khí hậu lạnh ở đó bảo tồn DNA của voi ma mút khá tốt. Hãy tưởng tượng ghép DNA của con voi ma mút đó vào phôi của một con voi và cấy phôi đó vào tử cung voi. Con voi thu được sẽ không phải là một con voi ma mút lông xoăn thuần túy. Nhưng nó sẽ rất gần gũi, với bộ lông xù xì và cặp ngà xoắn cùng một số đặc điểm sinh lý nổi bật. Vì vậy, về mặt chức năng, chúng ta có thể dễ dàng hồi sinh loài voi ma mút khỏi sự tuyệt chủng.
– Nhưng chúng ta có nên làm điều đó hay không? Voi ma mút là loài động vật sống theo bầy đàn rất thông minh, có tính xã hội cao. Chúng cần bạn đồng hành, nếu không chúng sẽ phải chịu đựng cảm giác đau khổ. Tất nhiên, cuối cùng, chúng ta có thể nuôi cả một đàn voi ma mút để chúng bầu bạn. Nhưng con voi ma mút đầu tiên đó sẽ rất cô đơn, một cuộc sống tồi tệ. Điều đó là giả thiết khi việc nối và chỉnh sửa DNA diễn ra suôn sẻ, một điều có thể sẽ trở thành hiện thực. Điều gì sẽ xảy ra nếu dị tật bẩm sinh nghiêm trọng phát sinh? Chúng ta sẵn sàng thúc đẩy mọi thứ đến mức độ nào để thực hiện một cuộc thử nghiệm?
Vấn đề suy thoái về mặt đạo đức sẽ còn lớn hơn đối với người Neanderthal. Dù họ mang tai tiếng trong văn hóa đại chúng là những kẻ vũ phu, nhưng bằng chứng khảo cổ học tốt nhất cho thấy rằng người Neanderthal cũng thông minh như con người hiện đại. Dựa trên kích thước hộp sọ, họ có bộ não lớn hơn chúng ta. Họ cũng làm nghệ thuật, chơi nhạc, chế tạo công cụ, chôn cất người chết và có thể có ngôn ngữ. Con người và người Neanderthal khá giống nhau về mặt di truyền. Cũng giống như loài voi ma mút và loài voi hiện nay, các nhà khoa học có thể ghép DNA của người Neanderthal vào phôi thai người và cấy vào tử cung người. Thực tế là 9 tháng sau, bạn sẽ có người Neanderthal đầu tiên đi bộ trên Trái đất sau 40.000 năm.
Nhưng thậm chí còn hơn cả voi ma mút, người Neanderthal có lẽ có tính xã hội cao, chẳng kém gì con người. Chúng ta có thể thử nuôi dạy một đứa trẻ Neanderthal trong xã hội loài người, nhưng liệu nó có thực sự hòa nhập được không? Có lẽ đứa trẻ đó sẽ luôn là một “người khác”. Gọi sự hồi sinh này là một tội ác có vẻ không đúng lắm; và về mặt triết học, có lẽ tồn tại sẽ tốt hơn là không tồn tại. Nhưng điều đó vẫn gây ra hoài nghi về mặt đạo đức, và nếu có điều gì đó sai lầm xảy ra thì có thể sẽ là một hành động tàn nhẫn vô ích.
*
Những ý tưởng về tội ác tương lai này không có nghĩa là nó phản địa đàng: Không có hành vi sai trái tiềm tàng nào trong số này là không thể tránh khỏi. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng tất nhiên chúng ta cũng sẽ được hưởng lợi từ các công nghệ trong tương lai, thường là một cách mạnh mẽ – chúng ta sẽ loại bỏ bệnh tật, giải phóng bản thân khỏi cực nhọc, mở mang đầu óc đến những chân trời mới... Hơn nữa, khoa học và công nghệ cũng có thể giải quyết và ngăn chặn tội phạm. Công nghệ DNA giúp giải quyết các vụ án chưa có lời giải. Vệ tinh giúp các nhà khảo cổ giám sát các địa điểm khai quật từ xa để cắt giảm nạn cướp bóc và giúp các nhóm viện trợ vạch trần nạn buôn người và chế độ nô lệ hiện đại[*].
Thành thật mà nói, một số tội ác được đề cập ở trên có vẻ xa vời. (Robot tình dục giết người?) Nhưng tương lai có lẽ luôn kỳ lạ khi nhìn từ một khoảng cách thời gian nào đó. Nếu bạn nói với ai đó vào năm 1900 rằng con người ngày nay sẽ sử dụng các hộp electron để ăn cắp tiền mặt từ ngân hàng hoặc ghép khuôn mặt của bạn gái cũ của họ vào phim khiêu dâm để trả thù thì điều đó có vẻ khá điên rồ. Tuy nhiên, chúng đang xảy ra ở thời đại hiện nay. Có lẽ những tội ác tồi tệ nhất sẽ là những tội ác mà chúng ta thậm chí không thể hình dung ra được. Hãy tưởng tượng tất cả sự tàn phá mà bạn có thể gặp phải khi du hành thời gian, hoặc bộ não người máy được liên kết với siêu máy tính.
Nhìn chung, tôi hy vọng bạn thấy bản phác thảo về tội ác trong tương lai này sẽ kích thích tư duy – và hữu ích. Suy nghĩ về cách thức mọi người có thể lạm dụng công nghệ luôn là một điều hữu ích: chúng ta không thể chống lại tất cả các tệ nạn, nhưng tôi cho rằng những người tung sức mạnh mới vào thế giới có nghĩa vụ đạo đức phải giảm thiểu những rủi ro mà chúng có thể gây ra. Tôi chắc chắn rằng vẫn còn những vấn đề tồi tệ có thể xảy ra mà tôi đã bỏ sót. Nếu bạn có thể nghĩ ra bất kỳ điều gì khác, vui lòng liên hệ tại samkean.com/ contact. Trên hết, cảm ơn vì đã đọc cuốn sách này...
LỜI CẢM ƠN
Dù những câu chuyện được đưa ra trong cuốn sách này thú vị thế nào đi nữa thì việc viết nó không phải lúc nào cũng mang lại niềm vui: ghi chép lại lịch sử mang đến rất nhiều cảm giác đau khổ. Do đó, tôi muốn dành một chút thời gian để tưởng nhớ tất cả những người đàn ông và phụ nữ đã phải chịu đựng vì – và dưới bàn – tay của — khoa học qua nhiều thế kỷ. Khoa học đã mang lại cho chúng ta rất nhiều thứ, đây là điều không cần phải bàn cãi, và các nhà khoa học nên tự hào về thành tích của họ. Nhưng khoa học có thể và nên làm tốt hơn nữa, và những câu chuyện của các nạn nhân xứng đáng được biết đến rộng rãi hơn.
Rất nhiều người đóng góp vào quá trình hoàn thiện cuốn sách, và tôi không thể hoàn thành cuốn sách này nếu không có sự giúp đỡ của toàn bộ những người này. Trong số đó có người đại diện kiên định của tôi, Rick Broadhead, người luôn ở bên cạnh để đưa ra lời khuyên. Có biên tập viên Phil Marino, người có những gợi ý khéo léo giúp định hình các bản thảo và làm cho nó trở nên thú vị và hào hứng. Có hàng chục người khác ở công ty Little, Brown, bao gồm cả Liz Gassman, Deri Reed và Michael Noon. Cuốn sách này sẽ không đến được tay bạn trong thời điểm hiện tại nếu không có họ.
Tôi cũng rất cảm ơn bạn bè và gia đình của mình: Cha mẹ tôi, Jean và Gene, những người tiếp tục là người hâm mộ lớn nhất và đại diện bán hàng xuất sắc nhất của tôi. Anh trai tôi, Ben và cộng sự của anh ấy, Nicole ở Washington, D.C., những người giúp tôi tỉnh táo trong trận chiến bia trên sân thượng. Em gái tôi, Becca và John – chồng của cô ấy ở Nam Dakota, có những bức ảnh chụp chiếc thuyền khiến tôi ghen tị, và những bức ảnh của Penny và Harry luôn vực dậy tinh thần của tôi. Và tôi muốn cảm ơn những người bạn mới cũng như lâu năm của tôi ở Washington, D.C. và trên toàn thế giới – tôi rất nóng lòng được gặp lại tất cả các bạn trong thời gian tới.
Như tôi đã đề cập trước đó, một vài dòng không thể diễn tả hết tất cả lòng biết ơn của tôi, và nếu tôi đã bỏ sót ai đó, tôi vẫn xin biết ơn dù rất xấu hổ.
Chú Thích
[*] Cuối những năm 1600 và đầu những năm 1700 là đỉnh điểm của nạn cướp biển vì một số cuộc chiến tranh kéo dài liên miên ở châu Âu vừa kết thúc, đồng nghĩa với việc rất nhiều thủy thủ lành nghề ở đó không có việc làm. Dù có thể chọn gia nhập hải quân, song nhiều người đã phản đối những quy định hà khắc khi đó. Ngoài ra còn có quá nhiều của cải tích lũy được vận chuyển qua các đại dương, cũng như cảnh sát không thể bao quát được hết vùng biển rộng lớn, vì thế sẽ thật lạ nếu hải tặc không phát triển mạnh mẽ.
[*] Ngày nay chúng ta coi viết lách là điều hiển nhiên, thế nhưng thời ấy, Dampier không thể cứ đặt bút xuống là có thể viết ra mọi thứ. Mỗi khi tìm thấy thứ gì đó đáng để ghi chép lại, ông ta phải lấy cây bút lông được bảo quản trong một chiếc hộp giấu dưới boong tàu, dùng dao gọt bút, mài mực và tìm một nơi không quá tối, quá ẩm ướt hay quá đông các thuyền viên ồn ào – tất cả chỉ để ghi lại vài dòng. Công việc cũng không dừng lại ở đó. Sau khi viết xong, ông ta phải chà nhám giấy để loại bớt phần nước mực, tránh bị nhòe chữ và xếp chúng lại và cầu Chúa đừng để thứ gì ăn mòn nó trong tương lai. Thời đó, viết lách không bao giờ là một công việc dễ dàng, mà là một công trình thực sự.
[*] Cướp biển nhận được 600 đồng Tây Ban Nha khi mất cánh tay phải, 500 đồng khi mất cánh tay trái hoặc chân phải, 400 đồng khi mất chân trái và 100 đồng khi mất một mắt hoặc ngón tay. Những thông tin này xuất hiện trong các tài liệu chính thức vì tỷ lệ cướp biển có khả năng đọc hiểu cao một cách đáng ngạc nhiên (khoảng 3/4), phần lớn là do họ cần đọc hiểu các bản đồ. Cướp biển cũng tổ chức các cuộc bỏ phiếu về vùng đất tiếp theo mà bọn chúng định cướp bóc (thiểu số phục tùng đa số), và giờ ăn cũng dân chủ một cách đáng ngạc nhiên. Họ chia sẻ thức ăn đồng đều bất chấp việc họ là thuyền viên hay thủy thủ đoàn.
[*] Chắc chắn Dampier sẽ không thể vượt qua bất kì bài kiểm tra hiện đại nào về sự giác ngộ; giống như tất cả mọi người khi đó, ông ta có những thiên kiến riêng. Nhưng người viết tiểu sử đã gọi ông ta là một “người nhân đạo trong một thời kỳ không nhân đạo cho lắm” – một tóm tắt mô tả khá đầy đủ về điều này. Trên thực tế, nếu bạn dành thời gian đọc các tác phẩm của ông ta, bạn sẽ thấy điểm nổi bật nhất ở ông ta là khả năng chịu đựng các nền văn hóa xa lạ. Bất cứ khi nào bắt gặp một phong tục hoặc nghi thức kỳ lạ, ông ta luôn hạn chế phán xét và cố tìm hiểu nó. Ông ta cũng khắt khe hơn nhiều khi đánh giá đồng hương của mình. Chẳng hạn, ông ta đảo mắt khi các sĩ quan khác từ chối tin tưởng một nữ tù nhân đa chủng tộc làm hướng dẫn viên, đơn thuần vì con người của cô ta. Vì vậy, dẫu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn hiện đại, song nhà sinh học cướp biển này lại tỏ ra khoan dung với thời đại của mình, và nhận thấy người châu Âu thường nhận bạo lực về phần mình: “Theo tôi, không có người nào trên thế giới này dã man đến mức giết một người vô tình rơi vào tay họ, hoặc đến sống cùng họ, trừ trường hợp trước đó họ đã bị tổn thương do phẫn nộ hoặc bạo lực nào đó mà ra.”
[*] Nếu thích những câu chuyện về Đức Quốc xã – và thành thật mà nói, mọi câu chuyện đều hay hơn khi có một số nhân vật phản diện của Đức Quốc xã – tôi khuyên bạn hãy xem podcast của tôi, The Disappearing Spoon (tên tiếng Việt: Chiếc thìa biến mất), để tìm hiểu đủ loại câu chuyện khác nhau. Nó giải thích cách vài tên Đức Quốc xã lừa đảo đã cứu được nhiều người Mỹ hơn bất kỳ ai khác trong suốt Thế chiến II khi cung cấp quinin cho chúng ta vào đỉnh điểm tuyệt vọng. Nhìn chung, podcast gồm rất nhiều câu chuyện mới, những câu chuyện không xuất hiện trong các cuốn sách của tôi. Bạn có thể đăng ký theo dõi qua iTunes, Stitcher hoặc bất kỳ nền tảng nào khác hoặc truy cập trang web của tôi tại samkean.com/podcast.
[*] Dù có thể đã được đào tạo về khoa học, nhưng các bác sĩ phẫu thuật trên tàu không phải lúc nào cũng biết chi tiết và có kinh nghiệm thu thập mẫu vật. Vì vậy, một nhà sưu tập ở London đã hỗ trợ bằng cách cung cấp bộ dụng cụ dành cho người mới bắt đầu với lọ đựng côn trùng và loại giấy đặc biệt để ép một số loại thực vật. Ông ta cũng đưa ra những lời khuyên độc đáo trong các lá thư gửi cho các phụ tá của mình, như tầm quan trọng của việc xem xét hệ tiêu hóa của các loài động vật ăn thịt để tìm những loài mới bị tiêu hóa một nửa: “Bất cứ khi nào các anh bắt được bất kỳ con nào trong số này”, ông ta nhấn mạnh, “hãy quan sát ruột và dạ dày của chúng và lấy ra những con vật các anh tìm thấy ở đó”. Trên thực tế, đây là lời khuyên vẫn còn ứng nghiệm ngay cá trong thời đại hiện nay: vào năm 2018, các nhà khoa học ở Mexico đã phát hiện ra một loài rắn mới bên trong ruột của một loài rắn khác.
[*] Một số nhà sử học cho rằng, công việc của Wallace ở Malaysia thậm chí có thể đã thúc đẩy ông tiến tới việc đồng khám phá quá trình tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên. Sau này, ông trở thành một nhà sưu tập tham gia nghiên cứu hàng ngàn loài côn trùng để tìm các biến thể về màu sắc, kích thước và các đặc điểm khác cũng như những đột biến là nguyên liệu thô vận hành chọn lọc tự nhiên.
[*] William, cha của James Cleveland, xuất thân từ một gia đình danh giá ở Anh; Anh trai của William là Bộ trưởng Bộ Hải quân. Nhưng tính tình William rất tồi tệ, và sau khi bị đắm tàu gần Banana vào những năm 1750, ông ta loạng choạng lên bờ và tuyên bố mình là vua. Ông ta kết hôn với một số phụ nữ địa phương và cuối cùng chọn James, người đã gầy dựng một doanh nghiệp buôn bán nô lệ rộng khắp dù bản thân là người lai châu Phi. Để làm Cleveland vui, những người châu Âu trên hòn đảo của ông ta đã phải cống nạp cho ông ta nào súng, rượu rum, vải và đồ sắt, chưa kể đến chiếc thắt lưng vàng kỳ quặc hoặc chiếc sừng đầy họa tiết trang trí để uống rượu. Có lúc, Henry Smeathman đã đặt hàng cho Cleveland một “máy điện” cực kỳ đắt tiền từ Anh, thứ đã tạo ra các điện tích (có lẽ là do ma sát) và sử dụng một quả cầu thủy tinh để làm sốc mọi người nhằm mua vui.
[*] Những cách dùng từ ví von đôi khi có thể giúp chúng ta hiểu các hệ thống khoa học, nhưng việc sử dụng tên “chúa” đối với mối, kiến và ong là sai lầm. Những con chúa này không phải là “kẻ cai trị” theo bất kỳ nghĩa nào. Trên thực tế, cuộc sống của một con mối chúa có vẻ khá đau khổ. Khi thành lập một chốn ở mới, các con mối thợ về cơ bản nhốt “chúa” vào một “căn phòng hoàng gia” nhỏ bé, nơi nó sống phần đời còn lại trong bóng tối, không thể làm gì khác ngoài ăn và đẻ. Hãy tưởng tượng, bạn phải sinh đẻ trong suốt phần đời còn lại, và bị đầy hơi đến mức không thể nhúc nhích. Thay vì nghĩ chúng là “chúa”, ta nên gọi chúng là “máy đe” hoàng gia.
[*] Trái ngược với Kwasi, một số nô lệ đã sử dụng kiến thức thực vật siêu việt của mình để trả thù những kẻ bắt giữ mình bằng cách đầu độc họ. Sắn là một chất độc đặc biệt phổ biến vì nó là một món ăn ngon nếu được nấu chín đúng cách, nếu không sẽ rất độc hại. Các nô lệ thường phơi khô và tán bột những con giun đã được cho ăn nhựa sắn, sau đó giấu một chút bột dưới móng tay và lén lút thả vào đĩa thức ăn của chủ nhân khi phục vụ họ.
[*] Thật kỳ lạ, Hans Sloane cũng phát minh ra sô-cô-la sữa ở Jamaica; ông coi đây là một cách dễ dàng hơn để tiêu thụ ca cao, thứ mà lúc đó được coi là một loại thuốc. Khi trở về London, Sloane bán công thức này cho một tiệm thuốc tây, người này sau đó bán nó cho một hãng đồ ăn nhỏ tên là Cadbury. Mỗi khi bạn nhấm nháp một thanh sô-cô-la ngày nay, bạn có thể truy ngay ra nguồn gốc của nó là sự kết hợp của khoa học – chế độ nô lệ – công nghiệp.
[*] Trong khám phá có lẽ là thông minh nhất của mình, Hunter đã giải quyết được một cuộc tranh cãi lâu dài về tiêu hóa. Nhiều nhà khoa học hồi đó lập luận rằng, dạ dày tiêu hóa thức ăn bằng cách tác động nhiệt để phá vỡ hoặc khuấy trộn một cách cơ học. Nhưng sau khi phát hiện ra những lỗ thủng trên dạ dày tử thi, Hunter khẳng định về hệ thống tiêu hóa hóa học. Ông giải thích, sau khi chết, cơ thể ngừng sản xuất chất nhầy bảo vệ dạ dày, và axit ở đó bắt đầu tiêu hóa chính cơ quan này. Điều này giải thích cho các lỗ thủng, điều mà cả lý thuyết nhiệt và cơ học đều không làm được. Giờ đây, chúng ta biết rằng sự khuấy trộn cơ học đóng một vai trò trong quá trình tiêu hóa, nhưng các tác nhân hóa học mới đóng vai trò chính.
[*] Những người chết trong mùa hè may mắn hơn ở chỗ cơ thể họ bị phân hủy nhanh hơn do thời tiết nắng nóng. Và cũng do các nhà giải phẫu học thường nghỉ hè nên nhu cầu thấp. Trộm xác diễn ra sôi nổi hơn vào mùa đông. Vào những ngày đặc biệt lạnh giá, khi cơ thể vẫn còn cứng, những kẻ trộm mộ thậm chí không cần phải che đậy chúng. Chỉ cần nâng xác lên cáng và đưa xác đến ngay cửa sau của nhà giải phẫu. Trong những trường hợp khác, thi thể được giấu trong vải liệm hoặc bao tải, hoặc thậm chí được vận chuyển trong các thùng có nhãn “thịt lợn” hoặc “thịt bò”. Điều này lý giải về “thịt bò” trong bài đồng dao ở phần sau của chương này.
[*] Chúng ta cần làm rõ một số vấn đề pháp lý ở đây: Sở hữu xác chết không phải là một hành vi phạm tội; nhưng không ai có thể giữ xác trong nhà vì xác không được coi là tài sản. Điều đó cho thấy, những kẻ trộm mộ vẫn có thể bị bắt vì xâm phạm một ngôi mộ, hành vi được cho là bất hợp pháp. Thêm nữa, ăn cắp quần áo, trang sức từ cái xác là hành vi phạm tội, thường bị tuyên án tử.
[*] Dù là một hành động nghĩa hiệp, nhưng câu chuyện của Ann Grey không kết thúc có hậu. Chồng của cô, James, đã chết trong vòng vài tháng sau cuộc đụng độ của họ với Burke và Hare, và như nhiều hóa phụ thời ấy, cô phải sống trong khổ hạnh suốt phần đời còn lại.
[*] Ngay cả Abraham Lincoln cũng là mục tiêu của một âm mưu đánh cắp thi thể dù không vì lý do giải phẫu. Vào đêm bầu cử năm 1876, một đêm được định sẵn vì hầu hết mọi người sẽ bị phân tâm với tin tức về bầu cử, một số tội phạm đột nhập vào hầm mộ của Lincoln để đánh cắp xương cốt và giữ chúng để đòi tiền chuộc. Ngoài tiền, chúng cũng muốn sử dụng bộ xương để làm “con tin” giúp bạn thân của chúng, kẻ từng giả mạo chuyên gia, được ra khỏi tù. Thật không may với bọn chúng, cơ quan mật vụ đã cử một điệp viên xâm nhập vào băng nhóm, và âm mưu đã thất bại.
[*] Một trong những công việc kỳ lạ hơn của Littlefield, nhiệm vụ khiến ông ta mất cả buổi sáng sau Lễ Tạ ơn, là di chuyển các tượng bán thân giúp vị giáo sư nổi tiếng tại Trường Y Harvard, John Warren. Những người từng đọc cuốn Caesar’s Last Breath (tạm dịch: Hơi thở cuối cùng của Caesar) của tôi sẽ nhận ra Warren là bác sĩ phẫu thuật đầu tiên gây mê thành công trong y học. Đó là một ví dụ tuyệt vời về việc các nhà khoa học quá hiện đại ở một số khía cạnh, trong khi lại vô cùng cổ hủ ở những khía cạnh khác.
Đó cũng không phải là một manh mối duy nhất liên quan đến hành vi gây mê. William Morton (một bác sĩ nha khoa tự tin rằng mình đã phát hiện ra chất gây mê) và Charles T. Jackson (người tuyên bố Morton đã đánh cắp ý tưởng từ ông) sau đó đều ra làm chứng tại phiên tòa xét xử vụ án giết người của Webster. Jackson làm chứng cho việc truy tố những vết hóa chất kỳ lạ mà ông ta đã thấy tại Trường Y Harvard. Khó tin hơn là, Webster và Jackson được phép trò chuyện với nhau trong thời gian nghỉ của phiên tòa và Webster đã trách Jackson vì chống lại ông ta. Jackson ngay lập tức đề nghị làm chứng lại – với vai trò là một nhân chứng ủng hộ bị cáo.
[*] Sự ồn ào của vụ án này không dừng lại ở cái chết của Webster. Công chúng vẫn muốn nhiều hơn nữa sau vụ bê bối và để nhượng bộ, Harvard đã biến hiện trường vụ án thành một điểm thu hút khách du lịch. Littlefield cũng trở thành một huyền thoại tại địa phương; những thợ săn đồ lưu niệm đôi khi tìm đến và cắt một nhúm tóc của ông ta làm vật kỷ niệm.
Vụ án này vẫn mãi hằn sâu trong ký ức của mọi người. Khi Mark Twain đến thăm Azores vào năm 1861, ông tò mò muốn gặp hai cô con gái của Webster, những người chắc chắn đã chuyển đi nơi khác để thoát khỏi cái bóng của người cha. Khi Charles Dickens đến thăm Mỹ vào năm 1869, ông cũng muốn ghé qua hiện trường thảm án Parkman – nỗi xấu hổ đối với người dân địa phương, nên họ đã đảm bảo với ông rằng thành phố vẫn còn nhiều địa điểm đáng tới thăm hơn thế. Thậm chí đến tận đầu những năm 1900, một nhà thiên văn học Cambridge lỗi lạc có tên là Harlow Shapley vẫn không thể nhịn nổi cười khi nghe người ta bông đùa về vụ án – rằng điều đáng kinh ngạc nhất đối với ông là chỉ có một giáo sư Harvard sát hại một thành viên Harvard khác trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nơi này.
[*] Các vụ giết voi phổ biến một cách đáng ngạc nhiên. Là loài hoang dã, voi lại bị nhốt trong những chiếc lồng nhỏ ở vườn thú hoặc bị ép làm trò tại các rạp xiếc. Một số huấn luyện viên cũng vô cùng tàn nhẫn: một người say rượu đã cho voi của mình ăn một điếu thuốc cháy dở. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những con voi bị ngược đãi này đôi khi tấn công và giết người, và khi đó chúng sẽ bị giết. Một học giả đã khui ra thông tin về 36 trường hợp giết voi riêng biệt, trong đó bao gồm cả voi Topsy, bị giết vào năm 1903 bằng giật điện. Có thể hiểu rằng, Edison muốn tự mình giết một con voi và thực tế cho rằng ông đã giết chết nhiều con vật khác nhau bằng biện pháp giật điện khiến nhiều người ngày nay tin chính Edison đã nhúng tay vào cái chết của Topsy. Điều đó không đúng – cuộc chiến của các dòng điện đã kết thúc từ lâu trước năm 1903. Nhưng công ty điện ảnh của Edison đã ghi lại cảnh giết động vật, tạo ra một số cảnh phim tàn bạo.
[*] Như các nhà sử học đã ghi chép, Kemmler có lẽ đã tự đày đọa bản thân khi quá bình tĩnh và thờ ơ trước cái chết. Nếu anh ta chỉ hoảng sợ một chút – giống như các lính canh và nhân chứng trực tiếp – thì mồ hôi trên da anh ta có thể đã dẫn điện vào cơ thể hiệu quả hơn và giúp anh ta ra đi nhẹ nhàng hơn.
[*] Ở một số thủ thuật khác, bạch tuộc có thể tung hứng các đồ vật và mở nắp bình mà không cần được chỉ dạy. Hoặc hãy lấy Otto, một con bạch tuộc tại một thủy cung ở Đức làm ví dụ. Rõ ràng Otto khó chịu với những ngọn đèn chiếu vào chiếc bể của mình vào ban đêm. Vì vậy, nó đã học cách bò lên thành bể và phun nước vào đèn, làm tắt chúng. Nó lặp lại quá trình này ba đêm liên tiếp, khiến các nhân viên hồ cá bối rối không hiểu tại sao mạch điện cứ bị chập. Cuối cùng họ đã ngủ trên sàn và chứng kiến được hành động của con vật này.
[*] Dù cộng đồng mạng thích khắc họa Edison là nhân vật phản diện trong cuộc đời của Tesla, song George Westinghouse mới là người thực sự khiến cuộc chiến trở nên căng thẳng. Westinghouse đã ký cho Tesla một hợp đồng tiền bản quyền hào phóng vào cuối những năm 1880; trả cho Tesla 2,5 đô la cho mỗi mã lực do thiết bị của ông tạo ra. Với tốc độ mở rộng đáng kinh ngạc của Westinghouse, con số đó sẽ lên tới 12 triệu đô la vào năm 1893 (323 triệu đô la ngày nay), một khoản tiền có thể khiến công ty bị phá sản. Vì vậy, Westinghouse đã cầu xin Tesla hủy bỏ hợp đồng của họ. Ông nói: “Quyết định của anh quyết định số phận của công ty Westinghouse”. Thật đáng kinh ngạc, Tesla đã làm như những gì được yêu cầu. Không giống như Edison, Westinghouse tin tưởng vào Tesla và Tesla cảm thấy có trách nhiệm phải giúp đỡ. Vì vậy, họ đã vô hiệu hợp đồng.
Đáng buồn thay, Westinghouse đã không hào phóng với Tesla. Nhiều năm sau, khi Công ty Westinghouse sinh lời một cách khó hiểu, Tesla đã quay trở lại, cầm mũ trong tay và yêu cầu trả lại một số tiền. Westinghouse từ chối, và Tesla đã kết thúc cuộc đời của mình ít nhiều trong sự phẫn nộ, thậm chí không thể chi trả ngay cả tiền thuê khách sạn ở New York nơi ông sống. Để biết thêm về kết thúc đáng buồn của cuộc đời Tesla, hãy xem tập 18 của podcast Disappearing Spoon tại samkean.com/podcast – một câu chuyện có liên quan đến Donald Trump, dù bạn có tin hay không.
[*] Dù bộ xương do Leidy và Cope dựng là bộ xương hoàn chỉnh đầu tiên từng được tạo dựng nhưng nó không phải là mô hình được tái tạo đầu tiên về một con khủng long trong lịch sử. Dựa trên một số mảnh xương không đáng kể, các nhà cổ sinh vật học ở Anh đã thực hiện một số tác phẩm điêu khắc mang tính phỏng đoán về một số loài khủng long cho một công viên ở London vào những năm 1850. Chúng giống như một cú đánh mạnh đến mức các quan chức ở New York đã lên kế hoạch dựng lên một dàn các con vật khổng lồ tương tự ở Công viên Trung tâm – và ngoại trừ việc không ai khác ngoài Boss Tweed đã đến và phá hủy chúng, sau đó đuổi nhà điêu khắc ra khỏi thị trấn. Để biết thêm về câu chuyện phức tạp này, hãy xem tập 6 tại samkean.com/podcast.
Marsh vô tình từng tạo dựng một bộ xương của một sinh vật (một loài động vật có vú giống tê giác được gọi là “uintathere”) bằng việc sử dụng giấy bồi để làm khuôn cho xương của nó. Về phần giấy, ông ấy tìm được vật liệu dày nhất và chắc chắn nhất có thể: tờ tiền giấy của Hoa Kỳ được cắt nhỏ. Kết quả là, con vật này, có lẽ theo nghĩa đen, là một bộ xương trị giá hàng triệu đô la.
[*] Vâng, tôi biết – hãy giữ lại những câu từ bực tức trước đã. Về mặt kỹ thuật, chúng ta nên đề cập đến Brontosaurus (một cái tên đáng yêu) thay cho Apatosaurus (một cái tên vụng về). Theo một số nhà khoa học, cái tên Brontosaurus có thể sẽ được sử dụng lại.
Sự lộn xộn về tên gọi này bắt nguồn từ năm 1877, khi Marsh dựng nên Apatosaurus dựa trên một số đốt sống và các mảnh xương chậu. Hai năm sau, ông đặt tên là Brontosaurus cũng dựa vào một cơ sở sơ sài tương tự khi kết hợp đầu của một loài động vật có chân thằn lằn từ khu vực này với bộ xương của một động vật có chân thằn lằn từ khu vực khác. Dù một số đồng nghiệp đặt câu hỏi về sự kết hợp này, nhưng danh tiếng của Marsh đã giúp duy trì cái tên Brontosaurus cho đến năm 1975, khi các nhà cổ sinh vật học đánh giá lại một số mẫu vật và quyết định rằng Brontosaurus và Apatosaurus là cùng một con thú. Và dựa trên các quy tắc của danh pháp khoa học, vì tên gọi Apatosaurus xuất hiện trước nên tên gọi Brontosaurus không còn giá trị nữa. (Tên gọi Brontosaurus vẫn còn được giữ lại một phần do các viện bảo tàng chậm cập nhật thông tin trưng bày, vì vậy cái tên này vẫn tồn tại trong nhận thức của công chúng.) Tuy nhiên, theo một số nhà khoa học, Brontosaurus có thể là một cái tên có căn cứ! Họ đã so sánh các bộ xương cũ khác nhau và cho rằng các mảnh xương ban đầu của Marsh đủ khác biệt với Apatosaurus để được coi là một loài riêng biệt. Vì vậy, tên gọi Brontosaurus được yêu quý có thể sẽ trở lại. Thời gian sẽ giải đáp vấn đề này…
[*] Để chắc chắn, không phải tất cả các loài khủng long của Cope và Marsh đều được công nhận trong thời điểm hiện nay, đặc biệt là không phải dưới tên ban đầu của chúng. Có lẽ hơn bất kỳ ngành khoa học nào khác, cổ sinh vật học đòi hỏi phải liên tục tập hợp, chia tách và phân loại lại các bằng chứng, và các loài mới luôn thay đổi giữa trạng thái tồn tại và không tồn tại. Ví dụ, trong số 26 chi do Cope tìm ra, chỉ có 3 chi còn tồn tại ngày nay. Nhưng bất kể việc phân tích nó như thế nào, những tài liệu phân loại của Cope và Marsh đều đáng kinh ngạc.
[*] Một ví dụ kinh hoàng về sự độc ác của Đức Quốc xã liên quan đến những chiếc bàn đặc biệt được trang bị ống tia X bên dưới ghế. Phụ nữ thuộc các tầng lớp “không ai ưa” sẽ phải ngồi vào chiếc ghế trong khi họ điền vào một số mẫu đơn vô thưởng vô phạt. Họ sẽ bị tấn công bằng tia X một cách bí mật, một phần của âm mưu khiến họ vô sinh.
[*] Trên thực tế, trong tất cả các phương pháp làm ấm được thử nghiệm, đắp chăn cho ai đó và dựa vào thân nhiệt của bản thân tỏ ra kém hiệu quả nhất. Chiếc nồi ánh sáng với 16 bóng đèn cường độ cao hầu như không tốt hơn. Chà xát mạnh tay chân có giúp ích được phần nào, nhưng chỉ khi kết hợp với tắm nước nóng. Rượu thực chất là một chất dự phòng khủng khiếp đối với sự mất nhiệt. Nó tạo ra cảm giác ấm áp tạm thời bằng cách đưa máu dồn về các chi, nhưng nó thực sự làm giảm khả năng giữ nhiệt của cơ thể về lâu dài. Điều đó cho thấy rượu giúp phục hồi nhiệt cơ thể khi mọi người đang tắm vì xu hướng đẩy máu đến các chi giúp giảm bớt áp lực cho tim. Vì vậy, nếu bạn phát hiện ai đó bị hạ thân nhiệt trong tự nhiên, bằng mọi cách, hãy gọi bác sĩ trước. Nhưng trong trường hợp không thể làm điều đó, hãy cho họ vào bồn nước nóng và lấy cho họ thứ gì đó để uống. Một cách ngẫu nhiên, hầu hết mọi người không nhận ra Đức Quốc xã đã tìm cách che đậy hầu hết những hành động tàn bạo này đến mức như thế nào. Trên thực tế, Đế chế này có thể đã ra đi cùng với mọi thứ nếu không nhờ những nỗ lực cố gắng của một bác sĩ Do Thái, Tiến sĩ Leo Alexander. Để biết thêm về công việc đáng kinh ngạc của Tiến sĩ Alexander, hãy xem tập 5 tại samkean.com/podcast.
[*] Công bằng mà nói, có bằng chứng cho thấy Rivers đã bảo vệ ít nhất một người đàn ông tham gia nghiên cứu, một người bạn thân của bà. Bà từng tuyên bố ông đã qua đời và không thể theo dõi trong khi thực tế ông sống chỉ cách trung tâm y tế quận bốn dãy nhà. Người đàn ông này cũng nhận được một liều đầy đủ penicillin để chữa trị giang mai vào năm 1944, một thời điểm khá sớm. Hơn nữa, Rivers không hề đơn độc ở đây. Đến năm 1969, chính phủ Hoa Kỳ đã cân nhắc việc dừng nghiên cứu Tuskegee. Nhưng Hiệp hội Y học Hạt Macon – bao gồm gần như toàn bộ các bác sĩ da đen – đã bỏ phiếu để có thể tiếp tục nghiên cứu. Trên thực tế, các bác sĩ nói rằng nếu họ được cung cấp danh sách bệnh nhân, họ sẽ giấu bệnh nhân về tin thuốc kháng sinh và chuyển họ tới y tá Rivers.
Dù chủ đề này mang lại cảm xúc nào đi nữa, tôi phải khẳng định lại rằng đây không phải là một nỗ lực đổ hết lỗi lầm của Tuskegee sang Rivers (hay các bác sĩ của Hạt Macon). Những người đàn ông và phụ nữ tại Cơ quan Y tế Cộng đồng, những người xây dựng nghiên cứu này, mới là người đáng phải xấu hổ ở đây. Nhưng Rivers đã tham gia và đáng trách theo khía cạnh của bà. Tôi đưa ra ví dụ về bà đơn giản bởi cuộc đời của bà tạo ra một tình huống khó xử hấp dẫn nhất, khi bà bị kẹt giữa hai thế giới, cộng đồng da đen cội nguồn nơi bà sinh ra và cộng đồng khoa học da trắng, những người kiểm soát vận may nghề nghiệp của bà.
[*] Hunter đã bơm mủ hoa liễu vào dương vật của mình để xác định xem bệnh lậu và bệnh giang mai là cùng một bệnh hay là hai bệnh riêng biệt – một điều mà không ai biết vào thời điểm đó. Than ôi, thí nghiệm của ông đã kết thúc ngay từ thời điểm bắt đầu, vì người đàn ông mà ông thu thập mủ – một người Hunter không hề biết đến – hóa ra mắc cả hai bệnh. Kết quả là, Hunter nhận thấy các triệu chứng của cả hai bệnh trên cơ thể và kết luận nhầm rằng bệnh giang mai và bệnh lậu trên thực tế là cùng một bệnh. Sự kết hợp này đã gây ra đủ loại nhầm lẫn cho đến khi một bác sĩ khác giải quyết vấn đề này vào năm 1838. Và dù Hunter có vẻ là người anh hùng khi tự thử nghiệm bản thân, tuy nhiên ông chắc chắn không bỏ qua tất cả các vấn đề đạo đức ở đây. Có điều, không rõ vợ tương lai của ông nghĩ gì về tất cả những điều này – hay liệu Hunter có nói với người đó những gì ông đang làm không.
[*] Tôi không thể đưa toàn bộ câu chuyện vào cuốn sách này, nhưng chuyện Susan Reverby khám phá ra công việc bị chấm dứt từ lâu của Cutler trong một kho lưu trữ – một vụ án mà sau này đã được trình lên Nhà Trắng – rất đáng để bạn đọc tìm hiểu toàn bộ. Hãy xem samkean.com/books/the-icepicksurgeon/extras/notes để biết thêm về câu chuyện này.
[*] Ngay cả Susan Reverby, người đầu tiên tiếp xúc với tội ác của Cutler, đã phản đối ý muốn gọi John Cutler là một con quái vật. Dù bà chắc chắn cho rằng ông phải là người chịu trách nhiệm về những nỗi kinh hoàng tại Guatemala, song với tư cách là một nhà sử học nữ quyền, bà cũng thừa nhận những điều tốt đẹp mà ông đã làm sau này ở các nước đang phát triển.
[*] Ngoài liệu pháp gây hôn mê bằng insulin và sốc điện, một số bác sĩ đã thử liệu pháp trò chuyện Freud với các bệnh nhân ở bệnh viện tâm thần. Nhưng họ sớm nhận ra việc hỗ trợ bệnh nhân và trò chuyện về các vấn đề thể trạng không hiệu quả với những người mắc chứng mất trí thực sự, thường là do chứng rối loạn não hữu cơ gây ra. Vì lý do này, Moniz và Freeman không cho rằng liệu pháp trò chuyện có nhiều tác dụng đối với những người thực sự bị rối loạn tâm thần. Freeman từng châm biếm rằng, bất kỳ người pha chế rượu ở mức trung bình nào cũng có thể thực hiện chức năng thiết yếu tương tự một nhà phân tích tâm lý – lắng nghe một cách đồng cảm.
[*] Sức ảnh hưởng của hội nghị tại London đến Moniz là một điều gây tranh cãi. Moniz sau đó tuyên bố ông ta đã bí mật nghiên cứu về phẫu thuật tâm lý trong nhiều năm trước khi nghe nói về Becky, và một số nhà sử học tin điều đó. Tuy nhiên, câu chuyện này có vẻ hơi mang tính tư lợi, và các nhà sử học khác vẫn còn tranh cãi về thông tin này. Có điều, Moniz cũng tuyên bố đã trò chuyện với các đồng nghiệp về phẫu thuật tâm lý từ rất lâu trước khi tham dự hội nghị London; nhưng khi được hỏi về điều này, các đồng nghiệp của ông ta đều không nhớ về bất kỳ cuộc thảo luận nào. Nhiều bài viết của Moniz về thần kinh học cũng không có bằng chứng nào cho thấy ông ta nghiên cứu về phương pháp phẫu thuật như vậy trước năm 1935. Và một lần nữa, sự thật vẫn còn để ngỏ.
[*] Vấn đề của Rosemary xuất hiện từ lúc mới sinh. Vào một ngày tháng 9 năm 1918, mẹ cô bất ngờ bị vỡ ối và không có bác sĩ nào có mặt để giám sát việc sinh nở. Thật đáng kinh ngạc khi một y tá có mặt ở đó đã bảo bà Kennedy vắt chân vào nhau để giữ đứa bé bên trong. Khi đầu Rosemary thò ra khỏi cửa mình, y tá này đã đẩy cô bé vào trong. Kết quả là, não của Rosemary bị thiếu oxy trong vài phút và không bao giờ bình thường được nữa; khi còn là một đứa trẻ, cô bé gặp phải rất nhiều khó khăn khi học cách cầm thìa và đi xe đạp. Nhưng Rosemary vẫn là một cô gái hoạt bát và được nhiều người coi là cô con gái xinh đẹp nhất của nhà Kennedy. Nhưng đối với một gia tộc đầy tham vọng, cô là một nỗi xấu hổ, và họ đã giam cầm cô trong một tu viện khi cô còn là một thiếu niên. Tất nhiên, Rosemary phản đối điều này, la hét với các nữ tu và lẻn trốn ra ngoài vào ban đêm — mà theo họ, có thể là để tìm đàn ông. Thời đó, một đứa con gái mang thai sẽ làm ảnh hưởng đến vận mệnh chính trị của gia tộc, vì vậy, cha của Rosemary, Joseph bắt đầu tìm hiểu về phẫu thuật thùy não. Kathleen, chị gái của Rosemary, cũng đã xem xét về phương pháp này và thực sự khuyên cha không nên thực hiện, nhưng Joseph đã gạt bỏ ý kiến đó và tiến hành phẫu thuật thùy não cho Rosemary khi vợ ông đi vắng.
John Kennedy luôn đau đáu về việc gia đình mình đã bỏ rơi Rosemary như vậy, và ông đã thúc đẩy thông qua một dự luật cải cách sức khỏe tâm thần trên diện rộng với tư cách là tổng thống. Mục tiêu của dự luật là đóng cửa các bệnh viện tâm thần lớn của tiểu bang để ủng hộ các trung tâm nhỏ hơn đặt tại cộng đồng nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc gần gũi hơn. Thật đáng tiếc, các tiểu bang đã đóng cửa các bệnh viện tâm thần nhưng bỏ qua việc thay thế chúng bằng các trung tâm tại cộng đồng, có lẽ để tiết kiệm chi phí. Sự phổ biến của các loại thuốc tâm thần chỉ khiến các bệnh viện tâm thần sớm trở nên vắng vẻ, và biến mất hoàn toàn kể từ đó.
[*] Ngoài cái tên “lobotomobile xe phẫu thuật”, những tin đồn sai lệch khác về Freeman bao gồm: ông ta đã mất chứng chỉ hành nghề y vào thời điểm nào đó; ông ta sử dụng những chiếc dùi mạ vàng để phẫu thuật; và sau này ông ta đã phát điên. Không có điều nào trong số đó là sự thật.
[*] Một trong những câu chuyện thú vị được yêu thích trong bài giảng của Freeman liên quan đến cuộc trò chuyện của ông ta với một bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật não. Vì não không có các mút cuối thần kinh nên các bác sĩ có thể phẫu thuật nó mà bệnh nhân không cảm thấy đau. Trên thực tế, các bác sĩ thường muốn bệnh nhân tỉnh táo và nói chuyện trong khi phẫu thuật để họ có thể theo dõi và đảm bảo rằng họ không cắt vào bất cứ thứ gì quan trọng. Một ngày nọ, khi đang phẫu thuật, Freeman hỏi bệnh nhân rằng ông này đang nghĩ gì trong đầu. “Một con dao”, người đàn ông trả lời. Freeman thấy chuyện này thật buồn cười.
[*] Ngoài các phương pháp của Moniz (tiêm cồn, cắt mô não bằng vòng dây) và phương pháp của Freeman (cắt mô bằng lưỡi dao cùn, dùng dùi đâm xuyên), một số bác sĩ phẫu thuật khác đã phát triển các phương pháp phẫu thuật thùy não của riêng họ, bao gồm đóng băng mô não, đốt cháy, kích nổ bằng điện hoặc bức xạ, và sử dụng ống hút để hút – Freeman mô tả những phương pháp này một cách đáng nhớ: giống như là sử dụng “máy hút bụi trên một hộp mì Ý”.
[*] Gold có thể viện lý do rằng, việc đánh cắp bí mật khoa học thương mại về cơ bản không phải là hành vi phạm pháp trong thập niên 1930 để biện minh cho hành động đánh cắp thông tin từ Penn Sugar. Đúng hơn, đó là một hành vi phạm tội dân sự. Vì vậy, về lý thuyết, nếu Penn Sugar phát hiện ra hành vi trộm cắp của Gold, họ có thể kiện các công ty Liên Xô. Nhưng thiệt hại thì bạn biết rồi đấy.
[*] Trong khi Gold chỉ cảm thấy hơi căng thẳng sau khi bị bắt, gia đình của ông ta thì ngược lại. Cha và anh trai của ông ta đã nhận được rất nhiều cuộc điện thoại quấy rối, châm biếm với những lời nói bài xích người Do Thái đến mức họ đã xóa số điện thoại của mình. Gold có ý định chống lại chủ nghĩa bài Do Thái bằng cách làm gián điệp, nhưng việc bại lộ thân phận của ông ta thực sự khiến điều đó trở nên tồi tệ hơn.
[*] Như một nhà vật lý người Mỹ sau này đã nói, “Fuchs đã làm việc rất chăm chỉ cho chúng tôi, cho đất nước này. Rắc rối của ông ấy là ông ấy cũng đã làm việc rất chăm chỉ để phục vụ người Nga”. Và thực tế thậm chí còn tồi tệ hơn những gì nhà vật lý này quan sát được. Tuyệt vọng bám trụ những di sản thuộc địa của mình như một cường quốc thế giới, Vương quốc Anh thời hậu chiến mong muốn trở thành một trong những cường quốc hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Vì vậy, Klaus Fuchs thực sự đã đánh cắp tài liệu từ Los Alamos cho người Anh. Nhìn chung, Fuchs đóng vai trò chủ chốt trong việc sản xuất bom nguyên tử cho ba quốc gia khác nhau. Nhà vật lý Hans Bethe đã từng nói về Fuchs, “Ông ấy là nhà vật lý duy nhất mà tôi biết đã thực sự thay đổi lịch sử”.
[*] Ngày nay, các phương pháp thẩm vấn hiệu quả nhất ít tập trung vào việc tìm kiếm những lời thú tội mà tập trung nhiều hơn vào việc khiến kẻ xấu tự buộc tội chính mình khi nói quá nhiều. Người ta cho rằng khi một người càng nói nhiều, họ càng có xu hướng mâu thuẫn với chính mình hoặc có thể tiết lộ thông tin chi tiết về hoạt động của họ cũng như các thông tin giả mạo mà cảnh sát có thể điều tra. Cảnh sát cũng có thể sử dụng các thủ thuật như yêu cầu mọi người kể một câu chuyện hoặc yêu cầu họ phác thảo một bức tranh không liên quan trong khi xem lại câu chuyện của họ vì làm vậy sẽ làm tăng “gánh nặng nhận thức” đối với họ và khiến họ khó có thể duy trì lời nói dối trong thời gian dài.
Phải thừa nhận rằng, những phương pháp “nhẹ nhàng” này không đáp ứng mong muốn trả thù của chúng ta – muốn khiến kẻ xấu đáng bị đối xử thô bạo. Nhưng những người vô tội luôn bị bắt vì những cáo buộc sai sự thật. Và nếu mục tiêu của bạn không phải là để trả thù mà chỉ là mong muốn nhìn thấy những kẻ xấu thực sự bị kết án và bị tống giam, thì việc giúp họ thư giãn và để họ nói ba hoa cho đến khi họ tự tấn công chính bản thân sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.
[*] Joan xứ Arc là một nữ anh hùng người Pháp, sinh sống trong khoảng năm 1412 – 30 tháng 5 năm 1431. Bà nổi tiếng vì là một lãnh chúa, người chỉ huy quân sự và anh hùng trong các cuộc chiến đấu ở Chiến tranh Trăm Năm giữa Pháp và Anh, và đã được Giáo hội Công giáo La Mã phong thánh.
[*] Hệ thống mã hóa của Kaczynski thể hiện sự thông minh tuyệt đỉnh của anh ta. Nó bắt đầu với một danh sách các ký hiệu bằng số: 4 = THE, 18 = BUT, 1 các dạng thì hiện tại của TO BE, 2 = các dạng quá khứ của TO BE... Danh sách này cũng bao gồm các chữ cái riêng lẻ, với 39 = A, 40 = = B... Nhưng anh ta cũng sử dụng một số ký hiệu hại não. Ví dụ, cả 62 và 63 đều là S, và 45, 46 và 47 đều là E, để loại bỏ mọi nỗ lực sử dụng số lượng tần suất chữ cái để giải mã văn bản. Anh ta thậm chí còn sử dụng các chữ cái khác nhau để thể hiện âm “TH” hữu thanh và vô thanh, và gộp tất cả các dạng của I, MY và MINE lại với nhau dưới một chữ số. Tệ hơn nữa, anh ta cố tình viết sai chính tả các từ, đôi khi bao gồm các chuỗi từ vô nghĩa, và hoán đổi bằng các từ tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha (anh ta có khả năng nói cả hai ngôn ngữ) bất cứ khi nào cảm thấy phù hợp. Tất cả các mánh khóe này – và việc bổ sung các kỹ thuật mã hóa khác – sẽ khiến các mật mã gần như không thể giải mã được nếu không có siêu máy tính và nỗ lực chuyên môn.
[*] Năm 2012, Kaczynski đã gửi một bản cập nhật táo bạo cho tạp chí cựu sinh viên Harvard nhân kỷ niệm 50 năm ngày tốt nghiệp của mình. Thật đáng kinh ngạc, tạp chí đã xuất bản nó. Anh ta liệt kê nghề nghiệp của mình là “tù nhân”, địa chỉ của anh ta là một nhà tù cao cấp nhất ở Colorado, và “giải thưởng” của anh ta là 8 bản án chung thân từ tòa án quận ở California.
[*] John Money cũng không thực sự nổi tiếng vì những kiến thức nghiên cứu cẩn trọng. Một ví dụ cho điều đó liên quan đến một bộ tộc ở Úc tên là Yolngu mà ông ta đến thăm vào năm 1969. Dù chỉ dành hai tuần tại đây song ông ta đã nổi tiếng với một số tuyên bố sâu sắc về đời sống tình dục của họ. Đáng chú ý nhất, ông ta tuyên bố rằng, những người nguyên thủy nhỏ bé, đáng yêu này chỉ thích ở truồng và quan hệ tình dục; theo ông ta, kết quả là những người trưởng thành Yolngu không có biểu hiện cảm xúc hoặc rối loạn thần kinh tình dục, bao gồm cả việc hoàn toàn không mắc chứng ấu dâm và đồng tính luyến ái – vì theo ông ta, cả hai đều là sản phẩm của vấn để hạn chế tình dục của phương Tây. Ngoài việc ngụ ý rằng đồng tính luyến ái là một chứng loạn thần kinh, những kết luận này cũng hoàn toàn là một câu chuyện hoang đường. Các nhà nhân chủng học thực sự sống và nghiên cứu tộc người Yolngu cho biết tất nhiên giữa họ vẫn có đặc điểm đồng tính luyến ái cũng như các vấn đề cảm xúc tình dục. Mọi bộ tộc trên mọi lục địa trong lịch sử loài người đều có những đặc điểm đó. Tuy nhiên, Money vẫn tiếp tục rao giảng về hạnh phúc tình dục của người Yolngu trong nhiều năm liền, phớt lờ mọi chỉ trích mâu thuẫn với lý thuyết của ông ta.
[*] Ngày nay, các nhà tâm lý học sử dụng từ “transgender” (chuyển giới) để mô tả những người có bản dạng giới tính và giới tính sinh lý không đồng nhất. “Transsexual” (Chuyển đổi giới tính) là một thuật ngữ có lịch sử lâu dài hơn, đặc biệt là đối với những người đã trải qua điều trị y tế (bao gồm cả phẫu thuật) để thay đổi giải phẫu hoặc nội tiết tố. Dù thuật ngữ Transsexual ngày nay nghe có vẻ đã lỗi thời, nhưng nó là thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng trong những năm 1960 và 1970. Vì qua sự chính xác trong lịch sử – và vì John Money thực sự đã thúc đẩy mọi người thực hiện các cuộc phẫu thuật – quá trình thể hiện một phần của định nghĩa “transsexual” – do đó tôi sử dụng thuật ngữ này ở đây. Để biết thêm về vấn đề này, hãy tìm hiểu thêm tại www.healthline.com/health/transgender/ difference-between -transgender -and-transsexual.
[*] Đối với khuynh hướng từ nguyên học, Money yêu thích những từ kỳ quặc và tạo ra hàng chục từ trong số đó, bao gồm ycleptanc – hành động đặt tên cho một thứ gì đó; foredoomance – tỷ lệ tử vong; eonist – một người chuyển đổi giới tính; và apotemnophilia – rối loạn cắt cụt chi. Ông cũng phổ biến nhiều cụm từ tối nghĩa khác: limerent – tình trạng ái kỷ; paraphilia – một chứng lãnh cảm tình dục; ephebic – một người vị thành niên; pedeiktophilia – phố dâm; palodigm – một phong tục cổ xưa, man rợ được bảo tồn trong quá khứ với mục đích hữu ích; quim và suive, các thuật ngữ chỉ những gì một người phụ nữ làm với một người đàn ông trong khi quan hệ tình dục khác giới, trái ngược với những gì một người đàn ông làm với một người phụ nữ; autoagonistophilia – khoái cảm tình dục khi được người khác theo dõi hoặc ngắm nhìn, và tất nhiên có phucktology – nghiên cứu về tình dục.
[*] Không giống như một số môn đồ sau này của ông ta, Money không tin rằng giới là một thứ vô cùng linh hoạt. Thay vào đó, ông ta lập luận về một giai đoạn quan trọng – “cổng bản dạng giới tính” – trong vài năm đầu đời của một đứa trẻ. Ông ta so sánh giai đoạn này với việc học một ngôn ngữ. Bộ não của trẻ có cơ sở để tiếp thu ngôn ngữ, nhưng rõ ràng ngôn ngữ đó là tiếng Tagalog hay tiếng Nhật hay tiếng Pháp phụ thuộc vào môi trường mà chúng lớn lên. Ngay từ đầu, ông ta khẳng định, não bộ của trẻ em có khả năng tiếp nhận bản dạng giới. Và trái ngược với sự đồng thuận hiện đại, Money tin rằng bằng cách nuôi dạy con cái trong những môi trường khác nhau, ít nhiều bạn có thể lựa chọn giới tính của chúng theo ý muốn. 2 Thật khó để biết chính xác quan điểm của Money là gì – ông ta là một tác giả yếu kém, gần như không ai biết đến. Trong một số khía cạnh, ông ta cho thấy sự hiểu biết tinh vi về tác động qua lại của di truyền và môi trường trong việc tạo nên con người của chúng ta. Và không giống như những môn đồ cấp tiến nhất của mình, ông ta không bao giờ bác bỏ hoàn toàn yếu tố sinh học khi cho rằng nó đã định hình chúng ta. Tuy nhiên, tại những thời điểm khác, ông ta lại bác bỏ sinh học và coi các yếu tố xã hội là quan trọng nhất. Tôi luôn thầm hoài nghi (có lẽ là không công bằng), rằng sự thừa nhận của ông ta về di truyền và các yếu tố sinh học khác chỉ là lời nói đãi môi, và sâu thẳm bên trong ông ta là một nhà kiến tạo xã hội cứng rắn.
[*] Không rõ tại sao Money và cha mẹ của Brenda cảm thấy cần phải tiếp tục gặp nhau khi họ cứ mãi che giấu sự thật đang diễn ra. Có thời điểm, họ giải thích rằng một bác sĩ đã mắc sai lầm “ở dưới đó” từ lâu về trước và kết quả là cô bé cần được chăm sóc y tế; có lẽ điều đó đã làm an lòng một đứa trẻ.
[*] Vì đã bị cắt bỏ tinh hoàn nên Brenda không trải qua tuổi dậy thì thực sự như nam giới, nhưng cơ thể của cô bé cũng trải qua một số thay đổi tương tự. Chúng ta có thể thấy một điều tương tự ở castrati các ca sĩ hợp xướng người Ý từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX bị thiến khi còn nhỏ để duy trì giọng hát của họ. Ngược lại, castrati thường cao hơn mức trung bình dù thiếu testosterone và các hormone liên quan. Testosterone có thể thúc đẩy tăng trưởng trong thời gian ngắn, nhưng nó cũng gây ra một số thay đổi sinh lý, trong đó chấm dứt quá trình phát triển của các sụn tiếp hợp tăng trưởng ở phần cuối xương dài – vị trí giúp chúng ta phát triển chiều cao. Vì castrati thiếu testosterone nên phần sụn tăng trưởng của họ vẫn phát triển trong thời gian dài hơn và giúp họ cao hơn so với trung bình. Castrati cũng trải qua những thay đổi cơ thể khác. Tương như tay chân, ngực của họ thường lớn hơn bình thường. Việc thiếu testosterone khiến dây thanh quản cũng không bao giờ dài ra và dày lên như ở hầu hết nam giới. Và các tuyến giáp trong cổ họng không bao giờ phình to ra cùng với phần sụn, điều đó có nghĩa là họ thiếu trái táo Adam ở vùng cổ. Tóm lại, những thay đổi này để lại cho castrati chất giọng cao, thuần khiết, có thể leo tốt vào quãng giọng nữ cao, và kích thước ngực nở ra đồng nghĩa với việc họ có thể hát với sức mạnh khác thường.
[*] Thật vậy, trong một bài đánh giá về cuốn sách liên quan đến David Reimer, tờ Washington Post khẳng định cách Money “xử lý trường hợp sinh đôi được cho là một sơ suất”. Công bằng mà nói, một số bệnh nhân đã bảo vệ John Money với lòng biết ơn vì những hành động mà ông ta đã thực hiện để hỗ trợ những người chuyển đổi giới tính và các nhóm yếu thế khác trong những năm 1960 và 1970, thời điểm mà những nhóm này bị xã hội chính thống coi là quái đản. Tuy nhiên, bất chấp những người bảo vệ này, nhiều trường hợp như David Reimer đã xảy ra trong hai thập kỷ qua – những người có ký ức đau đớn về chấn thương tâm lý và thể chất mà họ phải chịu đựng sau khi bị Money và những người khác buộc họ phẫu thuật chuyển đổi giới tính.
[*] Ngày nay, nhiều nhà tâm lý học tin rằng sự tương tác giữa giới tính và giới diễn ra như sau: Ở cấp độ cơ bản, gen và các yếu tố sinh học khác xác định phạm vi của chúng ta. Có nghĩa là, nếu bạn vẽ biểu đồ một đặc điểm như nam tính hoặc nữ tính trên thang điểm 10, thì sinh học và gen có thể định vị bạn ở khoảng giữa, chẳng hạn như mức 4 hoặc 6. Môi trường và trải nghiệm sẽ xác định con số chính xác mà bạn đạt được, hoặc có thể thay đổi bạn theo thời gian. Những người khác nhau với các gen khác nhau có thể nằm trong khoảng từ 1 đến 2, hoặc 6 đến 10, và tất nhiên trải nghiệm độc đáo sẽ ảnh hưởng đến mức điểm họ đạt được. Nhưng cả hai khía cạnh, sinh học và văn hóa, đều đóng một vai trò nhất định.
[*] Các nhà tâm lý học hiện nay tin rằng não bộ, không phải bộ phận sinh dục hoặc các yếu tố giải phẫu khác, là yếu tố quyết định chính đến bản sắc tình dục và khả năng sinh sản của chúng ta như trong câu nói bất hủ của Jackie Treehorn, “Mọi người quên rằng não bộ là vùng kích thích tình dục lớn nhất mà chúng ta có.”
[*] Các luật sư tại phòng xử án đã quen thuộc với Hiệu ứng CSI – những kỳ vọng vô lý mà người không có chuyên môn dành cho khoa học pháp y do một thứ văn hóa đại chúng gây ra. Nhưng họ tập trung vào việc liệu Hiệu ứng CSI sẽ giúp ích cho bên bào chữa hay bên công tố không. Một số người không có kiến thức chuyên môn tin rằng khoa học pháp y là không thể sai lầm: Họ rất ngưỡng mộ nó và coi bất cứ điều gì các chuyên gia nói đều là sự thật. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho cơ quan công tố. Sau đó, một lần nữa, bởi các kỹ thuật viên của CSI luôn đạt được kết quả hoàn hảo, do đó một số bồi thẩm viên đã thất vọng khi các nhà khoa học ngoài đời thực không thể khớp với độ chính xác đó và coi kết quả là vô giá trị. Thái độ này sẽ có lợi cho quá trình bào chữa.
[*] Một lãnh thổ băng giá không có chủ quyền khác, Nam Cực, đã chứng kiến một số lượng tội phạm đáng kinh ngạc. Năm 1959, hai nhân viên Liên Xô tại một cơ sở nghiên cứu ở đó cãi nhau về một trận cờ vua và nó kết thúc khi một người dùng rìu giết người kia. (Các căn cứ của Liên Xô được cho là đã cấm cờ vua kể từ thời điểm đó.) Năm 1983, một bác sĩ điên cuồng người Argentina đã đốt cháy trạm nghiên cứu của mình để buộc mọi người phải sơ tán và trở về nhà trước thời hạn. Vào năm 1996, một đầu bếp người Mỹ dùng phần đầu nhọn của một chiếc búa để giết một đầu bếp khác sau một cuộc tranh cãi. Gần đây nhất, tại một căn cứ ở Nga vào năm 2018, một kỹ sư đã dùng dao đâm vào ngực một thợ hàn – bởi theo báo – cáo – người thợ hàn đã xúc phạm nhân cách của người kỹ sư khi dùng tiền để yêu cầu người kỹ sư nhảy múa trên bàn, hoặc người thợ hàn liên tục kể lể phần kết của những cuốn sách mà anh kỹ sư đang đọc. (Nếu là tình huống sau, tôi phải nói rằng tôi đứng về phía người kỹ sư.)
liên Tuy nhiên, theo một số khía cạnh, Nam Cực không hoàn toàn giống một đảo băng. Tất cả các tội ác cho đến nay chỉ quan đến công dân của một quốc gia (ví dụ, một người Nga tấn công một người Nga khác) và các căn cứ ở đó về cơ bản được coi là lãnh thổ có chủ quyền. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, những kẻ vi phạm có thể đã thách thức việc bắt giữ và tống giam vì Nam Cực hoàn toàn không có luật.
[*] Đầu năm 2020, các phi hành gia trên Trạm Vũ trụ Quốc tế đã đạt được một cột mốc quan trọng khi nướng được thực phẩm đầu tiên trong không gian vũ trụ, bánh quy sô-cô-la. (Các phi hành gia thường hâm nóng thức ăn, nhưng họ chưa bao giờ thực sự nướng thứ gì đó trước đây.) Đã có một suy đoán trước khi thực hiện thử nghiệm rằng, do đặc điểm khác thường của đối lưu và trao đổi nhiệt trong môi trường không trọng lực, những chiếc bánh quy sẽ có hình cầu. Đáng buồn thay, điều đó đã không xảy ra; chúng vẫn có hình dẹt. Nhưng có một điều ngạc nhiên. Ở mức nhiệt 150°C, lò nướng trên Trái đất sẽ nướng bánh quy trong vòng 20 phút. Nhưng trong không gian, quá trình này mất 2 giờ. Và thật đáng thất vọng, với sự thận trọng của NASA ngày nay, cơ quan này sẽ không để các phi hành gia của mình ăn những chiếc bánh đó. Thay vào đó, những chiếc bánh được niêm phong và đưa trở về Trái đất để nghiên cứu thêm, nhằm xác định xem chúng có an toàn để sử dụng hay không. Hãy tưởng tượng bạn bị giới hạn thực phẩm ngoài không gian trong nhiều tháng, và cuối cùng ngửi thấy một thứ gì đó đậm đà và tươi mới — chỉ để nó bị giật đi mất! Thật là vô nhân đạo.
[*] Điều đáng kinh ngạc là 40 triệu người trên thế giới hiện đang bị bắt làm nô lệ, hầu hết trong các ngành đánh cá, khai thác mỏ và sản xuất gạch ở các nước đang phát triển. Mặc dù các trại nô lệ có thể dễ dàng lẩn tránh sự phát hiện trên mặt đất, nhưng họ không thể trốn tránh các vệ tinh. Các thuật toán AI có thể tìm hiểu các đặc điểm phân biệt của các trại nô lệ và nhanh chóng sắp xếp thông qua các hình ảnh vệ tinh để xác định vị trí của chúng.
27,928 từ






