Sự Trung Thực Của Xác Chết
Sự Trung Thực Của Xác Chết - Chương 05
Trước bàn giải phẫu
Trường hợp đầu tiên
Đến hiện tại, tôi đã có thể bình thản ở một mức độ nào đó khi đứng đối diện với các thi thể trên bàn giải phẫu. Thế nhưng, lúc mới bắt đầu công việc này, kiến thức phải ghi nhớ lại chất đầy như núi, mỗi ngày tôi đều phải không ngừng giải phẫu, không ngừng học tập. Và cho tới khi tôi đạt được trình độ đem những tri thức được ghi trong sách giáo khoa ngấm vào bản thân và trở thành “điều hiển nhiên”, tôi cần phải có một quá trình kinh nghiệm nhất định.
Trong chương này, tôi sẽ tạm thời tách khỏi vấn đề “khác biệt” và đề cập tới những chuyện thường ngày trong pháp y. Tôi muốn chia sẻ với các bạn suy nghĩ của chúng tôi, những người đã và đang thực hiện công việc đặc thù này mỗi ngày. Bởi tôi cho rằng việc hiểu những suy nghĩ này cũng sẽ giúp bạn biết rõ hơn về “cái chết và sự khác biệt” mà tôi muốn nói đến trong cuốn sách này.
Như tôi đã đề cập trong các phần trên, phòng pháp y chúng tôi không giống như các bệnh viện thông thường, sẽ không đột nhiên có bệnh nhân cấp cứu được chuyển đến. Thời điểm nhận được liên lạc từ phía cảnh sát, chúng tôi cũng sẽ biết được đại khái thông tin ở một mức độ nào đó về người chuẩn bị được đưa đến chỗ chúng tôi. Chính vì vậy, thời còn trẻ, trước khi bước vào phòng giải phẫu, tôi vẫn thường lục lại các sách giáo khoa hay sách chuyên ngành để xác nhận lại những đặc trưng của những nguyên nhân tử vong có thể xảy ra.
Ấy thế nhưng, vẫn có trường hợp hiếm hoi mà cho đến tận lúc này tôi mới gặp một lần.
Đó là chuyện xảy ra khi tôi mới bắt đầu nghề giải phẫu và chưa có kinh nghiệm gì. Thi thể được chuyển đến ngày hôm đó là của một phụ nữ khoảng hơn 20 tuổi, đột tử ngay sau khi sinh tại khoa sản. Bác sĩ khoa sản phụ trách khi ấy mặc dù đã viết giấy chứng tử với nguyên nhân tử vong là “chết bệnh” nhưng gia đình nạn nhân lại nghi ngờ bệnh viện tắc trách trong quá trình trợ sản nên đã yêu cầu giải phẫu chấp thuận.
Bác sĩ giải phẫu chính là thầy giáo cũng là cấp trên của tôi khi đó, còn tôi khi ấy chỉ quan sát quá trình giải phẫu với vai trò là phụ tá. Do trước khi tiến hành giải phẫu, chúng tôi được cung cấp các thông tin như “đột tử”, “ngay sau sinh” nên tôi đã lật đi lật lại các sách liên quan đến khoa sản, thế nhưng, đây là lần đầu tiên tôi gặp trường hợp tử vong có liên quan đến sinh con nên tôi cực kỳ căng thẳng, không biết nên suy xét nguyên nhân tử vong theo hướng nào, nên tìm hiểu điều gì, có điều gì phải lưu ý hay không…
Nguyên nhân tử vong mà bác sĩ khoa sản đưa ra là “thuyên tắc ối”. Đây là một tình trạng nguy hiểm hiếm gặp, xảy ra khi nước ối trong tử cung vì một lý do nào đó mà lọt vào hệ tuần hoàn máu của người mẹ và các thành phần trong nước ối làm bít tắc các cơ quan nội tạng như phổi.
“Thuyên tắc” là chỉ các dị vật gây tắc nghẽn lưu thông máu trong huyết quản, và thuyên tắc ối là chỉ các mảnh tổ chức thai nhi như lông, tóc, tế bào da, phân… có trong nước ối gây bít tắc huyết quản của người mẹ. Tình trạng này hiếm khi xảy ra trong quá trình sinh hay ngay sau sinh, trường hợp xấu có thể dẫn đến các tình trạng nguy kịch như ngừng hô hấp hay ngừng tim.
Kết quả giải phẫu cuối cùng cho thấy nguyên nhân tử vong của người phụ nữ này đúng như chẩn đoán ban đầu của bác sĩ khoa sản là “thuyên tắc ối”. Khi dùng kính hiển vi kiểm tra các cơ quan nội tạng như phổi thực sự đã xác nhận có lông, tóc và tế bào da của thai nhi làm bít tắc các mạch máu nhỏ trong các cơ quan cơ thể mẹ. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến người phụ nữ ấy tử vong. Điều đáng thương tâm chính là người mẹ đã dùng cả sinh mạng mình để đứa con được chào đời.
Không chỉ bản thân tôi mà ngay cả thầy giáo đồng thời là cấp trên tôi cũng lần đầu tiên gặp phải trường hợp này. Những thi thể được chuyển tới cho pháp y mặc dù đều gọi chung là “thi thể dị trạng” thế nhưng nguyên nhân tử vong thực sự của mỗi thi thể lại rất khác nhau.
Vụ án chết người hàng loạt do ngộ độc dịch truyền tại Bệnh viện Oguchi
Cho tới hiện tại, cảm giác lo lắng, hồi hộp khi tiến vào phòng giải phẫu khi ấy của tôi gần như đã không còn nữa. Bởi trong quá trình phải đối diện với hàng trăm, hàng nghìn thi thể suốt những năm qua, tôi hầu như đều đã kinh qua hết các trường hợp. Thế nhưng, chỉ riêng cảm giác căng thẳng kiểu “có lẽ đầy sẽ là thi thể ngoài sức tưởng tượng của mình” là vẫn còn tồn tại đâu đó trong lòng mà chẳng thể mất đi.
Tháng 9 năm 2016, tại Bệnh viện Oguchi thuộc thành phố Yokohama, tỉnh Kanagawa đã xảy ra một vụ án hai bệnh nhân cao tuổi của bệnh viện bị sát hại. Hung thủ đã trộn lẫn dị vật vào dịch truyền của họ.
Dị vật đó là một loại chất hoạt động bề mặt được sử dụng trong các loại dung dịch tiêu độc y tế như “germitol* ” hay nói cách khác là thành phần có trong xà phòng. Chất này được cho là nguyên nhân dẫn đến tử vong ở các bệnh nhân.
Nếu trong quá khứ chưa từng có trường hợp nào như thế để mà tham khảo thì sẽ rất khó xác định người chết có phải vì ngộ độc các loại thuốc mà họ đã được kê hay không. Phía điều tra sẽ cần những thiết bị phân tích chuyên dụng để phân tích mẫu máu của người đã mất; xác định xem nồng độ các loại thuốc ấy trong máu nạn nhân là bao nhiêu, đã đạt đến mức gây tử vong như trong các báo cáo trước kia hay chưa và đó có phải là nguyên nhân dẫn đến tử vong hay không. Cho dù trước đó đã từng có người chết vì các loại thuốc kê đơn nhưng nếu không biết rõ nồng độ thuốc thực sự cũng không thể dễ dàng đi đến kết luận được.
Ngay cả với trường hợp của Bệnh viện Oguchi cũng không có gì là lạ nếu người ta thực sự bỏ sót nguyên nhân tử vong là “chết do ngộ độc germitol”. Thực tế truyền thông cũng đưa tin rằng mặc dù hai bệnh nhân cao tuổi được cho là chết vì bị truyền germitol nhưng trong khoảng thời gian tháng 7 đến tháng 9 năm đó, trước hai người này còn có 48 bệnh nhân khác cũng đã qua đời tại đây.
Người ta không thể xác định được trong 48 người đó có bao nhiêu người “chết bệnh” và bao nhiêu người “chết do ngộ độc germitol”. Chỉ là dù trường hợp nào nếu giấy chứng tử của họ đã được chấp thuận và thi thể của họ đã được hỏa táng thì huyết dịch của họ cũng không còn tồn tại. Chính vì không đo được nồng độ độc tố trong máu nên không thể chứng minh được là cái chết của họ có liên quan tới việc bị kê germitol hay không.
Khi một người qua đời, người nhà của họ sẽ được cấp một “giấy chứng tử” để trình lên chính quyền địa phương và làm thủ tục xóa hộ khẩu của người đã mất, đồng thời cũng nhận được giấy phép chấp thuận việc hỏa táng hay thổ táng di thể. Loại giấy chứng tử này chỉ có thể do bác sĩ, hoặc nha sĩ cấp (nha sĩ không thể cấp biên bản khám nghiệm tử thi).
Thực tế trong vụ án này có một điểm cần phải suy nghĩ.
Tầng 4 của Bệnh viện Oguchi nơi có nhiều người bệnh qua đời cũng là nơi tiến hành những chăm sóc y tế cuối đời cho các bệnh nhân. Người cao tuổi thường có khả năng cao dễ phát các bệnh như nhồi máu cơ tim, xuất huyết não nên mặc dù liên tục có nhiều người đột nhiên qua đời một cách kỳ lạ nhưng những người liên quan vẫn có thể chấp nhận được chuyện đó. Thêm nữa, địa điểm ở đây lại là bệnh viện nên khó ai có thể tưởng tượng đến khả năng có người cố ý trộn lẫn thuốc độc vào thuốc cho bệnh nhân với mục đích giết người.
Tính đến thời điểm tháng 1 năm 2017, người ta vẫn chưa tìm ra được hung thủ của vụ án. Giả sử với các công tác điều tra của cảnh sát sau này, hung thủ bị bắt giữ và lấy được lời khai là có bao nhiêu người trong số 48 người kia đã chết vì bị truyền thuốc độc thì cũng rất khó xác định lượng thuốc được truyền vào cơ thể ảnh hưởng đến nguyên nhân tử vong của người đó tới mức nào, bởi lẽ hiện giờ không thể giải phẫu thi thể của họ được nữa.
Đứng trên lập trường của một bác sĩ pháp y, tôi hiện đã, đang và vẫn sẽ tiếp tục theo sát diễn biến của vụ án này.
Ý nghĩa của “cái chết không rõ nguyên nhân”
Như đã từng đề cập trong các phần trên, sau khi kết thúc giải phẫu, chúng tôi sẽ cấp biên bản khám nghiệm tử thi cho phía cảnh sát. Điểm khác biệt giữa giấy chứng tử và biên bản khám nghiệm tử thi là giấy chứng tử được cấp trong trường hợp bác sĩ tại bệnh viện hay dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà xác định rõ tình trạng “chết bệnh” của bệnh nhân, trong khi đó, biên bản khám nghiệm tử thi được cấp trong trường hợp có nghi ngờ về khả năng người chết với các lý do khác ngoài bệnh tật như “chết đột ngột” hay “chết vì các lý do bên ngoài (bao gồm cả tai nạn giao thông)”.
Cả hai loại giấy tờ này đều là giấy tờ cần thiết để làm thủ tục xóa hộ khẩu và nhận được giấy phép hỏa táng hay thổ táng người đã mất. Đôi khi cũng có trường hợp người chết đã được cấp giấy chứng tử xác định “chết bệnh” và thi thể ngay lập tức được đưa đi hỏa táng dẫn đến làm mất các chứng cớ phạm tội của hung thủ như trong vụ án giết người hàng loạt bằng xyanua hay vụ án chết người hàng loạt do ngộ độc dịch truyền.
Đây đều là những giấy tờ quan trọng đối với những người theo ngành y nên mỗi năm, tôi đều rất chú ý hướng dẫn cách viết các loại giấy tờ này cho các sinh viên của mình.
Liệu rằng trong số các bạn độc giả, có bao nhiêu người đã từng xem qua biên bản khám nghiệm tử thi (giấy chứng tử cũng tương tự như vậy). Nội dung của loại giấy tờ này ngoài tên, giới tính, ngày tháng năm sinh của người mất còn có thêm các mục như dưới đây:
- Thời gian tử vong.
- Địa điểm tử vong (bệnh viện, phòng khám, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, nhà hộ sinh, viện dưỡng lão, nhà riêng, các địa điểm khác).
- Nguyên nhân tử vong (nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp những phát hiện chính trong quá trình giải phẫu).
- Phân loại nguyên nhân tử vong (chết bệnh và chết tự nhiên, tai nạn giao thông, ngã chết, chết đuối, ngạt khói hay thương tích do hỏa hoạn, chết ngạt, ngộ độc, tự sát, bị giết, các trường hợp khác và các nguyên nhân bên ngoài, chết không rõ nguyên nhân).
- Ghi chú cho nguyên nhân bên ngoài (thời gian, địa điểm phát sinh thương tổn).
Trong số các mục này, có những mục tôi cho rằng “tuyệt đối không được sai lầm” là “nguyên nhân tử vong” và “phân loại nguyên nhân tử vong”. Có những trường hợp dù nghiêm túc, cẩn thận giải phẫu đến đâu cũng có những nguyên nhân ta không thể nào phát hiện ra được. Trong trường hợp ấy, thay vì ghi lại những thông tin không thể xác thực dẫn đến các phán đoán sai lầm về sau, tôi cho rằng nên ghi là “Chết không rõ nguyên nhân”.
Dựa theo kết quả giải phẫu của chúng tôi mà sự việc được nhận định là tai nạn có khả năng chuyển thành vụ án giết người. Theo đó, bản thân người đã mất hay gia đình người đã mất sẽ bị ảnh hưởng rất lớn từ bên thứ ba. Chính vì vậy, tôi luôn cho rằng so với việc ghi thông tin “chính xác” thì ý thức ghi thông tin “không sai lầm” lại quan trọng hơn rất nhiều.
Suy nghĩ gửi gắm trong biên bản khám nghiệm tử thi
Mặt khác, biên bản khám nghiệm tử thi cũng bao hàm nhiều tầng ý nghĩa dựa vào “cách viết” với sự thận trọng của những người làm pháp y như chúng tôi.
Từng có một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, sau khi kết thúc ca làm đêm của mình đã đạp xe về nhà, trên đường về, cô ấy bị một chiếc xe vượt đèn đỏ và đang phóng nhanh qua ngã tư đụng phải dẫn đến tử vong.
Với trường hợp người tử vong do tai nạn giao thông, không phải tất cả đều trở thành đối tượng giải phẫu. Chỉ trong những trường hợp như vụ án gây tai nạn bỏ trốn, trường hợp nghi ngờ nạn nhân bị nhiều phương tiện giao thông chèn phải, trường hợp tự mình gây tai nạn nhưng không phân rõ tử vong do phát bệnh như xuất huyết não, nhồi máu cơ tim hay tử vong do các vết thương ngoài do tai nạn thì cảnh sát mới yêu cầu giải phẫu.
Trong trường hợp của người phụ nữ này do người gây tai nạn đã bỏ xe chạy trốn, hay nói cách khác là vụ án gây tai nạn bỏ trốn nên thi thể của người phụ nữ được đưa đi giải phẫu. Thông thường, vụ án gây tai nạn bỏ trốn như vậy sẽ tiến hành giải phẫu tư pháp cho “vụ án nghi ngờ vi phạm luật giao thông, gây tai nạn giao thông gây chết người với nghi phạm chưa xác định”.
Thi thể do gặp tai nạn giao thông thường có khá nhiều vết thương và tốn khá nhiều thời gian để giải phẫu. Thi thể người phụ nữ này cũng có nhiều vết thương khắp nơi, riêng xương sườn đã có gần 20 chỗ gãy. Thêm vào đó, các cơ quan bên trong lồng ngực như phổi bị tổn thương nặng, máu tụ gần 500ml.
Nguyên nhân tử vong của trường hợp này là “mất máu do gãy nhiều xương sườn dẫn đến tử vong”.
Trong phần “Nguyên nhân tử vong” của biên bản khám nghiệm tử thi có bốn mục. Mục đầu tiên là “Nguyên nhân tử vong trực tiếp”. Ý nghĩa theo đúng mặt chữ, đây là phần ghi nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong. Bên dưới là phần nguyên nhân dẫn đến nguyên nhân tử vong trực tiếp, tiếp theo nữa là nguyên nhân dẫn đến nguyên nhân ấy, cứ như vậy lần lượt là thông tin của các nguyên nhân tiếp theo.
Với trường hợp của người phụ nữ này, nguyên nhân tử vong trực tiếp là “chết do mất máu”, nguyên nhân dẫn đến mất máu là “gãy nhiều xương sườn”. Nguyên nhân dãn đến “gãy nhiều xương sườn” là “va đập vùng ngực” và nguyên nhân của tình trạng này là “va chạm xe cộ”. Khi tôi ghi hết các thông tin này, Sư phụ của tôi khi đó đã viết tiếp vào phần “va chạm xe cộ” như sau:
“Va chạm với xe ô tô phóng ẩu”.
Tôi giật mình.
Cho dù là tai nạn giao thông nhưng cũng có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những tai nạn xảy ra trong tích tắc không thể nào tránh được thì cũng có những tai nạn “tương tự như vụ án giết người” xảy ra do sự bất cẩn hay cẩu thả của người lái xe. Người phụ nữ đã qua đời ấy đã tuân thủ luật giao thông, qua đường khi đèn xanh. Làm việc tới tận đêm khuya, chắc hẳn cô ấy đã rất mệt mỏi. Có lẽ khi đó cô đang chầm chậm đạp xe, hướng về nhà với tâm trạng “cuối cùng cũng sắp được đi ngủ rồi.”
Xe ô tô gây tai nạn kia rõ ràng đã vượt đèn đỏ, thậm chí cũng không thả chậm tốc độ khi đi qua ngã tư. Lái xe sau khi gây tai nạn cũng không giúp đỡ mà còn bỏ xe chạy trốn.
Nếu như đây là trường hợp cả hai bên đều không thể tránh được thì có lẽ có thể gọi là “tai nạn”.
Ví dụ trong mục “Phân loại nguyên nhân tử vong” của biên bản khám nghiệm tử thi dù có quy về thành “tai nạn giao thông” thì chúng tôi vẫn muốn lưu lại sự thực rằng người phụ nữ ấy không có lỗi. Sư phụ của tôi khi ấy bằng dòng chữ “Va chạm với xe ô tô phóng ẩu” này dù chỉ là một câu đơn giản nhưng cũng đã bao hàm cả suy nghĩ đến nỗi đau khôn cùng của gia đình người đã mất.
Tương tự như vậy trong những biên bản khám nghiệm tử thi cũng chứa đựng cả những lời nhắn của chúng tôi tới phía cảnh sát. Ví dụ, cùng là trường hợp tử vong do “ngộ độc cacbon monoxit” nhưng tùy theo phân loại nguyên nhân tử vong là “tự sát” hay “các trường hợp khác và các nguyên nhân bên ngoài” mà tính chất của sự việc lại hoàn toàn khác nhau. Nguyên nhân tử vong “các trường hợp khác và các nguyên nhân bên ngoài” thường được chọn khi không thể xác định rõ trong nhóm nguyên nhân tử vong bên ngoài này là tự sát, bị giết hại hay tai nạn ngoài ý muốn. Mặc dù không thể xác định chắc chắn trong quá trình giải phẫu nhưng chúng tôi vẫn có thể lưu ý những điểm đáng ngờ như vậy cho các công tác điều tra tiếp theo.
Giả sử nếu chúng tôi ghi vào mục “Phân loại nguyên nhân tử vong” là “chết bệnh” hay “tự sát” thì hầu hết các trường hợp sẽ được kết luận là “không mang tính hình sự” và kết thúc điều tra. Trong khi đó, nếu chúng tôi ghi là “các trường hợp khác và các nguyên nhân bên ngoài” hoặc “không rõ nguyên nhân tử vong” (trường hợp không xác định được là chết bệnh hay chết do các nguyên nhân ngoài) cũng có nghĩa là chúng tôi muốn gửi tới cảnh sát thông điệp “chỉ với kết quả giải phẫu thì không thể xác định được là tự sát hay chết bệnh nên cần tiếp tục điều tra kỹ lưỡng hơn”.
Các cơ quan cảnh sát hiện tại mỗi ngày đều phải xử lý đủ loại vụ án khác nhau nên vô cùng bận rộn. Thế nhưng càng như vậy, họ lại càng cần phải tập trung hết sức với mỗi một người bị hại. Chúng tôi, những người làm pháp y luôn hy vọng gửi tới họ nguyện vọng này thông qua biên bản khám nghiệm tử thi.
Ngoài ra, cũng có trường hợp chúng tôi sẽ trao đổi trực tiếp với người nhà nạn nhân về biên bản khám nghiệm tử thi. Bởi đây là giấy tờ cần có để làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm nên đôi khi phía gia đình người đã mất cũng sẽ yêu cầu chúng tôi trực tiếp cấp biên bản khám nghiệm tử thi cho họ.
Khi đó, về mặt nguyên tắc, chúng tôi chỉ có thể cấp biên bản khám nghiệm tử thi cho người đến tiếp nhận di thể hoặc người được ủy quyền tiếp nhận di thể.
Tuy nhiên, việc này đôi khi cũng gây ra những rắc rối không ngờ.
Có một lần, phía gia đình người đã mất có liên lạc với chúng tôi là “không cấp biên bản khám nghiệm tử thi cho một người phụ nữ”. Người phụ nữ này là người vợ không được công nhận về mặt pháp lý của người đã mất và có lẽ là người thụ hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ. Thực tế, có không ít trường hợp nảy sinh mâu thuẫn trong gia đình người đã mất xoay quanh vấn đề tiền bảo hiểm nhân thọ này.
Ngoài ra, từng có trường hợp tôi giải phẫu thi thể một người đàn ông, cấp trên trong công ty mà anh ta làm việc cũng từng trực tiếp đến phòng pháp y chúng tôi để lấy biên bản khám nghiệm tử thi.
Sau ngày giải phẫu một thời gian, một người tự xưng là cấp trên của người đàn ông này đến tận trường đại học và yêu cầu cấp biên bản khám nghiệm tử thi của anh ta. Khi đó, tôi đã lấy lý do không phải là người thân trong gia đình người đã mất để từ chối cấp giấy và sau này mới ngỡ ngàng khi biết người xưng là cấp trên ấy đã bị bắt vì tội giết người. Nghe nói người đàn ông đã mất đó để tên người thụ hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ là người trong công ty. Lúc nghe được chuyện này từ phía cảnh sát, tôi đã cảm thấy hú hồn và “thật may vì không phán đoán sai lầm”.
Một ngày thường nhật của bác sĩ pháp y
Nơi làm việc của tôi là “phòng giải phẫu”. Có lẽ ngoài bác sĩ pháp y ra không còn nghề nào lại có nơi làm việc như vậy cả.
Bàn giải phẫu được đặt ở giữa phòng chính là nơi đặt thi thể để chúng tôi giải phẫu. Giải phẫu không phải chỉ cần dùng chữ viết để lưu lại thông tin trong biên bản khám nghiệm mà còn có cả ảnh chụp bằng máy kỹ thuật số để lưu lại hình ảnh thi thể trên bàn giải phẫu.
Trong trường hợp giải phẫu tư pháp, tùy theo từng trường hợp mà kết quả giải phẫu còn được dùng làm tài liệu xét xử nên việc lưu giữ hình ảnh như vậy là điều không thể thiếu. Nếu bên ngoài thi thể còn lưu lại vết thương, vết bầm hay trong quá trình giải phẫu có những phát hiện quan trọng thì chúng tôi đều phải lưu lại bằng hình ảnh.
Bàn giải phẫu trong phòng pháp y đầu tiên tôi làm việc được làm bằng đá cẩm thạch. Nó được cắt ra từ một phiến đá nguyên nên chắc chắn rất đắt tiền.
Trong quá trình chụp ảnh lưu tư liệu giải phẫu, bàn giải phẫu làm từ đá cẩm thạch như vậy lại rất tuyệt vời. Điều này hơi khó giải thích nhưng thực sự ảnh chụp lên nhìn rất đẹp. Bàn giải phẫu tại nơi tôi đang làm việc hiện nay lại làm từ thép không gỉ, có thể điều chỉnh độ cao một cách đơn giản, việc lau rửa sau khi giải phẫu cũng rất dễ dàng nên nếu nói về việc sử dụng thì tôi chắc chắn nghiêng về bàn giải phẫu này hơn. Tuy nhiên chỉ riêng phần chụp ảnh thì bàn giải phẫu này không thể nào so được với bàn giải phẫu làm từ đá cẩm thạch. Bởi thép không gỉ kiểu gì cũng sẽ phản quang ánh đèn flash.
Nhắc đến bàn giải phẫu làm từ đá cẩm thạch, tôi lại nhớ tới một kỷ niệm không thể quên.
Hồi đó, tôi còn là người mới trong phòng pháp y nên chuyện gì cũng không rõ. Có một ngày, đột nhiên Sư phụ bảo tôi rằng: “Nishio, cậu leo lên bàn giải phẫu và nhảy 2, 3 cái cho tôi”. Có vẻ như bàn giải phẫu ấy đã bị sử dụng liên tục trong nhiều năm nên phần trụ kim loại đỡ mặt bàn giải phẫu đã bị hoen gỉ một phần. Chỉ cần chỗ đó bị gãy xuống thì chúng tôi sẽ được nhập một bàn giải phẫu mới.
Tất nhiên dù là mệnh lệnh của Sư phụ thì tôi cũng không thể làm chuyện này được. Thế nhưng, nhờ một sự kiện mà chúng tôi cũng nhanh chóng được đổi bàn giải phẫu mới.
Vào dịp Tết một năm nọ, người ta phát hiện ra thi thể của bốn người tại hiện trường một vụ hỏa hoạn. Với thi thể được phát hiện tại hiện trường hỏa hoạn, về nguyên tắc, ngoại trừ trường hợp biết rõ tình trạng của nạn nhân ngay tại thời điểm phát sinh hỏa hoạn, tất cả đều sẽ phải giải phẫu tư pháp. Nếu chỉ nhìn bên ngoài thi thể thì rất khó xác định được nạn nhân vẫn còn sống tại thời điểm xảy ra hỏa hoạn hay không.
Ngày hôm đó, chúng tôi phải giải phẫu liên tục bốn thi thể. Tại thời điểm giải phẫu tôi còn không để ý đến, thế nhưng sau đó phần mông của tôi lại cứ đau âm ỉ không thôi, thậm chí vài ngày sau, mỗi khi thức dậy vào buổi sáng tôi còn bị đau hông rất nghiêm trọng. Tôi đến khoa chỉnh hình trong trường để chụp chiếu và bác sĩ kiểm tra cho tôi nói rằng “Chỗ đau của cậu có đĩa đệm bị lòi ra rồi”.
Cứ thế, tôi đã bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.
Bản thân tôi cũng biết lý do tại sao. Thực ra tôi khá cao. Tôi không thể điều chỉnh được độ cao của bàn giải phẫu làm bằng đá cẩm thạch lâu đời kia và phải liên tục giải phẫu trong thời gian dài với tư thế cúi người. Trong quá trình giải phẫu lại phải nâng hạ thi thể nên phần hông bị vắt kiệt sức mỗi ngày đã kháng nghị kịch hệt như vậy. Chỉ là lần đó, cũng có thể coi là trong họa có phúc. Chuyện này đã trở thành vấn đề của hội đồng nhà trường và bàn giải phẫu bằng đá cẩm thạch kia đã ngay lập tức được chuyển thành bàn giải phẫu mới bằng thép không gỉ, có thể điều chỉnh độ cao.
Cơ quan nội tạng dù thiếu cũng không dẫn đến tử vong
Sau khi lấy các cơ quan nội tạng ra ngoài bàn giải phẫu, chúng tôi sẽ cắt mở chúng ra và quan sát tỉ mỉ tình trạng các cơ quan. Với giải phẫu pháp y, về nguyên tắc, chúng tôi sẽ phải cắt mở hộp sọ, lồng ngực, ổ bụng của thi thể, lấy hết nội tạng bên trong và kiểm tra kỹ lưỡng toàn bộ không sót chút gì. Có lẽ số lần chúng tôi “nắm trong tay” các cơ quan nội tạng như não, tim, phổi còn nhiều hơn so với bác sĩ phẫu thuật.
Chính vì mỗi ngày đều được tiếp xúc với các cơ quan nội tạng ấy nên tôi mới cảm nhận sâu sắc được rằng con người chúng ta còn sống được chính là nhờ có các cơ quan nội tạng đang đảm nhiệm tốt vai trò của mình.
Ví dụ, nếu lấy não bộ ra khởi đầu, con người chắc chắn sẽ chết. Ngay cả trái tim cũng vậy, nếu không được thay tim nhân tạo, một khi đã lấy trái tim ra ngoài, con người chắc chắn phải chết. Nói cách khác, tôi thực sự hiểu rất rõ rằng những cơ quan nội tạng như não bộ, trái tim đóng vai trò quan trọng như thế nào với “sự sống” của con người.
Mặt khác, cũng có những cơ quan nội tạng dù có bị lấy ra khỏi cơ thể sống thì con người cũng không chết. Ví dụ như lá lách. Đây là cơ quan lớn gần bằng nắm tay, nằm ở phía bên trái gần lưng. Lá lách được coi là cơ quan hủy bỏ các tế bào hồng cầu già nhưng giả sử nếu bị phẫu thuật cắt mất lá lách thì con người cũng sẽ không chết. Ngoài ra, ngay cả thực quản, dạ dày hay đại tràng, trong trường hợp phải cắt bỏ một phần hay toàn bộ vì u bướu hay ung thư… thì về cơ bản, con người vẫn không chết. Tất nhiên, điều này cũng sẽ mang đến cho con người những vấn đề không mấy dễ chịu.
Thận với phổi đều có hai nửa trái phải nên nếu bị mất đi một bên con người vẫn có thể tiếp tục sống. Điều này cũng tương tự với cơ quan chịu trách nhiệm tiết ra các hoóc-môn ở phía trên thận gọi là tuyến thượng thận. Tuy nhiên, với những cơ quan không được nhiều người biết tới nhưng lại đóng những vai trò quan trọng như tuyến giáp với vai trò phân bổ hoóc-môn trong máu, điều tiết quá trình trao đổi chất, tuyến tụy tiết hoóc-môn insulin làm giảm đường huyết, một khi bị cắt bỏ nếu không có các biện pháp bổ sung hoóc-môn kịp thời thì con người sẽ rất khó để duy trì sự sống.
Trong số những thi thể được chuyển tới chỗ chúng tôi, có không ít thi thể chết trong nghèo đói.
Có lẽ cuộc sống của họ cũng rất khó khăn khi phòng ở bị cắt điện, cắt nước hay thiếu thốn lương thực, thực phẩm. Nếu chỉ nhìn bên ngoài như người ngợm bẩn thỉu, gầy gò ốm yếu, ta cũng có thể hiểu được điều kiện sống của họ không hề thoải mái chút nào. Thế nhưng, khi giải phẫu mở lồng ngực, ổ bụng của những thi thể đó, những cơ quan nội tạng trước mặt tôi lại cực kỳ đẹp đẽ, đến mức tôi không thể tin được là những cơ quan này đã phải hoạt động suốt mấy chục năm.
Trong khi đó, thi thể của những người có vẻ được ăn sung mặc sướng, bề ngoài bóng bẩy xinh đẹp, da dẻ láng mịn nhưng nội tạng bên trong đa phần đều đã bị tích mỡ nội tạng. Có nhiều trường hợp bên ngoài đường ruột hay thận, thậm chí là bên ngoài dạ dày hay cả tim của họ cũng bị bao bọc bởi một lớp mỡ vàng dính chặt. Có những trường hợp khiến tôi cảm giác như với lớp mỡ dày như vậy, người này khi còn sống có bị nhồi máu cơ tim cũng không có gì là lạ cả.
Khủng hoảng lây nhiễm bệnh lao
Việc lấy hết các cơ quan nội tạng ra khỏi thi thể để giải phẫu có hai mục đích. Ngoài chuyện “kiểm tra tất cả các khả năng”, nó còn nhằm thu thập những thông tin “hầu như không thể có được lúc sinh thời” của thi thể. Thậm chí, điểm này cũng có thể áp dụng với các bệnh truyền nhiễm. So với các ngành nghề giải phẫu khác, giải phẫu pháp y với những thông tin không được biết trước như vậy được cho là có nguy cơ cao bị lây nhiễm những vi khuẩn, vi rút mang bệnh từ thi thể người chết.
Mỗi năm đều có một lượng khá lớn thi thể người chưa xác định được danh tính được chuyển đến (trong năm 2015, số thi thể chưa xác định được danh tính chiếm khoảng 10% tổng số thi thể giải phẫu tại Khoa Y, trường Đại học Hyogo) nên không hiếm trường hợp chúng tôi phải giải phẫu trong tình trạng không xác định được liệu người đó có mang mầm bệnh nào hay không.
Trong số các căn bệnh như vậy, đáng sợ nhất chính là “bệnh lao”.
Vi khuẩn lao có thể lây nhiễm qua không khí nên chúng tôi cần đặc biệt cẩn thận. Đối tượng giải phẫu đều là những người “không còn thở nữa”, thế nhưng trong quá trình lấy phổi ra, cắt mở kiểm tra phổi, vi khuẩn lao có thể phát tán vào không khí và nếu chúng tôi hít phải luồng không khí đó, chúng tôi sẽ bị nhiễm bệnh.
Từng có nhiều báo cáo về tình trạng các bác sĩ pháp y hay các nhân viên cảnh sát liên quan bị lây nhiễm bệnh lao. Nguồn lây bệnh chính là thi thể giải phẫu bị nhiẽm bệnh, thế nhưng hiển nhiên là trong quá trình giải phẫu, các bác sĩ pháp y lại không hề có được những thông tin ấy. Thời gian gần đây, các phòng pháp y cũng đã bắt đầu được trang bị thiết bị chụp CT và thông qua việc chụp CT trước khi giải phẫu, chúng tôi có thể xác định phần nào vấn đề này. Tuy nhiên, tôi không cho rằng phương pháp này có thể giúp chúng tôi xác định được tất cả các trường hợp.
Tại phòng giải phẫu của trường đại học chúng tôi có dán tờ giấy ghi dòng chữ thật to “Tiều tụy - Nghi ngờ nhiễm bệnh lao! ” tại những khu vực dễ thấy nhất. Hai chữ “tiều tụy” này được viết bằng chữ Hán “Luy sấu” (羸瘦) dùng để chỉ những người cực kỳ gầy gò, ốm yếu có thể trọng thấp hơn 20% so với tiêu chuẩn. Với những thi thể “tiều tụy” như vậy, trước tiên chúng ta cần phải nghi ngờ người đó bị lao. Chờ đến khi giải phẫu mở lồng ngực hay ổ bụng mới chú ý thì đã quá muộn nên bác sĩ giải phẫu phải cực kỳ thận trọng. Tại Phòng Pháp y chúng tôi, tất cả các nhân viên bước vào phòng giải phẫu đều phải đeo khẩu trang chuyên dùng trong các bệnh viện và chuyên khoa lao để phòng tránh các bệnh truyền nhiễm.
Nhắc đến bệnh lao, có lẽ mọi người sẽ liên tưởng đến “căn bệnh từ xa xưa”, thế nhưng tính trong năm 2015, số người chết vì bệnh lao tại Nhật đã lên đến 1.955 người, số “ca nhiễm mới” cũng trong năm này là 18.280 người, những con số tuyệt đối không hề nhỏ (Theo Kết quả thống kê báo cáo hàng năm về bệnh lao - Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản). Mặc dù những con số này có giảm nhẹ so với năm trước, nhưng tỷ lệ mắc bệnh lao tại Nhật hiện tại là 14,4/100 nghìn người, trong khi tại các nước lây nhiễm bệnh lao thấp trong nhóm các nước phát triển lại chỉ dưới 10 người, như vậy bệnh lao vẫn là một trong số những căn bệnh cần được chú ý cao tại Nhật Bản.
Tuy nhiên, không phải cứ bị nhiễm lao là chắc chắn sẽ phát bệnh. Ví dụ, hiện tại đã có những loại thuốc khá đặc hiệu nên dù có phát triển thành bệnh lao, chỉ cần người bệnh quản lý chặt chẽ tình trạng sức khỏe của bản thân thì sẽ không đến mức phải mất mạng.
Ngoài lây nhiễm bệnh lao, chúng tôi cũng cần chú ý đến việc lây nhiễm các vi-rút trong máu. Giải phẫu pháp y không phải là giải phẫu một vài bộ phận như các loại phẫu thuật trong chữa bệnh lâm sàng. Bởi đây là những hoạt động hết sức nguyên thủy khi phải mổ xẻ các bộ phận toàn thân hay phải lôi các cơ quan nội tạng ra ngoài để cắt mổ và đương nhiên lượng máu chúng tôi phải xử lý cũng rất nhiều.
Từng có một thi thể đàn ông gầy gò được đưa đến chỗ chúng tôi. Kiểm tra bên ngoài thi thể cho thấy hậu môn đã bị mở rộng. Trong quá trình giải phẫu lại phát hiện bên trong thực quản có một thứ như mốc trắng đang phát triển. Trước khi tìm hiểu nguyên nhân tử vong, chúng tôi tiến hành kiểm tra nguyên nhân của tình trạng này.
“Hậu môn mở liệu có phải do quan hệ đồng tính? Ngoài ra, những thứ như mốc trắng trong thực quản liệu có phải là do nhiễm nấm candida hay không?”
Từ suy đoán này, chúng tôi nghi ngờ “liệu người này đã nhiễm vi-rút AIDS hay không”. Khi đã tính tới khả năng này, chúng tôi lại tiến hành giải phẫu cẩn thận hơn so với bình thường.
Kết thúc giải phẫu, chúng tôi gửi mẫu xét nghiệm tới phòng vi sinh của trường đại học để kiểm tra AIDS và kết quả thực sự đã phát hiện vi-rút AIDS. Bản thân chúng tôi đều thực hiện các biện pháp phòng chống lây nhiễm như găng tay, khẩu trang y tế khi tiến hành phẫu thuật, thế nhưng như vậy cũng không thể đảm bảo chắc chắn chúng tôi không bị lây nhiễm bệnh gì. Chỉ là vi-rút AIDS có khả năng lây nhiễm khá thấp nếu chỉ ở mức độ truyền từ máu người bệnh sang da người thường. Hoặc dù có chọc nhầm kim tiêm từng sử dụng để lấy máu người bệnh đi chăng nữa thì tỷ lệ lây nhiễm của vi-rút AIDS hay vi-rút viêm phổi cũng không cao đến vậy. Nếu cần lưu ý tới tỷ lệ lây nhiễm thì bệnh lao vẫn là mối đe dọa lớn với những người làm ngành giải phẫu chúng tôi.
Tôi không hề muốn nói rằng “những người trong ngành pháp y đang đánh đổi cả tính mạng vì những người đã chết”. Chúng tôi, vì công việc của mình mà đang phải đối mặt với các thi thể mỗi ngày. Và việc phòng tránh lây nhiễm từ các thi thể ấy cũng phải là một phần trong công việc của pháp y. Tôi chỉ hy vọng rằng những ai đang có hứng thú với pháp y, những chuyên viên trẻ tuổi đang hoạt động trong lĩnh vực này sẽ biết về những nguy cơ tiềm ẩn và hết sức lưu ý.
Từ bàn giải phẫu, chúng tôi được chứng kiến những mảnh đời phải kết thúc dưới dạng những thi thể dị trạng.
Chẳng ai trong chúng ta có thể biết cái chết như vậy là hạnh phúc hay bất hạnh. Chỉ có chúng tôi, những bác sĩ pháp y trong Phòng Pháp y này là những người đang đưa tiễn họ, những con người phải đón nhận “cái chết dị trạng” ấy đi nốt đoạn đường cuối cùng. Có lẽ đây chỉ là câu nói cảm tính của riêng tôi, thế nhưng có thể nói chúng tôi là những người “thăm viếng cuối cùng” trước khi tiễn họ sang thế giới bên kia. Họ liệu có còn để lại những di ngôn, những tâm tưởng cuối cùng nào cho thế giới này. Và cũng có lẽ công việc của chúng tôi là vừa đối diện với những thi thể trên bàn giải phẫu, vừa lắng nghe những lời trăn trối cuối cùng ấy của họ.
6,754 từ






