Sự Trung Thực Của Xác Chết
Sự Trung Thực Của Xác Chết - Chương 02
Chết trong cô độc
Sự đáng sợ của sốc nhiệt
Mỗi ngày, Phòng Pháp y chúng tôi tiếp nhận đủ loại thi thể được đưa đến, trong số đó cũng có không ít thi thể đã quá lâu mới được phát hiện. Đối diện với bàn giải phẫu nơi có những bộ hài cốt cô độc của những người chết tại nhà và bị bỏ đói hơn một tháng hay những người chết trong núi ở vùng quê đến vài năm đã là chuyện thường ngày của chúng tôi.
Thậm chí tình trạng này còn ngày một tăng lên trong thời gian gần đây. Có lẽ là vì ngày càng có nhiều người sống độc thân hơn.
Cũng tại Phòng Pháp y chúng tôi, số ca giải phẫu trong năm đã tăng gấp 2 lần so với khoảng 10 năm trước. Năm 2015, chúng tôi đã giải phẫu tổng cộng 320 thi thể, trong số đó, 46% trường hợp, tức gần một nửa là người độc thân (số liệu chưa công bố). Và tôi chắc rằng nếu khảo sát số liệu trên toàn quốc thì tổng số ca thực hiện giải phẫu pháp y cũng đang tăng lên như vậy. Một trong những nguyên nhân khiến ta có thể nói được như thế là vì ngày càng có nhiều thi thể dị trạng, tức là không xác định được trạng thái tại thời điểm tử vong. Và tình trạng này chỉ thường xảy ra với những người sống một mình.
Theo Tóm tắt điều tra sinh hoạt cơ bản của người dân năm 2015 do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi công bố, số hộ gia đình độc thân, hay nói cách khác số người sống một mình trên toàn Nhật Bản có 13 triệu 517 nghìn hộ, chiếm tới 26,8% tổng số hộ gia đình trên toàn quốc. So với 20 năm trước, số hộ gia đình độc thân đã tăng hơn 4 triệu 300 nghìn hộ, tương đương 4,2%.
Trong đó, số hộ gia đình độc thân là người cao tuổi (hơn 65 tuổi) cũng tăng lên nhanh: nếu năm 1995 có 2 triệu 199 nghìn hộ thì đến năm 2015, con số này đã tăng lên 6 triệu 243 nghìn hộ, tăng khoảng 4 triệu 40 nghìn hộ.
Cùng với việc gia tăng số người cao tuổi sống độc thân, có một vấn đề đang dấy lên sự quan tâm của xã hội trong 10 năm trở lại đây là các biện pháp chống sốc nhiệt vào mùa hè. Theo Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, vào thời điểm tháng 7, tháng 8 năm 2016, số bệnh nhân phải nhập viện do sốc nhiệt trên toàn quốc là 776 người. Trong đó có 473 người, chiếm hơn 60%, tổng số bệnh nhân là người trên 61 tuổi. Năm 2005, số người chết vì sốc nhiệt là 328 người, thì đến năm 2015, con số này tăng lên khoảng 3 lần là 968 người, và đến năm nắng nóng kỷ lục 2010, có tới 1.731 người chết vì sốc nhiệt (Theo thống kê biến động dân số Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi).
Trong bối cảnh này, ngoài vấn đề biến đổi khí hậu có lẽ còn có yếu tố “gia tăng số người sống độc thân”.
Thực tế, sốc nhiệt không chỉ xảy ra ở bên ngoài trời mà còn ngay ở trong nhà. Và oái oăm hơn nữa là không ít trường hợp xảy ra vào buổi đêm khi con người đang ngủ.
Nếu một người bị sốc nhiệt và ngất ở ngoài vào ban ngày, có thể những người xung quanh sẽ phát hiện và gọi cấp cứu. Thế nhưng, nếu họ bị sốc nhiệt khi đang ngủ một mình thì… Khi bị sốc nhiệt, cơ thể sẽ bị mất nước và muối, nhiệt độ bị giữ lại trong cơ thể không tản được ra ngoài. Nếu sốc nhiệt ở mức độ nhẹ, bạn có thể chỉ bị hoa mắt, chóng mặt, nhưng nếu nặng, bạn có thể xuất hiện tình trạng co giật, đau đầu, buồn nôn nghiêm trọng. Nếu ý thức không tỉnh táo, bạn thậm chí còn chẳng thể cầu cứu được nữa.
Thực tế, theo kết quả điều tra được thực hiện tại 23 quận ở Tokyo do Viện Pháp y Tokyo tiến hành cho thấy, trong số những người chết vì sốc nhiệt có hơn 30% số người năm 2014 và hơn 20% số người năm 2015 chết vào buổi tối. Trong đó, khoảng 90% trường hợp là chết trong phòng ở và hầu hết là các nạn nhân đều không sử dụng điều hòa. Những người cao tuổi thường có tính tiết kiệm hoặc vì sở thích nên dù có điều hòa thì nhiều người cũng không thường xuyên sử dụng. Chính bởi vậy mà thời gian gần đây, người ta bắt đầu sử dụng cụm từ “sốc nhiệt ban đêm” để kêu gọi sự chú ý của mọi người tới tình trạng này, đặc biệt là chứng sốc nhiệt xảy ra khi con người đang ngủ.
Sốc nhiệt tới mức tan chảy cả cơ thịt
Trong số các thi thể được chuyển tới chỗ chúng tôi rốt cuộc có khoảng bao nhiêu người chết vì chứng sốc nhiệt này? Thực tế, chúng tôi cũng không biết được con số chính xác.
Trong trường hợp là người sống một mình, không ít thi thể nhiều tuần lễ sau mới được phát hiện. Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, khi chúng tôi đối diện với họ trên bàn giải phẫu, thì thi thể của họ đã đang trong quá trình phân hủy và hầu như chẳng còn cách nào để có thể tìm hiểu xem liệu có phải họ chết vì sốc nhiệt hay không.
Nếu được phát hiện khi còn đang sống (và tất nhiên trong trường hợp đó, họ sẽ được đưa tới bệnh viện chứ không phải phòng giải phẫu pháp y), các bác sĩ chắc chắn có thể xác định được thân nhiệt cao bất thường và dễ dàng chẩn đoán được là họ bị sốc nhiệt. Nếu thân nhiệt của bệnh nhân lên tới 41 độ C, với một người ít kinh nghiệm lâm sàng như tôi chỉ có thể chẩn đoán là ngộ độc cấp tính hoặc sốc nhiệt mà thôi.
Chỉ là, nếu người đó đã chết, cơ thể họ cũng không còn sinh nhiệt nữa, thân nhiệt của người chết sẽ giảm dần xuống tới khi bằng với nhiệt độ môi trường cho dù trước khi chết người đó có bị sốc nhiệt hay không. Nói cách khác, nếu nhiệt độ môi trường ngoài là 30 độ C, thân nhiệt của thi thể cũng sẽ giảm dần xuống mức 30 độ C. Tới khi tiến hành giải phẫu, nếu thân nhiệt của thi thể đã giảm tới mức tương đương với nhiệt độ môi trường ngoài thì rất khó để xác định nguyên nhân tử vong có phải là sốc nhiệt hay không, và nhiều trường hợp chỉ có thể kết luận nguyên nhân tử vong là “Không xác định”.
Đó là một ngày tháng 8 nắng oi bức từ nhiều năm trước, thi thể một người phụ nữ khoảng 70 tuổi được cho là chết vào ban đêm được đưa đến chỗ chúng tôi.
Khi người quen của bà sống gần đấy lâu lâu tới thăm đã phát hiện bà ấy nằm lặng lẽ trên giường từ lúc nào. Khi được phát hiện người phụ nữ này đã chết được khoảng 3 ngày và đương nhiên thân nhiệt của thi thể đã hạ xuống bằng với nhiệt độ môi trường bên ngoài. Trên thi thể không có vết thương ngoài nào đặc biệt, qua giải phẫu thì thấy các cơ quan nội tạng bên trong thoạt nhìn cũng không có gì bất thường. Do không tìm được nguyên nhân tử vong nên trong biên bản khám nghiệm tử thi, phần nguyên nhân tử vong phải để là “Không xác định”.
Khi tiến hành quan sát chi tiết tình trạng các cơ quan nội tạng của người phụ nữ đã chết ấy trong lần kiểm tra bằng kính hiển vi sau giải phẫu, chúng tôi đã quan sát được các dấu hiệu chứng tỏ một phần tế bào cơ của người này đang bị tan chảy (biến tính).
Đa phần các tế bào trong cơ thể người đều đảm bảo cơ năng bình thường nhờ duy trì trạng thái thân nhiệt ổn định ở mức 37 độ C, tuy nhiên khi thân nhiệt tăng lên quá cao, các tế bào ấy sẽ xảy ra dị trạng. Một trong các dị trạng chính là các tế bào cơ xương tạo nên cơ thịt sẽ bị tan chảy và bị giết chết bởi nhiệt độ cao, các thành phần bên trong các tế bào cơ sẽ chảy vào máu. Người ta gọi hiện tượng này là “tiêu cơ vân” và trong pháp y, hiện tượng này được coi là một “gợi ý” ít ỏi để chẩn đoán chứng sốc nhiệt nặng.
Ngoài ra, “cơ vân” mà tôi đề cập đến ở đây chính là đang nói tới các cơ thịt thông thường như cơ xương ở tay, chân.
Tôi cũng không rõ có thể coi đây là điều vạn hạnh trong bất hạnh hay không, tuy nhiên nhờ có gợi ý ít ỏi này mà nguyên nhân tử vong trong biên bản khám nghiệm tử thi của người phụ nữ ấy đã được sửa từ “Không xác định” thành “Sốc nhiệt”.
Chết vì sống độc thân
Không riêng gì trường hợp chết vì sốc nhiệt, cứ mỗi lần giải phẫu các thi thể của người sống độc thân, tôi lại nghĩ “Giá như họ đừng sống độc thân thì…”
Có một lần khi tôi đang giải phẫu thi thể của một người đàn ông khoảng 60 tuổi thì xảy ra một chuyện:
Đó là vào tháng Chạp, người ta phát hiện người một đàn ông nằm chết trên sàn ở nhà riêng. Ngôi nhà của người này không thấy có dấu vết bị đột nhập, hay phòng ốc cũng không có dấu hiệu bị lật tung bừa bãi. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn được giao thực hiện giải phẫu chấp thuận do không tìm được nguyên nhân tử vong.
Người đàn ông đó được xác định là không có tiền sử bị bệnh, các cơ quan bên trong cơ thể cũng không có dấu hiệu bị bệnh nhưng tim lại có những dấu hiệu đặc trưng như đã đề cập chi tiết ở Chương 1 (màu sắc máu hai bên trái và phải của tim khác nhau) nên nguyên nhân trực tiếp gây tử vong được cho là “chết cóng”. Thế nhưng, sau khi hỏi thêm thông tin chúng tôi mới biết người đàn ông đó chẳng có vẻ gì là thiếu thốn kinh tế, nhà riêng của ông ta còn lắp điều hòa. Nếu vậy, tại sao ông ấy lại có thể chết cóng tại nhà được chứ. Khi đó, tôi vẫn không tìm ra được lý do cho chuyện này.
Chúng tôi tiếp tục giải phẫu dù chưa tìm ra được rõ nguyên nhân của vấn đề, tới khi cắt mở hộp sọ của thi thể, tôi mới hiểu được nguyên nhân tại sao.
Não ông ta bị xuất huyết.
Xuất huyết não dễ xảy ra ở người cao huyết áp, và chúng ta cũng đã phát hiện ra những vùng não dễ xảy ra xuất huyết nhất. Đó là nhân vỏ hến, vùng này bị xuất huyết với phạm vi cỡ quả bóng bàn.
Xuất huyết não xảy ra do các mạch máu trong não bị phá vỡ, tuy nhiên, trong trường hợp của người đàn ông này, mức độ xuất huyết còn nhẹ nên bình thường không thể dẫn đến tử vong. Nếu khi ấy có ai đó ở bên cạnh ông ta, họ chắc chắn sẽ phát hiện ra tình trạng bất thường và gọi xe cấp cứu. Và nếu được tiếp nhận điều trị tại bệnh viện, ông ta đã không đến mức phải chết.
Chỉ là người đàn ông này lại sống độc thân. Có lẽ do xuất huyết não nên ông ta không di chuyển được. Khi bản thân không thể tự gọi xe cấp cứu và gục ngã trên sàn nhà, ông ta đã chết cóng vì cái lạnh dưới sàn.
Con người khi chết sẽ trở thành “màu xanh”
“Chết vì sống độc thân” điều này đã khiến tôi phải trăn trở về hai chữ “cô độc”. Nếu được hỏi “cái chết cô độc” là gì thì tôi sẽ nghĩ ngay đến “tình trạng sống một mình và chết cũng chẳng ai biết”.
Tất nhiên, tôi hoàn toàn không nghĩ sống độc thân là cô độc.
Sống như thế nào là chuyện riêng mỗi người. Có những người thoải mái, thích thú khi sống một mình, lại có những người chỉ cần đi ra ngoài là có đủ bạn bè từ bạn công việc cho tới những người chung sở thích. Và chắc chắn vẫn có những người không sống với con cháu nhưng họ cũng cảm thấy vui vẻ khi thỉnh thoảng mới gặp gỡ người nhà.
Chỉ là nếu bạn sống một mình, rất có thể khi bản thân xảy ra chuyện gì đó sẽ chẳng có ai tới giúp đỡ kịp. Bình thường chỉ cần gọi điện thông báo tình hình cho gia đình và bạn bè hay gọi xe cấp cứu là được, thế nhưng cũng không tránh khỏi những tình huống nguy hiểm bất ngờ khiến bạn chẳng kịp gọi một cuộc điện thoại.
Nhiều trường hợp khi tình trạng cơ thể chuyển xấu nhanh và cứ thế chết đi, phải mất một thời gian rất lâu thì thi thể họ mới được phát hiện ra. Và tất nhiên để càng lâu thì thi thể càng bị phân hủy.
Mọi người đã bao giờ tưởng tượng thân thể chúng ta phân hủy trông sẽ như thế nào chưa?
Nếu bạn không làm các công việc liên quan tới ngành y, dịch vụ mai táng hay điều tra hình sự, chắc chắn bạn sẽ chẳng có mấy cơ hội tiếp xúc với di hài người chết. Hầu như, thời điểm người thân hay bạn bè mất, chúng ta đều chỉ đối diện với người quá cố trên giường bệnh hay trong quan tài đã được xếp đầy đá khô ở dưới đáy. Hay nói cách khác, mọi người chỉ có thể tiếp xúc với các thi thể đang ở gần với trạng thái sinh thời.
Con người cũng là một loài sinh vật sống, ngay sau khi chết, thể xác chúng ta bắt đầu thối rữa. “Phân hủy” là một thuật ngữ y học được sử dụng để chỉ trạng thái các tế bào phân rã và thối rữa do tác động của các vi sinh vật hoạt động mạnh mẽ sau khi chết.
Không có nhiều người biết rằng con người sau khi chết đi, bên ngoài cơ thể sẽ dần dần chuyển thành “màu xanh”. Khi thân thể con người bắt đầu phân hủy, trước tiên phần da bên phải dưới bụng sẽ chuyển thành màu xanh (hãy hình dung ra màu “xanh rêu”). Vào mùa hè, chỉ cần 1, 2 ngày sau khi chết là thi thể con người bắt đầu chuyển màu, lan hết ra vùng bụng, sau đó lên đến ngực, đi xuống chân và dần dần lan rộng ra cả phía trên và phía dưới cơ thể. Sau khoảng một tuần, cơ bản toàn bộ thi thể đều được phủ hoàn toàn bằng một màu xanh.
Phần phía dưới, bên phải của bụng là phần đường ruột phình to nhất. Vốn dĩ cả đường ruột sẽ trương phình lên, nhưng khu vực này lại là nơi đường ruột phình to với đường kính lớn nhất gọi là van hồi - manh tràng (nơi nối giữa ruột non và ruột già).
Có lẽ đây cũng là nơi gần với thành bụng nhất nên những thay đổi bên trong đường ruột sẽ dễ biểu hiện ra bên ngoài thân thể hơn.
“Mùi” cái chết là không thể xóa sạch
Không phải thi thể nào bị bỏ mặc trong một khoảng thời gian cũng có hiện tượng đổi màu do phân hủy như thế này. Tùy vào điều kiện môi trường xung quanh thi thể sau khi chết mà có trường hợp thi thể còn chuyển thành xác ướp.
Ví dụ, khi một người chết vào giữa đông, nếu thi thể của người đó bị bỏ lại trong một căn phòng thông gió tốt, dưới điều kiện hanh khô, thì nó sẽ chuyển thành xác ướp thay vì bị phân hủy. Nguyên nhân là bởi khi nước trong cơ thể bị rút đi một mức độ nào đó, quá trình phân hủy sẽ không diễn ra nữa. Ngoài ra, “xác ướp” cũng là một thuật ngữ y học được công nhận rõ ràng.
Trong khi đó, trường hợp người chết vào mùa hè, thông thường thi thể chỉ cần trải qua một tháng sẽ hóa thành xương trắng. Nguyên nhân là mùa hè thì rất nhiều ruồi. Cho dù là ở ngoài thiên nhiên hay ở trong nhà thì thi thể cũng đều bị chúng tìm đến và đẻ trứng.
Từng có một thi thể được phát hiện chết trong phòng và được đưa đến chỗ chúng tôi. Khi đó, thi thể đã phân hủy khá nhiều, nhiều chỗ còn lộ cả xương.
Trong thân thể cũng lúc nhúc đầy giòi bọ, thậm chí cơ quan nội tạng như não bộ hầu như đã bị ăn sạch. Khi hỏi thêm thông tin, chúng tôi mới được biết một người sống gần đó cảm thấy lạ khi thấy cửa sổ nhà này lại đen ngòm và đã báo cảnh sát. Những con ruồi ở đấy đã sinh sản với tốc độ chóng mặt. Trứng ruồi đẻ trên thi thể người chết ấy nhanh chóng nở thành giòi, rồi lại lột xác thành ruồi và cả căn phòng chẳng mấy chốc chỉ toàn là ruồi là ruồi.
Cũng có những loài sâu bọ thích những thi thể biến thành xác ướp (sẽ đề cập trong Chương 3) nên khó có thể nói là toàn bộ trường hợp đều như vậy nhưng nhìn chung, nếu bị bỏ quên vào mùa đông thì sẽ khó xảy ra quá trình phân hủy và nhiều trường hợp những thi thể được chuyển đến chỗ chúng tôi đều ở trong tình trạng rất “đẹp”. Ngược lại, nếu là vào mùa hè, rất hiếm có thi thể nào lại không có giòi bọ bám lên cả.
Mặc dù đã quen với nghề này, nhưng tôi chưa bao giờ thoải mái với chuyện giải phẫu thi thể đã bị phân hủy. Không chỉ là vấn đề thị giác mà chúng tôi cũng rất để ý đến “mùi” của thi thể nữa.
Và thực tế, khi phải xử lý những thi thể đang trong quá trình phân hủy như vậy, các thành phần trong thứ mùi đó sẽ ám vào da, vào tóc chúng tôi và mãi chẳng thể gột sạch được. Cho dù có quấn kín trong nhiều lớp áo phẫu thuật đi chăng nữa thì thứ mùi đó cũng vẫn tìm được lối len lỏi vào người và bám chặt lấy chúng tôi.
Có một lần, tôi thử dùng thuốc khử mùi bán ngoài chợ để xịt lên người hòng tẩy hết mùi hôi ấy, thế nhưng nó không những không hiệu quả mà còn trộn lẫn với mùi tử thi đang bám trên người, hôi thối không thể chịu được. Ngày hôm đó, tôi đành chịu thua và lên tàu điện đi về nhà, thế nhưng khi ngồi xuống ghế thì những người ngồi ở các ghế bên cạnh cứ lần lượt đứng dậy hết. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ khuôn mặt của một người phụ nữ trẻ khi cô ấy vừa nhăn mày vừa tránh xa khỏi tôi. Từ đó về sau, tôi chẳng bao giờ áp dụng những phương pháp khử mùi tệ hại như vậy nữa.
Chết vì bị bắt nạt
Không phải ai sống độc thân cũng đều “cô độc”. Nhưng ngược lại, có người cho dù sống cùng gia đình hay trong cộng đồng, trường học, công ty thì vẫn không tránh khỏi cảm giác cô độc, lạc lõng. Hay nếu sự cô độc ấy là ý muốn của bản thân, là tự bản thân tạo ra nó, thì đó có lẽ cũng chính là cách sống của chính bạn.
Chỉ là, nếu bạn muốn bước vào nhóm nào đó mà không thể thì mọi chuyện sẽ ra sao? Khi chuyện đó xảy ra ngay trong trường học hay công ty, đặc biệt là cộng đồng nơi bản thân bạn thuộc về thì chắc hẳn sẽ có không ít người cảm thấy tổn thương. Và “bắt nạt” cũng được cho là một trong những vấn đề như vậy.
Theo kết quả của Điều tra liên quan đến hành vị, ứng xử có vấn đề của trẻ em, học sinh năm 2015, do Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ thực hiện tới cuối tháng 3 năm 2016 với đối tượng là các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, cao đẳng, trường hỗ trợ đặc biệt trên toàn quốc, “số vụ được công nhận là bắt nạt học đường” lên đến 224.540 vụ, con số kỷ lục từ trước tới nay. So với cùng thời điểm năm trước, số vụ bắt nạt học đường trong năm này đã tăng tới 36.468 vụ. Mặc dù vậy, con số này mới chỉ là các vụ “được công nhận” từ phía nhà trường, và chúng ta hoàn toàn có thể tưởng tượng trong thực tế còn rất nhiều vụ bắt nạt học đường nữa đã và đang xảy ra.
Trước kia, tôi đã từng giải phẫu cho một thi thể nam sinh học cấp hai được cho là đã nhảy lầu tự tử do không chịu nổi việc bị bắt nạt.
Khi ấy, thi thể của cậu bé được phát hiện ngay sau khi cậu ấy chết nên những thông tin chúng tôi nhận được tại thời điểm tiến hành giải phẫu vẫn còn rất hạn chế. Cậu nam sinh này không để lại bức di thư nào, cũng không thể hoàn toàn phủ nhận khả năng cậu bé bị ai đó xô ngã nên chúng tôi được ủy thác tiến hành giải phẫu tư pháp để phục vụ cho một “vụ án giết người không rõ kẻ tình nghi”.
Kết quả giải phẫu cho thấy nguyên nhân dẫn tới tử vong là “sốc mất máu do gãy nhiều xương sườn”. Quá trình giải phẫu không tìm thấy dấu vết nạn nhân bị chuốc uống các loại thuốc như thuốc ngủ cũng không có dấu vết xô xát với người khác trước khi sự việc xảy ra.
Sau giải phẫu, chúng tôi cũng biết được rằng cậu bé ấy đã bị bắt nạt khá nghiêm trọng tại trường. Trường học là nơi tập trung rất nhiều người, có lẽ chính vì vậy khi bị mọi người xung quanh cô lập, cậu bé lại càng cảm thấy cô độc hơn.
Ngoài ra, khi có ngoại lực tác động mạnh lên thân thể như nhảy từ trên cao xuống hoặc đâm vào xe ô tô, những tổn thương bên ngoài của di thể thường rất nghiêm trọng. Không ít trường hợp còn xảy ra gãy xương nghiêm trọng trên diện rộng như xương hộp sọ tại phần đầu, xương sườn ở lồng ngực hay xương chậu ở vùng hông…
Mặc dù số lượng vết thương và mức độ vết thương của những thi thể như vậy thường khá lớn nhưng không vì thế mà trình tự hay phương thức giải phẫu của chúng tôi thay đổi. Tuy nhiên, nếu bên ngoài thi thể, các tổ chức dưới da, xương hay cơ quan nội tạng có vết thương, chúng tôi sẽ phải ghi chép hoặc chụp ảnh tất cả các vết thương ấy. Chính vì vậy, so với việc giải phẫu thi thể ít vết thương, các trường hợp như vậy tốn nhiều thời gian hơn hẳn.
Đôi khi, chúng tôi sẽ phát hiện ra nhiều tổn thương là nguyên nhân dẫn tới tử vong như “vỡ hộp sọ”, “vỡ tim”, “gãy nhiều xương sườn”… Với những trường hợp như vậy, rất khó kết luận vết thương nào mới là nguyên nhân thực sự dẫn đến tử vong.
Thế nhưng cũng không thể nói vì nguyên nhân nào cũng có thể là nguyên nhân tử vong mà chúng tôi có thể ghi bất cứ nguyên nhân nào vào biên bản khám nghiệm tử thi cũng được.
Ví dụ, có người bị một ô tô tải lớn trên đường cao tốc chèn qua khiến não bộ và tim đều bị vỡ nát. Thời điểm giải phẫu, nếu tim của người đó bị lệch lên phía cổ hay đầu so với vị trí bình thường, vậy có khả năng người đó bị chèn từ phía chân đi lên khiến các cơ quan trong cơ thể bị chèn ép đến biến dạng. Theo suy nghĩ thông thường, tim ở vị trí bên dưới, gần chân hơn nên sẽ bị vỡ trước não bộ, do đó nguyên nhân tử vong không phải là “vỡ hộp sọ” mà là “vỡ tim”.
Cái chết cô độc và cái chết liên quan tới rượu
Trong những năm gần đây, tôi thường được nghe tới cụm từ “cái chết cô độc”. Những người sống độc thân không có ai xung quanh để ý chăm sóc, vì những căn bệnh đột phát hay những chứng bệnh mạn tính mà cứ thế lặng lẽ ra đi. Cụm từ “cái chết cô độc” chính là để chỉ tình trạng đáng buồn này trong xã hội hiện nay.
Trong thảm họa động đất và sóng thần ở Tohoku năm 2011, ngay cả ở những khu nhà tị nạn ở ba tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima, những khu vực chịu thiệt hại nặng nề trong trận thảm họa này, những “cái chết cô độc” cũng trở thành vấn đề lớn. Tính đến năm 2015, số người chết trong cô độc đã lên đến 188 người, và 5 năm sau thảm họa ấy, con số này đều gia tăng theo từng năm. Kyodo News, hãng thông tấn tiến hành điều tra này, do không hiểu rõ ràng định nghĩa về cái chết cô độc nên đã hỏi cơ quan cảnh sát của ba tỉnh trên về “số người sống một mình trong các khu nhà tạm và được phát hiện trong tình trạng tử vong” (cảnh sát của ba tỉnh vẫn chưa xác định được trong số này có bao gồm cả những người tự sát hay không nhưng riêng cảnh sát tỉnh Iwate đã “loại trừ số vụ tự sát với số liệu năm 2015”).
Vấn đề cái chết cô độc của những nạn nhân trong các thảm họa như vậy cũng từng rất được chú ý tại các khu nhà công phục hồi sau thảm họa động đất lớn Hanshin - Awaji xảy ra năm 1995. Do sự gia tăng số người cao tuổi sống độc thân cùng với tình trạng thăm hỏi người thân, hàng xóm bị gián đoạn do tình hình môi trường, khí hậu thay đổi bất thường nên nhiều người không có ai để nương nhờ, chăm sóc.
Rất nhiều lần tôi nghe được những ý kiến như giá khi đó có người thân họ hàng của họ tới sống cùng hay cơ sở vật chất cho phép hàng xóm có thể để mắt tới nhau thì biết đâu họ đã chẳng ra đi trong cô độc như vầy.
Tôi vẫn luôn có cảm giác phần đông những cái chết cô độc như vậy đều có liên quan đến đồ uống có cồn, hay nói cách khác là việc uống rượu của họ.
Trong thực tế, tại Phòng Pháp y chúng tôi, gần 30% số tử thi được giải phẫu ở đây có cồn trong máu.
Trong đó, những người chết lúc sinh thời thường xuyên uống rượu quá mức, hay nói cách khác là có chứng nghiện rượu hầu hết đều là nam giới và lại là người sống độc thân. Chính vì sống độc thân nên họ mới bị nghiện rượu hay chính vì nghiện rượu họ mới sống độc thân? Từ số lượng người đông đảo như vậy tôi cho rằng giữa hai yếu tố này sẽ phải tồn tại mối quan hệ nhân quả nào đó. Nhìn vào hoàn cảnh của họ ta thấy nhiều người vì để trốn chạy khỏi áp lực thất nghiệp phá sản, vay nợ, hay áp lực từ các mối quan hệ nơi làm việc, bạn bè hay gia đình mà tìm đến rượu.
Tôi vẫn còn nhớ một trường hợp giải phẫu người nghiện rượu. Đó là một người đàn ông khoảng 50 tuổi, bị công ty giảm biên chế vào khoảng năm 45 tuổi. Nghe nói, ông này suốt một thời gian dài không liên lạc với gia đình cũng không có bạn bè thân thiết. Từ lúc nghỉ việc, ông ta chỉ chìm trong men rượu và trong khoảng nửa năm trước khi chết, ông ta hầu như chẳng ăn uống gì ngoài chất cồn.
Cảnh sát đã tiến hành điều tra và phát hiện trong nhà người đàn ông này hầu như không còn đồ ăn, thay vào đó là hàng núi lon bia và chai shochu rỗng nằm ngổn ngang khắp nhà.
Mạch máu của những người chỉ sống với cồn như người đàn ông này ngược lại đều rất đẹp. Thông thường, do xơ cứng động mạch theo độ tuổi mà nhiều trường hợp hầu như không còn nhìn thấy mạch máu nữa. Thế nhưng, có lẽ với những người hầu như không hấp thụ các chất dinh dưỡng nào khác ngoài cồn, ví dụ như chất béo… thì khó bị xơ cứng động mạch hơn.
Khi nghiện rượu, thay vì hấp thụ các chất protein, chất béo từ các bữa ăn thông thường, con người lại chỉ hấp thu chất cồn và lấy được năng lượng ở mức thấp nhất. Chính vì không có các bữa ăn giàu chất béo nên những người này cũng hầu như không có mỡ nội tạng. Hầu hết những người nghiện rượu mà tôi từng giải phẫu đều rất gầy, gần như không có ai có được lớp mỡ dưới da dày tới 3,4cm cả. Nếu chỉ nhìn vào các cơ quan bên trong, ta lại có thể thấy những người này chẳng có các yếu tố gây ra các bệnh như nhồi máu cơ tim, thậm chí ta còn cảm thấy các cơ quan được giữ trong trạng thái rất tốt.
Thể Ketone* cướp đi tính mạng con người
Người đàn ông khoảng 50 tuổi ấy được đưa tới chỗ chúng tôi. Ông ta nằm trên bàn giải phẫu cũng trong tình trạng gầy gò và hầu như không có mỡ nội tạng. Mặc dù hơi kỳ lạ, thế nhưng bản thân tôi thực sự đã được kiểm nghiệm câu nói chỉ cần có cồn, con người vẫn có thể sống được (đương nhiên không có nghĩa là sống khỏe mạnh).
Vậy tại sao người đàn ông này lại chết?
Trong trường hợp chỉ hấp thụ một chất duy nhất là cồn, chỉ cần một lần bị cảm lạnh, tất cả các cơ thịt của người đó sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm. Nguyên nhân của tình trạng này là do “thể Ketone”, một hợp chất có tính axit.
Người bình thường khi thiếu dinh dưỡng (đường glucose), cơ thể sẽ đốt cháy chất béo và chuyển hóa thành năng lượng hoạt động. Khi đó, trong cơ thể sẽ hình thành các thể Ketone trở thành nguồn năng lượng cho toàn cơ thể thay thế cho đường glucose. Như nhiều người đã biết đến “phương pháp giảm cân Keto”, tức là giảm lượng hấp thụ carbohydrate tối đa, thì cho dù là người khỏe mạnh bình thường, chỉ cần nhịn ăn hai ngày, chắc chắn trong máu hay nước tiểu sẽ có thể Ketone.
Thể Ketone là một chất mang tính axit nên khi nồng độ chất này trong máu tăng, tính axit của máu sẽ tăng cao. Cơ thể người khỏe mạnh có thể điều tiết độ pH (chỉ số thể hiện tính axit hay tính kiềm) của máu ở phổi, chỉ cần vô thức hô hấp nhanh là có thể tích cực đào thải cacbon dioxit ra ngoài cơ thể và tăng tính kiềm trong máu. Đồng thời, thận cũng sẽ hoạt động để bài tiết lượng axit dư thừa ra ngoài theo đường nước tiểu để điều tiết máu trong cơ thể nghiêng về tính kiềm.
Với trường hợp của người nghiện rượu, chỉ cần một trận cảm lạnh cũng có thể cắt đứt nguồn dinh dưỡng duy nhất của họ, làm thể Ketone trong máu tăng đột biến và việc điều tiết độ pH của máu không tiến hành kịp thời. Khi ấy, để đảm bảo các hoạt động của cơ thể diễn ra bình thường, chỉ số pH của máu chỉ có thể tiến hành điều tiết trong phạm vi rất nhỏ. Và khi thể Ketone trong máu tăng lên quá cao, độ axit trong máu sẽ vượt khỏi phạm vi điều tiết bình thường khiến cơ thể không còn duy trì được các cơ năng cơ bản.
Người đàn ông khoảng 50 tuổi ở trên sau khi được tiến hành kiểm tra máu sau giải phẫu cũng đã cho kết quả chỉ số thể Ketone tăng bất thường. Trong khi đó, nồng độ cồn trong máu của người đàn ông nghiện rượu này lại khá thấp nên anh ta cũng được xác định là không phải chết vì ngộ độc cồn cấp tính.
Thông thường, nguyên nhân tử vong do rượu thường được biết đến là ngộ độc cồn cấp tính. Đương nhiên, ngay cả những người nghiện rượu, nếu uống tới mức vượt quá nồng độ chí mạng ấy cũng có khả năng chết vì ngộ độc cồn cấp tính.
Tuy nhiên, trong số những thi thể được đưa tới chỗ chúng tôi, số người chết vì uống quá nhiều rượu khiến nồng độ cồn trong máu gia tăng đột biến và bị ngộ độc cồn cấp tính lại ít đến đáng kinh ngạc.
Nguyên nhân tử vong trực tiếp do cồn thực ra lại khá hiếm, hầu hết đều là các trường hợp chết do các nguyên nhân liên quan gián tiếp đến cồn giống như người đàn ông trên, mặc dù nồng độ cồn trong máu khá thấp nhưng thể Ketone lại tăng đột biến, hay chết đuối do trượt chân trong lúc đang loạng choạng vì say rượu, hoặc cũng có thể là do bị ô tô đâm trong khi đang nằm vạ vật bên lề đường khi tan tiệc liên hoan cuối năm, hoặc chết vì ngã từ sân ga xuống đường ray sau khi say rượu… Chúng tôi hay gọi những cái chết có nguyên nhân gián tiếp từ rượu như vậy là “cái chết liên quan đến rượu”.
Xét theo khía cạnh này, tôi lại cảm thấy có lẽ đó cũng là những “cái chết liên quan” vốn có thể phòng tránh được nếu họ có người uống rượu cùng hay có người đưa về nhà.
Pháp y và bệnh tâm thần
Như những gì tôi đã trình bày trong các phần trên, tình trạng “chết cô độc” thường xảy ra với những người sống một mình, người cao tuổi, người thất nghiệp hay người nghiện. Nếu đặt trong khía cạnh ngành pháp y, sự gia tăng những cái chết này đã góp phần gia tăng số vụ giải phẫu những thi thể dị thường.
Trong những năm gần đây, tôi lại chú ý đến một điều. Đó là 28%, gần 1/3 số thi thể được giải phẫu tại Phòng Pháp y của chúng tôi mắc bệnh tâm thần. (404 ca trong tổng số 1.442 ca. Thời gian từ năm 2009 đến năm 2015/ số liệu chưa công bố). Ít nhất thì tình trạng mỗi năm gia tăng số thi thể của những người mắc bệnh tâm thần được đưa đến Phòng Pháp y chúng tôi là sự thực rất rõ ràng.
Khi giải phẫu các thi thể của người mắc bệnh tâm thần, rất nhiều trường hợp chúng tôi đều không tìm ra nguyên nhân nào khiến người đó tử vong. Kết quả là không ít trường hợp dù đã giải phẫu nhưng vẫn buộc phải ghi là “Nguyên nhân tử vong không xác định”. Ngoài ra cho tới nay, chúng ta vẫn chưa thể xác định được chắc chắn những nguyên nhân tử vong đặc thù có vẻ liên hệ tới bệnh tâm thần. Thế nhưng, với những bệnh nhân tâm thần này, càng đến bệnh viện điều trị thường xuyên, họ càng rơi vào tình trạng sử dụng thuốc trường kỳ. Trong số các loại thuốc được kê cho các bệnh nhân tâm thần, có nhiều loại được ghi trong hướng dẫn sử dụng là có tác dụng phụ gây “rối loạn nhịp tim” vậy nên chúng ta cũng không thể khẳng định là không trường hợp nào tử vong vì tác dụng phụ này.
Tuy nhiên, phải đo điện tâm đồ mới có thể biết được người đó có rối loạn nhịp tim hay không. Tất nhiên, khi đã đến chỗ chúng tôi rồi thì đương nhiên màn hình điện tâm đồ của họ chỉ hiển thị một đường ngang không hề dao động. Cho dù có giải phẫu tử thi cũng vô cùng khó chẩn đoán trái tim đã ngừng đập ấy có phải bị rối loạn nhịp tim hay không.
Trước kia, trường đại học của chúng tôi đã từng nghiên cứu bệnh chứng của những người được chẩn đoán là tự sát trong số những người đã được giải phẫu tử thi tại trường. Kết quả cho thấy trong số những thi thể được xác định là tự sát đó, có 17,1% trường hợp (33 trong 193 trường hợp) có tiền sử mắc bệnh tâm thần. Với những trường hợp tự sát mà không phải người mắc bệnh tâm thần, đa số phương pháp tự sát của họ đều khá nhẹ nhàng như treo cổ, trong khi đó, với những người mắc bệnh tâm thần, họ thường chọn những phương pháp cực đoan hơn là dùng thuốc độc (30,3% số người mắc bệnh tâm thần/ 5,6% số người tự sát).
Về uống thuốc độc tự tử, nhiều trường hợp sử dụng các loại thuốc đã được kê tại bệnh viện và họ chọn uống thuốc quá liều để chết. Mặc dù không nắm được tình hình bệnh trạng của những người này, thế nhưng tôi vẫn cho rằng để phòng tránh tình trạng uống thuốc tự tử của những người mắc bệnh tâm thần, trong trường hợp kê đơn cho bệnh nhân sử dụng thuốc trong thời gian dài bất thường, các bác sĩ cần chú ý việc bệnh nhân có bỏ thuốc hay không.
Bản thân những bác sĩ khoa tâm thần có lẽ cũng nên định kỳ liên lạc với các bệnh nhân dù cho bỗng một ngày nào đó họ không còn tới bệnh viện nữa.
Bởi những câu chuyện như bệnh nhân vẫn đến khám ở khoa thần kinh của mình đột nhiên qua đời, thi thể đã được đưa đi giải phẫu mà bác sĩ chịu trách nhiệm còn chưa biết đã trở thành chuyện không còn hiếm gặp nữa.
Khoảng cách giữa bệnh tâm thần và án mạng
Còn một điều khác mà tôi vẫn để ý trong thời gian gần đây chính là mối quan hệ giữa người mắc bệnh tâm thần và các vụ án mạng.
Trong số những ca giải phẫu của chúng tôi, số trường hợp qua đời không phải vì bệnh tật hay tai nạn mà do bị sát hại chiếm khoảng 5% (81 trong tổng số 1.548 trường hợp). Trong số các nạn nhân của những vụ “sát hại” như vậy, cứ 4 người lại có 1 người (chiếm 23,5%) từng mắc các bệnh tâm thần như trầm cảm, chứng tâm thần phân liệt, các bệnh về nhận thức… Thêm vào đó, trong các vụ án mạng có nạn nhân là bệnh nhân tâm thần, hơn 80% thủ phạm (16 trong tổng số 19 trường hợp) lại là người thân của nạn nhân như người trong gia đình.
Từ con số này ta có thể thấy không chỉ bản thân người mắc bệnh tâm thần mà ngay cả môi trường sinh hoạt của gia đình đó cũng rất lạc lõng giữa xã hội này. Và phải chăng nhiều gia đình không chỉ gặp các vấn đề về kinh tế khi chữa trị bệnh cho người thân mà còn ôm nỗi đau đớn mà chẳng dám trao đổi, giao tiếp với những gia đình xung quanh và trong sự cô độc ấy, họ đã gây ra các vụ án mạng như vậy. Ở đây có lẽ cũng có cả vấn đề về cái nhìn phiến diện hay hiểu lầm của xã hội đối với những người mắc bệnh tâm thần và gia đình của họ.
Tháng 7 năm 2016, tại tỉnh Kanagawa đã xảy ra một vụ án thương tâm. Một người đàn ông khoảng 20 tuổi đã cầm dao đột nhập vào “Tsukui Yamayuri Garden”, một cơ sở chăm sóc người khuyết tật về trí tuệ ở thành phố Sagamihara của tỉnh này, khiến 19 người thiệt mạng và 27 người khác bị thương.
Những vụ án mạng khiến nhiều người vô tội bị sát hại như vậy tuyệt đối không được phép xảy ra.
Hung thủ vốn từng là nhân viên của cơ sở này, từng có lịch sử nhập viện bắt buộc do nghi ngờ mắc bệnh tâm thần. Không cần phải có các quá trình chăm sóc sức khỏe bắt buộc sau khi ra viện, anh ta cũng được ra viện với điều kiện là sống chung với bố mẹ. Thế nhưng người đàn ông này khi đó lại sống một mình. Vụ giết người hàng loạt này đã chỉ ra rất nhiều vấn đề xoay quanh việc nhập viện bắt buộc thời bấy giờ.
Y học tâm thần hiện nay đang dần thay đổi từ việc cô lập bệnh nhân tại các khu điều trị riêng biệt sang khuyến khích xã hội tiếp nhận và cùng chung tay chăm sóc họ. Cả xã hội cùng chăm sóc những người gặp các vấn đề về tâm thần tuyệt đối không phải là điều sai lầm. Tôi cũng cho rằng phải chăng phần đông những người đang chiến đấu với bệnh tật của bản thân và gia đình họ không đáng bị phân biệt hay chịu đựng những cái nhìn phiến diện chỉ bởi những vụ giết người do những người cực đoan sống một mình gây ra.
7,246 từ






