Sự Trung Thực Của Xác Chết
Sự Trung Thực Của Xác Chết - Chương 07
Thi thể hạnh phúc
Chết tự nhiên vì ung thư
Muốn một cái chết nhẹ nhàng là nguyện vọng tha thiết nhất của mỗi con người. Có lẽ sẽ chẳng có ai lại mong muốn một “cái chết dị trạng” như những trường hợp mà tôi đã đề cập trong cuốn sách này.
Chỉ là mỗi ngày đều tiếp xúc với những người chết theo muôn hình vạn trạng, cảm nhận về một “cái chết hạnh phúc” trong tôi dường như hơi khác với mọi người.
Cho dù sống một mình rồi lặng lẽ chết đi nhưng biết đâu với chính bản thân người đó, âu cũng là một cái kết cho cuộc đời không còn gì nuối tiếc. Hoặc giả một người qua đời trong bệnh viện, được nhiều người chăm nom, túc trực nhưng bản thân người đó có cảm thấy hạnh phúc hay không lại là một vấn đề khác.
Trước đây, tôi từng có cơ hội đi tu nghiệp bác sĩ nội khoa tại một bệnh viện ở Trung Quốc. Ở bệnh viện đó có một nữ bệnh nhân cao tuổi, mặc dù được chẩn đoán là “ung thư dạ dày” nhưng bà vẫn cương quyết từ chối điều trị.
Bà cụ khoảng 80 tuổi ấy sống một mình, bình thản tại một miền quê hẻo lánh. Bà không có người thân chăm nom, muốn đến được bệnh viện trên trấn cũng phải đi một tiếng đồng hồ.
Mặc cho bác sĩ điều trị nhiều lần khuyên bảo “Bà hãy cắt bỏ khối u này đi. Nếu cắt bây giờ thì bệnh tình của bà còn chữa trị được”, nhưng bà cụ ấy lại vẫn chỉ lắc đầu từ chối. Dẫu sao trước mắt bác sĩ vẫn là một bệnh nhân chỉ cần chịu điều trị sẽ chữa khỏi được bệnh, vậy nên các bác sĩ cũng không thể bỏ mặc bà. Cuối cùng, các bác sĩ nói rằng “ít nhất bà phải đến đây thăm khám mỗi năm một lần” và theo dõi quá trình phát triển bệnh tật của bà.
Vì không tiến hành điều trị nên đương nhiên bệnh ung thư dạ dày của bà cứ thế phát triển mạnh. Thế nhưng, thay vì lựa chọn phẫu thuật, bà cụ lại vẫn sống với nếp sống từ trước tới nay của mình.
Đứng trên góc độ pháp y, chuyện đối diện với tử thần vì “bỏ mặc bệnh ung thư” hay để bệnh ung thư phát triển tự nhiên mà không áp dụng các biện pháp điều trị cũng không phải là điều hiếm hoi gì, thế nhưng có lẽ dưới góc độ của y học lâm sàng lại hiếm khi chứng kiến trường hợp như vậy. Trong thời gian tu nghiệp của tôi, bà cụ ấy đã phải nhập viện do cơ thể không còn duy trì được nữa. Và một thời gian sau đó, tôi lại kết thúc thời gian tu nghiệp của mình và về nước nên cũng không rõ bà cụ sau này đã đón nhận giây phút cuối cùng của mình ra sao. Thế nhưng, chuyện đó khiến tôi phải chiêm nghiệm về cách đón nhận cái chết tự nhiên của con người ngay khi tôi còn rất trẻ như thế. Nhưng với một người mới bước những bước đầu tiên trên con đường y học như tôi thì những chiêm nghiệm ấy lại vô cùng quan trọng.
Khảo sát “cái chết hạnh phúc”
Như đã đề cập trong các phần trước, làm trong ngành pháp y này chúng tôi đều phải đối diện với rất nhiều thi thể chết liên quan đến rượu.
Tôi cũng từng giải phẫu thi thể người chết vì uống rượu rồi sảy chân ngã xuống cống thoát nước bên đường và chết đuối. Có lẽ khi ấy, người đó đã uống say và đang loạng choạng bước về nhà. Và người đó đã chết đuối trong cống thoát nước với mực nước cao chỉ khoảng 10cm
“Mực nước như thế thì chết đuối kiểu gì được.”
Đúng, có lẽ mọi người sẽ nghĩ như vậy. Thế nhưng, khi đã say rượu, con người dù có nằm vật bên vệ đường vẫn có thể ngủ được. Vậy nên dù chỉ có chút xíu nước như vậy họ vẫn có thể bị chết đuối.
Tương tự như vậy, cũng có người uống say để rồi chết ở đoạn đường đang thi công. Có lẽ người này bị vấp phải thứ gì đó, đầu chúi về phía rào chắn cấm đường khiến cổ bị kẹt giữa các đoạn dây chắn và cứ thế ngạt thở mà chết. Nhiều khi những cái chết đột ngột như vậy lại bị chi phối bởi những yếu tố hết sức ngẫu nhiên, trùng hợp, tới mức chúng ta chỉ có thể cảm thán rằng phải chăng là do số phận?
Phần đông những tai nạn xảy ra do uống rượu là ngã chết ở ga tàu. Những tai nạn như vậy dễ xảy ra vào tối thứ Sáu. Trước kỳ nghỉ cuối tuần, sau khi kết thúc một bữa nhậu thoải mái với đồng nghiệp hay bạn bè, họ mang theo tâm trạng thoải mái vui vẻ đi về nhà để rồi trên đường về lại trượt ngã trên sân ga, đụng đầu vào đâu đó hoặc bị tàu điện đâm chết… Những trường hợp như vậy thực tế lại xảy ra rất nhiều.
Ngoài ra, cũng có người uống say rồi ngủ ngay dưới gốc cây giữa trời đông giá rét và chết cóng, lại có người bị ngã ngửa khiến sau đầu bị va đập mạnh mà chết, hay có người nằm ngủ bên vệ đường và bị xe đâm chết.
Theo thông tin từ phía cảnh sát, có những người vỡ xương sọ chết ngay tại chỗ nhưng cũng có những người đi một quãng đường dài rồi mới chết. Đi bộ trong tình trạng bị vỡ xương sọ vốn dĩ là không thể xảy ra, con người khó có thể bước đi trong cơn đau kịch liệt như vậy, thế nhưng có lẽ cồn đã làm tê liệt những cơn đau.
Tôi đương nhiên sẽ đối diện với những thi thể ấy trên bàn giải phẫu, và những lúc đó, một phần trong tôi rất muốn thở dài và nói “chỉ cần không uống rượu là anh sẽ không phải chết thế này rồi…” mặt khác, dù có vẻ hơi vô tâm nhưng tôi cũng lại nghĩ “thế này có lẽ cũng coi là chết trong hạnh phúc đi”.
Có lẽ đa phần trong số họ đều uống rượu đến thỏa thích, sau đó mang theo sự thoải mái, phê pha ấy và ra đi mà chẳng biết gì nữa. Với gia đình họ, đây có thể là nỗi đau quá lớn, thế nhưng nếu nhìn dưới góc độ của chính họ liệu mọi chuyện sẽ ra sao? Dưới góc độ ấy, tôi cảm thấy có lẽ cách chết này thực ra cũng không tồi tệ như mọi người vẫn nghĩ.
Tất nhiên, nếu được hỏi “Anh có muốn như thế không?”, tôi vẫn không nghĩ bản thân sẽ muốn một cái chết như vậy. Tuy nhiên, con người đều sẽ phải chết. Dù là chết sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật hay chết đột ngột do một cơn nhồi máu cơ tim, tất cả đều là chết. Thậm chí làm trong ngành pháp y, chúng tôi còn phải đối diện với cái chết của những đứa bé bị cuốn vào những vụ sát hại hay cái chết của cha mẹ con cái trong những vụ giết người rồi tự tử.
Hạnh phúc và bất hạnh trong cái chết - tôi vẫn thường bất giác nghĩ về điều này dưới góc độ của một bác sĩ, và dưới góc độ của một con người.
Giải phẫu pháp y là “dịch vụ công dân” cuối đời
Mình sẽ đón nhận giây phút cuối cùng của cuộc đời ở nơi đâu? Ngoài “cái chết hạnh phúc” thì có lẽ đây cũng là một chủ đề lớn khiến mọi người quan tâm.
Tất nhiên, nếu được chết một cách nhẹ nhàng, thanh thản bên người thân, gia đình tại khu phố sinh sống quen thuộc bấy lâu thì không còn điều gì mĩ mãn hơn nữa. Tuy nhiên, trong thời đại ngày càng có nhiều gia đình hạt nhân như ngày nay, có lẽ những người mong mỏi có được cái chết như vậy lại chỉ là số ít. Kết quả là các thành phố lớn hay các thành phố vệ tinh có đầy đủ cơ sở thiết bị hạ tầng giao thông hay các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trở thành nơi tập trung nhiều người cao tuổi. Và sự thực rất đỗi bình thường là có không ít “chênh lệch” trong “dịch vụ công dân” tại các địa phương cho người dần an hưởng tuổi già.
Bản thân tôi vẫn luôn nghĩ giải phẫu tư pháp phải chăng cũng nằm trong những cái gọi là “dịch vụ công dân” ấy.
Như đã từng đề cập trong Chương 4, tỷ lệ thực hiện giải phẫu pháp y theo công bố của Cơ quan cảnh sát Quốc gia có sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh thành. Năm 2015, tỉnh Kanagawa có tỷ lệ giải phẫu pháp y cao nhất với 39,2%, tiếp sau là tỉnh Hyogo với 33,4%, tỉnh Okinawa là 30,8% và Tokyo là 18,2%. Trong khi đó, các khu vực có tỷ lệ giải phẫu pháp y thấp có thể kể đến tỉnh Gunma với 3,8%, tỉnh Shizuoka với 3,3%, tỉnh Gifu với 2,7% và thấp nhất là tỉnh Hiroshima với 1,5%. Khoảng 40% thi thể dị trạng được phát hiện ở Kanagawa được giải phẫu trong khi hơn 98% trường hợp ở Hiroshima sẽ bị bỏ qua công tác này.
Cùng là “thi thể dị trạng” nhưng tùy vào khu vực sinh sống của người đó hay khu vực phát hiện thi thể mà cách xử lý với thi thể cũng khác nhau rất lớn.
Tôi hiện tại đang đảm nhiệm việc giải phẫu pháp y cho một bộ phận khu vực thuộc tỉnh Hyogo và loại giải phẫu mà chúng tôi thực hiện cũng có khác biệt lớn với khu vực Osaka bên cạnh. Hầu hết các trường hợp giải phẫu được thực hiện ở phòng pháp y của Osaka đều là giải phẫu tư pháp phục vụ cho điều tra tội phạm trong khi tỷ lệ ấy ở phòng pháp y của chúng tôi chỉ chiếm khoảng một phần tư tổng số trường hợp giải phẫu. Các trường hợp giải phẫu còn lại đều là giải phẫu chấp thuận đã được xác định là không có yếu tố tội phạm hay giải phẫu điều tra với mục đích điều tra thân phận, danh tính của người đã mất.
Với hai khu vực địa lý hành chính tiếp giáp nhau như Osaka và Hyogo, tôi không cho rằng số người chết có yếu tố phạm tội lại chênh lệch đến vậy. Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do sự khác biệt trong những phán đoán của cảnh sát tại từng khu vực khi giám định thi thể. Họ có thể nghi ngờ yếu tố hình sự ngay từ đầu và tiến hành giải phẫu tư pháp hay có thể chắc chắn không có yếu tố đáng ngờ và tiến hành giải phẫu chấp thuận.
Nơi công tác trước kia của tôi là tại Đại học Osaka, vậy nên tôi cũng từng có giai đoạn hầu như chỉ thực hiện giải phẫu tư pháp. Sau đó, khi chuyển công tác tới Đại học Y Hyogo hiện tại, tôi lại thấy bất ngờ khi các trường hợp giải phẫu chấp thuận lại nhiều tới vậy.
Dù chỉ nói ngắn gọn trong một từ là giải phẫu nhưng thực tế các quá trình xử lý, kiểm tra đối với một thi thể lại tiêu tốn khá nhiều tiển của cho các việc như các biện pháp phòng tránh nhiễm trùng hay kiểm tra độc tố… Và mặc dù các khoản chi cần thiết cho các phương pháp giải phẫu hay các loại kiểm tra đều như nhau nhưng giữa giải phẫu tư pháp và giải phẫu chấp thuận lại có chênh lệch khá lớn về mức phí.
Ở tỉnh Hyogo, chi phí trả cho giải phẫu chấp thuận rẻ hơn rất nhiều so với giải phẫu tư pháp. Trong trường hợp giải phẫu chấp thuận, do không có yếu tố hình sự nên có thể một số khoản không cần phải tốn quá nhiều tiền. Tuy nhiên như đã nói ở trên, trong khi các loại giải phẫu tư pháp có thể xác định rõ ràng nguyên nhân tử vong trước khi tiến hành giải phẫu, như bị dao đâm vào ngực, những thi thể không có vết thương bên ngoài trong giải phẫu chắp thuận lại cần làm nhiều kiểm tra hơn và tốn nhiều chi phí hơn để xác định nguyên nhân tử vong. Và thực tế là chúng tôi không thể thực hiện đủ các loại kiểm tra chỉ với nguồn ngân sách hạn hẹp.
Hiện thực về “khác biệt trong giải phẫu”
Một thời gian sau khi chuyến công tác tới Đại học Y Hyogo, tôi có đề xuất với cảnh sát quản lý khu vực là “Nếu lượng giải phẫu chấp thuận nhiều thế này thì không thể làm đủ được các loại kiểm tra và sẽ ảnh hưởng tới chất lượng giải phẫu. Với các trường hợp có dấu hiệu đáng ngờ, hy vọng các vị tăng cường tối đa yêu cầu giải phẫu tư pháp.” Từ đó về sau, phía cảnh sát hầu như không còn đề xuất giải phẫu chấp thuận nữa. Và kết quả là chúng tôi gần như chỉ làm giải phẫu tư pháp.
Có lẽ mỗi năm, phía cảnh sát đều dựa vào thành tích thực tế của năm trước để quyết toán ngân sách cho giải phẫu pháp y. Nếu là giải phẫu tư pháp, chi phí sẽ do ngân sách quốc gia chi trả, là giải phẫu chấp thuận thì sẽ do ngân sách của địa phương chi trả. Và tôi cũng có thể đoán được là phía cảnh sát cũng không dễ dàng khi để số vụ giải phẫu tư pháp trong năm ấy tăng đột biến.
Và rồi, sự kiện này lại mang đến những ảnh hưởng không ngờ. Thậm chí nó còn khiến một vị “bác sĩ quân y” cùng đảm nhiệm một khu vực với tôi phải vò đầu bứt tai.
Tùy theo từng tỉnh thành sẽ có những cơ chế, hệ thống tổ chức khác nhau, nhưng cơ bản bác sĩ quân y là bác sĩ được ủy thác từ Sở Cảnh sát, thực hiện các nghiệp vụ cảnh sát cần phải có giấy phép bác sĩ (như lấy máu của kẻ bị tình nghi hay kiểm tra sức khỏe cho người bị giam giữ). Về cơ bản, việc giám định ban đầu các thi thể dị trạng cũng là nghiệp vụ được ủy thác cho các bác sĩ quân y này.
Do tôi không làm giải phẫu chấp thuận nên vị bác sĩ quân y đó chỉ dựa vào những dấu hiệu bên ngoài và những thông tin nắm được tại thời điểm đó (có tiền sử bị bệnh hay không và các tình hình liên quan) để viết giấy chứng tử. Và nếu chẩn đoán sai lầm, vị bác sĩ ấy sẽ phải chịu trách nhiệm.
“Rõ ràng các bác sĩ trước kia vẫn làm các giải phẫu chấp thuận, sao bác sĩ lần này lại không chịu thế.”
Suốt một thời gian dài sau đó, câu nói ấy như vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Tôi tuyệt đối không có ý từ chối giải phẫu, thế nhưng kết quả cuối cùng lại thành tôi đã chủ quan bỏ qua tình hình của địa phương.
Cũng chính từ kinh nghiệm lần đó mà tôi mới nhận ra được sự thật hoàn toàn khác là tùy vào việc “chết ở đâu” mà con người ta có thể được giải phẫu hay không và nếu làm giải phẫu thì theo loại nào.
Thêm vào đó, cho dù cùng là giải phẫu tư pháp đi chăng nữa nhưng tùy vào phòng pháp y của các trường đại học mà nội dung giải phẫu cũng khác nhau. Giải phẫu tư pháp nên làm gì, kiểm tra thứ gì, điều tra vấn đề gì… tất cả đều được giao phó hết cho người được ủy thác hay nói cách khác là cá nhân bác sĩ pháp y chịu trách nhiệm giải phẫu. Hiểu biết, kiến thức thường thức và kinh nghiệm của bác sĩ pháp y sẽ ảnh hưởng lớn tới nội dung giải phẫu. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên biên chế trong các phòng pháp y của các trường cũng có giới hạn dẫn đến những chênh lệch về mức độ nội dung thực hiện kiểm tra.
Bản thân những người làm pháp y vẫn luôn nỗ lực để không tạo ra chênh lệch trong chất lượng giải phẫu giữa các khu vực hay giữa các bác sĩ pháp y với nhau. Tuy nhiên, sự thực là dù cho cùng trên một đất nước Nhật Bản này nhưng “dịch vụ giải phẫu” được áp dụng với người đã mất vẫn có những “chênh lệch” tùy vào địa phương người đó qua đời.
Người đã chết vẫn cống hiến cho “người còn sống”
Suốt 20 năm từ ngày vào làm ở Phòng Pháp y, mặc dù tối ngày đều thực hiện giải phẫu tử thi nhưng tôi vẫn không ngừng tiến hành nghiên cứu dựa trên những dữ liệu, những kiến thức thu được trong quá trình công tác và thường xuyên phát biểu tại các hội thảo nghiên cứu khoa học hay viết thành tiểu luận nghiên cứu.
Sau khi tốt nghiệp cao học tại Đại học Y Kagawa (nay là Khoa Y, Đại học Kagawa) tôi đã đi du học ở Mỹ một thời gian. Cuộc sống của những nhà nghiên cứu ở Mỹ vô cùng khó khăn. Trong vòng 4,5 năm sau khi lấy được bằng Tiến sĩ, nếu không được đứng lớp, tương lai của người đó sẽ rất u ám. Chuyện đột nhiên có một ngày, hộp thư ở phòng nghiên cứu của bạn xuất hiện một “trát đỏ” thông báo “Từ sang năm anh/chị không được tuyển dụng nữa” là chuyện xảy ra như cơm bữa. Tôi cũng thấy nhiều nhà nghiên cứu vẫn đang phải nuôi gia đình nhưng rất có thể đột nhiên hôm sau đã mất việc. Những người còn trụ lại được chính là “đội ngũ giảng viên” những người mà tôi theo học trong thời gian du học.
Vốn dĩ trên đời này có rất nhiều việc phải làm ngay lập tức. Ví dụ như bác sĩ lâm sàng; nếu có bệnh nhân đến sẽ được yêu cầu khám bệnh và đưa ra phương án chữa trị hợp lý. Thế nhưng, việc nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ có ích vào một lúc nào đó chứ không cần thiết ngay lúc này. Mặc dù vậy, tôi vẫn cảm thấy khi đã lựa chọn nghề nghiệp này, được nhận lương cho công việc ấy, tôi phải cho ra những thành quả xứng đáng.
Đề tài nghiên cứu lớn nhất tính đến thời điểm này của tôi chính là “đột tử”.
Đúng như tên gọi, đột tử là chỉ những người vốn rất khỏe mạnh, không hề có dấu hiệu gì đột nhiên lại qua đời vì một nguyên nhân bất ngờ nào đó. Phòng Pháp y chúng tôi cho tới nay cũng đã tiếp nhận không biết bao nhiêu trường hợp chết đột ngột như vậy.
Một nam sinh trung học cơ sở đột nhiên qua đời trong giờ giáo dục thể chất.
Một nữ sinh đại học chết trên giường ngủ cho dù ngày hôm trước vẫn không có chút dấu hiệu gì.
Dù là trường hợp nào thì cũng không thể kết luận được nguyên nhân tử vong là thế này, thế kia chỉ bằng công tác giải phẫu.
Thế nhưng, sau khi nghiền cứu tìm hiểu về gen di truyền của “bệnh nhân mắc chứng loạn nhịp tim di truyền” có thể phát bệnh loạn nhịp tim rất nặng vào những thời điểm như khi đang vận động, từ đó dẫn đến đột tử, tôi phát hiện ra có sự bất thường trong gen di truyền của nam sinh đã qua đời đó. Và nguyên nhân tử vong của cậu nam sinh đó được cho là chứng loạn nhịp tim nặng. Với giải phẫu, tôi không thể nào làm rõ được nguyên nhân tử vong của cậu bé ấy, nhưng nhờ tiến hành nghiên cứu sau đó mà tôi đã xác định được điều này.
Thêm vào đó, nghiên cứu này không đơn thuần chỉ thỏa mãn mục đích cơ bản của giải phẫu là xác định nguyên nhân tử vong. Nói cách khác, những bất thường được tìm thấy trong gen di truyền của cậu nam sinh ấy với một xác suất nhất định nào đó cũng sẽ tồn tại trong gen di truyền của những người có liên hệ huyết thống. Nếu gia đình cậu nam sinh ấy cũng có người xuất hiện những bất thường tương tự trong gen di truyền thì họ có khả năng cũng xảy ra tình trạng đột tử, và nếu áp dụng những phương pháp trị liệu thích hợp, ta có thể phòng tránh nó.
Tương tự như vậy còn có thể kể đến bệnh lao. Như đã từng đề cập trong Chương 5, bệnh lao là một trong số những bệnh truyền nhiễm chúng tôi phải đặc biệt chú ý khi giải phẫu tử thi.
Với người chết vì bệnh lao, thông thường do vấn đề kinh tế nên tình trạng dinh dưỡng của người đó không được đảm bảo và hệ miễn dịch của cơ thể suy giảm. Thậm chí có những người khi còn sống mặc dù bệnh chuyển biến xấu, sức khỏe suy giảm, ho trở nặng, có đờm… nhưng vẫn không chịu đến bệnh viện điều trị.
Những người như vậy nếu qua đời ở nhà, thông qua quá trình giải phẫu xác định chắc chắn nguyên nhân tử vong là bệnh lao thì ta có thể giúp phòng tránh lây nhiễm cho người thân hay những người tiếp xúc gần khác. Nếu kết quả giải phẫu chứng tỏ đúng là bệnh lao, theo quy định, chúng tôi sẽ phải khai báo với cơ quan y tế để người thân hay những người tiếp xúc gần với người đã mất được kiểm tra có bị lây nhiễm hay không, từ đó giúp phòng tránh được bệnh lao trước khi bệnh lây lan rộng trong cộng đồng.
Vận dụng những thông tin có được từ người chết vào y học lâm sàng thì con người ta sau khi qua đời vẫn còn có thể cống hiến cho xã hội. Theo cách này, pháp y lại càng có ý nghĩa khi tham gia tích cực vào “chăm sóc y tế cho người sống”.
Những điều pháp y có thể làm đối với “người sống”
Đó là chuyện xảy ra vào hạ tuần tháng Mười hai một năm nọ. Một gia đình bốn người gồm bố mẹ và hai con tự tử trong xe ô tô bằng than tổ ong và thi thể của họ được đưa tới chỗ chúng tôi.
Bề ngoài thi thể của bốn người đều có màu hồng nhuận nên bước đầu có thể suy đoán do đã hít phải quá nhiều khí cacbon monoxit sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu. Trong ngày hôm đó, chúng tôi đã liên tục giải phẫu thi thể cả bốn người. Trong trường hợp có nhiều thi thể, chúng tôi cũng có thể chia thành hai ngày để giải phẫu, tuy nhiên nếu làm như vậy cảnh sát sẽ phải bố trí để những thi thể chưa được giải phẫu ở nơi khác như sở cảnh sát, và có thể khiến gia đình họ bị chia cắt. Cân nhắc đến vấn đề tang lễ sau này, tôi cảm thấy vẫn nên gửi trả thi thể người đã mất về với gia đình trong cùng một ngày sẽ tốt hơn.
Và không thể nói vì số lượng thi thể tăng mà chúng tôi có thể thay đổi trình tự các bước hay nội dung giải phẫu được.
Dẫu sao trước đó, tôi cũng đã có suy đoán bước đầu nguyên nhân tử vong là “ngộ độc khí cacbon monoxit” nên quá trình giải phẫu cũng không quá khó khăn. Kiểm tra nồng độ Carboxyhemoglobin* trong máu cho thấy nồng độ này của bốn người đều rất cao. Tôi còn nhớ khi đó kiểm tra độ bão hòa của cacbon monoxit trong hemoglobin tăng đến hơn 80%.
Mặc dù đúng như dự đoán ban đầu, bốn người này đều chết vì ngộ độc khí cacbon monoxit nhưng chúng tôi vẫn cần phải làm giải phẫu.
Nếu hai người phụ huynh cho con uống thuốc ngủ trước khi đốt than, vậy nguyên nhân tử vong của hai đứa trẻ có thể không phải là ngộ độc khí cacbon monoxit mà là ngộ độc thuốc. Thông thường khi nghe sự việc trên, hầu hết mọi người sẽ cho rằng cả bốn người ấy đều tử vong gần như tại cùng thời điểm. Tuy nhiên để đảm bảo chắc chắn, chúng tôi vẫn cần phải xác định lại các trạng thái tử vong có thể kiểm tra được trong quá trình giải phẫu (độ hạ thân nhiệt, co cứng tử thi, hồ máu tử thi…) có giống nhau hay không.
Và cho dù trước đó đã được dự đoán là một vụ tự sát tập thể nhưng chỉ với dữ kiện cả bốn thi thể được phát hiện trong xe ô tô thì chưa đủ để kết luận họ tử vong cùng lúc. Rất có thể xảy ra trường hợp có các yếu tố của một vụ án khác bị che giấu. Nhiệm vụ của pháp y là làm sáng tỏ “chân tướng của cái chết” do đó nếu không thực hiện đầy đủ theo đúng các quy trình, việc giải phẫu sẽ không còn ý nghĩa nữa.
Sau này người ta đã phát hiện ra trong điện thoại của người mẹ còn lưu lại một mẩu ghi chú xem là di thư. Trong đó có ghi lại rằng hai vợ chồng họ vẫn luôn trăn trở, phiền muộn khi thấy con trai thứ của mình bị giày vò vì chứng viêm da dị ứng tới mức họ muốn tự sát.
Trước khi tự sát, chiếc xe chở cả nhà họ đã ghé qua một cửa hàng tiện lợi. Ở đây, hai vợ chồng đã mua than tổ ong để thực hiện vụ án giết người tự sát này. Khi đó, camera chống trộm của cửa hàng vẫn còn ghi lại được nụ cười vô tư hồn nhiên của hai đứa trẻ. Rốt cuộc ý định tự sát của hai vợ chồng họ khi ấy lớn đến mức nào chứ?
Thời điểm giải phẫu thi thể cả nhà họ, tôi chỉ cảm thấy bất lực khi bản thân chẳng thể làm gì, đồng thời cũng vô cùng mong mỏi các bác sĩ da liễu, miễn dịch đẩy mạnh quá trình nghiên cứu để nhanh chóng cứu rỗi cuộc đời của những người bị giày vò vì bệnh dị ứng này.
Chính vì làm trong ngành pháp y nên chúng tôi nhiều khi phải đối diện những “sự thực”.
Cùng là theo ngành y nhưng bác sĩ pháp y lại không thể trực tiếp cứu chữa sinh mệnh con người. Thế nhưng, tôi vẫn luôn cảm thấy mình cần phải thu ngắn khoảng cách với các bác sĩ lâm sàng và cùng chia sẻ những thực trạng đang xảy ra trong ngành pháp y hiện nay.
Nhìn thế giới bằng đôi mắt của “người chết”
Mặc dù ít ai biết đến nhưng thực tế làm trong ngành pháp y đôi khi chúng tôi cũng sẽ đối diện với những “đối tượng còn sống”. Tiêu biểu trong số đó là “chẩn đoán ngược đãi” đối với trẻ em.
Những đứa trẻ bị ngược đãi thường được các nhân viên phúc lợi thuộc các trung tâm bảo vệ trẻ em chăm sóc. Sau khi được đưa tới bệnh viện, những đứa trẻ ấy sẽ được đưa tới chỗ chúng tôi để xác nhận xem có dấu vết đánh đập hay gãy xương còn lưu lại trên thân thể hay không. Từ những em bé còn chưa biết nói rõ ràng tới những cô cậu bé trong tuổi dậy thì cứng đầu không chịu nói thành lời, chúng tôi đều sẽ thay những đứa trẻ ấy nói lên những thương tích, đau đớn mà chúng phải chịu, xem thân thể chúng có bao nhiêu vết thương, những vết thương ấy có chảy máu hay không…
Thực tế, tôi không gặp phải nhiều trường hợp trẻ em là đối tượng bị ngược đãi, bạo hành. Nhưng trong số những trường hợp tôi đã gặp phải, có những đứa trẻ trên người còn lưu lại vô vàn dấu vết bị tàn thuốc lá dí vào hay bị dao rạch chi chít trên lưng. Hầu hết những đứa trẻ này đều rất gầy gò khiến tôi có cảm giác chúng không được ăn uống đầy đủ.
Chúng khiến tôi một lần nữa phải suy nghĩ lại rằng công việc của bản thân là phải đối diện với “sinh mệnh” của cả người sống và người chết.
Xã hội hiện đại ngày nay dường như đang ngày càng tạo khoảng cách giữa sinh mệnh của bản thân chúng ta với những người không có quan hệ trực tiếp. Con người trong xã hội Nhật Bản trước kia có mối quan hệ hàng xóm láng giềng rất mật thiết, hàng xóm xung quanh qua đời cũng tựa như mình mất đi người thân và việc tiễn đưa người đã mất tới tận nơi an nghỉ cũng chẳng phải là chuyện lạ lẫm gì. Ở thời đại ấy, con người thực sự đã cảm nhận được sự gần gũi giữa người với người trong vấn đề sinh và tử này.
Từ xưa tới nay, đa phần người Nhật đều qua đời ở bệnh viện. Bệnh viện một mặt là nơi con người được tiếp nhận những chăm sóc y tế tiên tiến, hiện đại, mặt khác đây cũng là nơi bị cách ly với thế giới bên ngoài. Chính vì vậy, những cơ hội để chúng ta được trải nghiệm về sinh, lão, bệnh và tử của con người cũng ngày càng bị giới hạn.
Có lẽ cách nói của tôi chưa thực sự hợp lý nhưng khi con người đối diện với cái chết, ở một khía cạnh nào đó, cũng đang dần bị nhiễm bẩn. Nằm liệt trên giường, không thể tắm gội, ho khạc ra đờm, không tự chủ được đại tiểu tiện… “Chết dần” chính là quá trình như vậy.
Tôi không thể không nghĩ rằng phải chăng con người hiện đại ngày nay đang muốn lùi thật xa khỏi cái “hiện thực không muốn đối diện” ấy. Phải chăng, một loại bệnh sạch sẽ nào ấy đã tạo ra tình trạng này, khiến con người muốn loại bỏ những cá nhân được cho là đã không còn mang lại lợi ích xã hội, những cá nhân có vẻ sẽ khiến người ta cảm thấy bị thua thiệt một thứ gì đó nếu còn tiếp tục dính líu, liên quan đến họ. Và những người đứng ở thế yếu sẽ càng cảm thấy cô độc trong xã hội này.
Công việc này cho phép tôi ở một góc độ nào đó, được nhìn nhận thế giới từ góc độ của “người chết”. Với tôi, “sống” không phải là điều hiển nhiên, ngược lại, những ngày thường nhật của tôi lại là đối diện với những người nằm trên bàn giải phẫu.
Ngoại trừ các trường hợp tự sát, con người đều không thể tự chọn lựa cách chết cho mình. Chẳng ai muốn bất ngờ bị một chiếc ô bay vèo từ đâu găm vào đầu để rồi mất mạng cả. Thế nhưng không thể vì thế mà chúng ta có thể lẩn trốn cái chết.
Dù bạn có sống nghiêm chỉnh, thành thật ra sao, bạn vẫn có thể bị mắc bệnh ung thư hoặc bất ngờ bị một người lạ mặt đâm chết. Nếu chỉ nói đến chuyện “không thể tự chọn lựa” thì có lẽ cái chết vẫn rất cồng bằng với trăm vạn người trên thế gian này.
Quan điểm về sinh tử của tôi rất đơn giản. Tôi muốn kết thúc sinh mệnh mà chẳng phải cất công “đi chùa cầu an” hay phải “ý thức về cái chết” của bản thân như làm một cuốn sách về sự kết thúc… Thay vào đó, tôi chỉ muốn sống hết mình cho tới tận giây phút cuối cùng. Mặc dù không có ý định chấp nhất với “sự sống” nhưng tôi vẫn luôn chú trọng việc sống hết mình với những hiện thực ngay trước mắt.
Vì có “chết” mới có “sống”
Những năm gần đây, Hội Hô hấp Nhật Bản đang bắt đầu lắng nghe nguyện vọng của chính bản thân người bệnh hay người nhà bệnh nhân về điều trị viêm phổi cho người cao tuổi. Khi phải nằm liệt giường, khí quản rất dễ bị đọng nước bọt dẫn đến viêm phổi, khiến bản thân người bệnh vô cùng khổ sở. Trong trường hợp khó có thể điều trị phục hồi, việc có thực hiện trị liệu duy trì sự sống như đặt
ống thở hay không sẽ phụ thuộc vào suy nghĩ và nguyện vọng của các bên.
Bản thân các bác sĩ cũng bị vướng mắc ở tâm lý cho rằng “cái chết của bệnh nhân = thất bại của bản thân” nên thường có xu hướng muốn thực hiện tất cả các biện pháp có thể cho tới tận phút cuối cùng. Tuy nhiên, hiện nay đang dần có ý kiến cho rằng liệu bản thân người bệnh có thực sự mong muốn được làm như thế hay không, có cần thiết phải can thiệp y tế đến mức đó hay không…
Trước kia, tôi từng xem một chương trình về phản ứng của các bác sĩ đối với bệnh nhân đang cận kề cái chết ở một bệnh viện Công giáo. Tại bệnh viện này, mọi người sẽ chăm sóc bệnh nhân dựa theo những giáo lý của Kitô giáo, tức là họ cầu nguyện, cùng bệnh nhân bình thản tận hưởng những khoảng thời gian còn lại. Tôi không phải là tín đồ Kitô giáo, tuy nhiên biểu hiện của họ lại khiến tôi suy nghĩ phải chăng cách đối diện với “cái chết” vốn dĩ là phải như vậy.
Ở đây, “chết” không đơn giản là vấn đề của bản thân một người mà còn là vấn đề của gia đình người đó.
Tôi vốn không có nhiều cơ hội được tiếp xúc với gia đình của các thi thể đưa đến giải phẫu. Với giải phẫu tư pháp, do có các thông tin liên quan đến điều tra vụ án nên tôi càng khó có thể gặp được gia đình người chết.
Tuy nhiên, với giải phẫu chấp thuận, khi không thể tìm ra được nguyên nhân tử vong, các bác sĩ pháp y chúng tôi sẽ trực tiếp giải thích cho người nhà người đã mất.
Ban đầu, do phía cảnh sát thông báo “không tìm được nguyên nhân tử vong nên cần làm giải phẫu tử thi” nên gia đình người đã mất mới chấp thuận làm giải phẫu, thế nhưng nếu chỉ đưa cho họ một biên bản khám nghiệm tử thi được ghi là “Không rõ nguyên nhân tử vong” thì hiển nhiên họ có quyền nghĩ rằng điều này không thể chấp nhận được. Mặc dù không xác định được nguyên nhân tử vong nhưng chúng tôi vẫn có thể xác định được các thông tin liên quan khác. Và đôi khi việc phủ nhận những khả năng đáng ngờ như trong đầu thi thể không có xuất huyết, cũng không phải chết ngạt do bị nghẹn thứ gì ở họng… cũng là một cách “cứu rỗi” gia đình họ.
Đặc biệt, trong trường hợp người qua đời là trẻ em hay em bé sơ sinh, có nhiều ông bố bà mẹ sẽ tự ôm trách nhiệm vào mình như “chỉ vì sự bất cẩn của tôi”… Thế nhưng trong thực tế dù bố mẹ có chăm nom trông giữ con cẩn thận đến thế nào thì cũng có vồ vàn trường hợp không thể tránh khỏi. Và khi nói chuyện với họ, tôi cũng thường nhận được những câu hỏi như liệu có phải khi ấy nếu được sơ cứu mọi chuyện sẽ khác, nếu đến được bệnh viện có phải con tôi sẽ được cứu, hay lúc chết con tôi có đau đớn không?… “Chuyện này không phải lỗi của anh chị. Em bé chết đột ngột nên chắc chắn không phải chịu đau đớn gì cả”, “Không phải do sữa tràn vào khí quản. Cũng không phải do gia đình cho bé bú sai cách khiến bé bị chết ngạt”… Tôi cảm thấy những lời giải thích ấy có lẽ sẽ làm vơi bớt phần nào gánh nặng trong lòng họ.
Tôi từng giải phẫu thi thể một đứa trẻ khi ấy mới có 8 tháng tuổi. Thực lòng, mặc dù đã giải phẫu nhưng tôi cũng không rõ nguyên nhân tử vong là gì.
Sau khi giải phẫu, tôi đã trực tiếp giải thích tình trạng của bé cho người mẹ. Do không xác định được nguyên nhân tử vong nên bà mẹ chỉ biết khóc và không ngừng kêu “Tại sao lại như vậy”. Dù đã giải phẫu nhưng vẫn luôn có những điều chúng tôi không thể tìm ra. Nhìn thấy phản ứng của bà mẹ khi ấy, tôi cũng chỉ có thể đưa địa chỉ liên lạc cho bà ấy và bảo “Sau này nếu gia đình có thắc mắc gì xin hãy hên hệ với chúng tôi”.
Thế rồi khoảng ba năm sau đó, người mẹ ấy vô tình đọc được một trường hợp trẻ sơ sinh qua đời giống với trường hợp con mình ở trên báo và đã viết thư cho tôi hỏi rằng “Phải chăng con của tôi cũng chết vì nguyên nhân như vậy?” Có lẽ vì không xác định được nguyên nhân tử vong nên trong lòng người mẹ ấy vẫn không dứt khỏi cái chết của con mình.
Vì có “chết” nên mới có “sống”.
Cho đến sau này, tôi vẫn sẽ luôn làm như vậy, vừa đối diện với các thi thể trên bàn giải phẫu, vừa suy nghĩ về ý nghĩa của sự sống và cái chết.
Lời kết
Cái chết trong sự khác biệt
Thời gian gần đây, tôi thường hay được nghe những từ như “khác biệt”, “chênh lệch”.
Trước đây, tôi cũng từng xem một chương trình tranh luận nói về chủ đề “Khác biệt về sức khỏe” của đài NHK (Chúng ta sau này #Khác biệt về sức khỏe - NHK special phát sóng ngày 19/9/2016).Ý thức về sức khỏe cũng như những chăm sóc y tế mỗi người đang nhận được có liên hệ trực tiếp với nghề nghiệp và thu nhập hiện tại của từng người và cũng từ đó mà sinh ra những khác biệt. Người lao động thời vụ có nguy cơ mắc tiểu đường và các biến chứng tiểu đường cao hơn gấp 1,5 lần so với các nhân viên chính thức.
Ngay cả trong cuốn sách này, tôi cũng dùng từ “khác biệt” là một trong các từ khóa và đề cập tới những ví dụ giải phẫu thực tế kết hợp với suy nghĩ của bản thân để nói về thực trạng những con người bị coi “kẻ yếu” trong xã hội như nghèo đói, cô độc, già nua.
Thú thực, ban đầu tôi đã rất băn khoăn với hai từ khác biệt này. Bởi hơn 20 năm làm trong ngành pháp y, tôi chưa từng cảm nhận được sự khác biệt giữa những thi thể mà tôi đã giải phẫu.
Chỉ là khi được gợi ý và nhìn lại những trường hợp giải phẫu trong quá khứ, tôi mới nhận ra những thi thể mà tôi giải phẫu từ trước tới nay đều đang ở thế yếu trong xã hội này.
Khoảng 50% thi thể được giải phẫu tại Phòng Pháp y chúng tôi là thi thể của người sống cô độc, 20% là thi thể của người nhận trợ cấp xã hội và gần 10% là thi thể của những người tự sát. Ngoài ra, khoảng 30% trong tổng số trường hợp từng là người mắc các vấn đề về tâm thần và hơn 5% trong số đó là người bị sa sút trí tuệ.
Thêm vào đó, thi thể của những người không xác định được danh tính cũng chiếm khoảng 10% tổng số.
Chỉ cần nhìn vào những con số này chúng ta cũng thấy rõ những cái chết gọi là “cái chết dị trạng” ấy đang là mặt tối của xã hội Nhật Bản ngày nay. Có lẽ trong công việc hằng ngày, tôi đã quá chú tâm vào sứ mệnh “khám phá nguyên nhân tử vong” mà quên đi tình trạng xã hội của những thi thể ấy. Và thực ra cái chết dị trạng cùng những khác biệt lại ở rất gần nhau.
Ban đầu, tôi vốn không định hướng làm một bác sĩ pháp y. Thời sinh viên tôi có hứng thú với nghiên cứu nên sau khi tốt nghiệp Khoa Y, trường Đại học Y Kagawa ở Shikoku, tôi học tiếp lên cao học và nghiên cứu về y học cơ sở. Ở lớp y học cơ sở, thông thường chúng tôi không đến các bệnh viện để trực tiếp thăm khám bệnh nhân mà chỉ làm các nghiên cứu về các vấn đề như nguyên nhân gây bệnh. Sau khi lấy được bằng tiến sĩ, tôi lại đi du học ở Mỹ. Thời điểm đó, tôi dự định trở thành một nhà nghiên cứu, chuyên tâm vững bước trên con đường học thức hàn lâm.
Thế nhưng, sau khi về nước, cuộc đời tôi lại có một bước ngoặt to lớn.
Thầy giáo dạy đại học của tôi đã giới thiệu tôi với một vị giáo sư môn giải phẫu học ở một trường đại học y gần nhà. Khi tôi đến gặp, vị giáo sư ấy đã nói “Ở phòng pháp y còn trống một vị trí đấy” rồi gọi số nội bộ cho một vị giáo sư S mà sau này chính là Sư phụ của tôi.
“Cậu này đang cần tìm việc.”
Đến giờ tôi vẫn còn nhớ vẻ ngớ người của giáo sư S khi đột nhiên bị nói một câu như vậy. Chuyện này hẳn cũng là điều đương nhiên. Và sau đấy cho dù có được hỏi thêm một câu “Anh thấy thế nào” thì giáo sư S cũng chẳng trả lời ngay được.
Thực ra, lúc đó cả tôi cũng thấy bối rối. Tất nhiên, tôi biết ở trường đại học cũng có môn học gọi là “Pháp y” nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến sẽ có một ngày mình đi theo con đường này.
Từ đó tới nay cũng đã hơn 20 năm…
Đến giờ, tôi đã có thể cảm thấy mình thật may mắn.
Vài năm trước, tôi từng thử nghiệm giảng dạy môn pháp y cho sinh viên của nhiều trường đại học trong thành phố Nishinomiya, thành phố có cơ sở của Đại học Y Hyogo. Sinh viên tham gia khóa học này chủ yếu là sinh viên khoa văn và hầu như không có kiến thức liên quan đến y học. Thế nhưng, khi bắt đầu bài giảng với những ví dụ thực tế trong ngành Pháp y, tôi lại thấy những sinh viên đang lim dim buồn ngủ ấy ngầng đầu dậy và chăm chú lắng nghe. Tôi cũng chỉ kể những chuyện hết sức bình thường đối với mình, thế nhưng phản ứng của những sinh viên khi đó lại vô cùng mới mẻ.
“Có lẽ trên thế giới này vẫn còn rất nhiều người mang theo những hứng thú mơ hồ về Pháp y, về cái chết vốn sẽ đến với bất kỳ ai. Liệu rằng tôi có thể thông qua bàn giải phẫu để đem những nhận thức, chiêm nghiệm của bản thân truyền đạt tới những người bình thường khác…”
Thời điểm cân nhắc vấn đề xuất bản sách cũng là lúc tôi bắt đầu có những suy nghĩ như vậy.
Trong cuốn sách này, tôi vẫn luôn nhất quán chiêm nghiệm về “sự sống” bắt đầu từ “cái chết”. Với những độc giả mới chỉ nhìn qua được một phần của “cái chết”, điều mà không ai trong chúng ta có thể tránh khỏi, liệu các bạn có cảm tưởng gì về nó. Hy vọng rằng thông qua cuốn sách này, ít nhất mỗi người đều có thể suy nghĩ, cân nhắc xem bản thân nên làm gì để có thể sống tốt hơn.
Hoạt động trong ngành pháp y, tôi đã chứng kiến cái chết của những con người xấu số. Chúng ta không thể lựa chọn cách chết cho chính mình. Chính vì vậy, tôi vẫn luôn mong mỗi người có thể dành hết tinh thần tập trung cho “sự sống” của bản thân ngay tại thời điểm này thay vì chỉ lo về “cái chết”. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới biên tập Miki Chigira và Yuichi Tezuka của công ty Futabasha đã giúp đỡ rất nhiều cho một người chưa từng viết sách là tôi, để cuốn sách này có thể được xuất bản đến với mọi người.
Tháng 2 năm 2017
Hajime Nishio
- Chủ nhiệm Phòng Pháp y Đại học Y Hyogo
Mount Hakkoda (八甲田山): Bộ phim của Nhật Bản xuất năm 1977, đạo diễn Shiro Moritani.
Người làm lễ mộc dục cho người đã mất.
Coin locker: Tủ giữ đồ tự phục vụ, cần bỏ xu vào để khóa. Khi đến lấy trả thêm tiền để mở tủ lấy đổ.
Sổ tay ghi lại những thông tin sức khỏe cần thiết của mẹ và bé trong thời kỳ mang thai, sau sinh và khi nuôi con tới 6 tháng tuổi. Các mẹ sẽ được nhận khi thông báo với chính quyền địa phương.
Thể Ketone là những chất được tạo ra bằng cách biến đổi chất béo trong cơ thể và được sử dụng làm nguồn năng lượng.
Gia đình hạt nhân là hình thái gia đình gồm hai thế hệ: bố mẹ và con cái.
Nhật Bản áp dụng chế độ ba cấp xét xử.
Bọ Dermestid.
Thời kỳ Chiêu Hòa (1926 -1989).
Thiết bị dùng để đo đạc tỷ lệ khối lượng trên điện tích của ion. Khối phổ kế sẽ cho ra phổ khối lượng của một mẫu để tìm ra thành phần của nó. Khối phổ kế có thể ion hóa mẫu và tách các ion của nó với các khối lượng khác nhau và lưu lại thông tin dựa vào việc đo đạc cường độ dòng ion.
Một loại dung dịch tiêu độc dùng trong y tế của Nhật có thành phần là Benzalkonium Chloride.
Crush syndrome: Tình trạng thương tích hay gặp trong chiến tranh, trong các tai nạn sạt lở đất, sập nhà làm cho một phần cơ thể bị đè ép, vùi lấp trong thời gian từ hai giờ trở lên.
Hợp chất do khí CO kết hợp với hemoglobin trong máu tạo thành, cản trở quá trình vận chuyển khí oxy trong máu.
8,074 từ






