Điểm dối lừa
Điểm dối lừa - Chương 091 - 092 - 093
Chương 91
Michael Tolland nhắm mắt lại, để tiếng nổ đều đều của
động cơ máy bay dội vào màng nhĩ. Ông quyết định không nghĩ thêm bất kỳ điều gì
nữa cho đến khi họ về đến Washington. Theo Corky, các chrondrule không thôi đã
đủ để kết luận; tảng đá trên phiến băng Milne có thể là tảng thiên thạch thực
sự. Rachel muốn có một kết luận chính xác trước khi máy bay tiếp đất, nhưng nỗ
lực của trí não đã dẫn họ vào con đường cụt liên quan đến các chrondrule. Dù dữ
liệu của nó rất đáng ngờ, tảng đá trông rất thật.
Có thể nó là thiên thạch thật.
Rachel đã bị những biến cố trên biển làm cho mệt mỏi.
Thế nhưng sự dẻo dai của cô đã khiến Tollan phải kinh ngạc, lúc này cô đang
chăm chú nhìn mẫu đá trên tay, muốn chứng minh một cách rõ ràng, dứt khoát về
xuất xứ của nó, và muốn tìm ra đích xác kẻ đã ra lệnh tấn công bọn họ.
Trong suốt hành trình, cô thường ngồi ngay cạnh ông.
Dù ở trong những tình huống không hề dễ dàng, ông vẫn thích những giây phút
được chuyện trò với cô. Rachel đã vào nhà vệ sinh được mấy phút, và Tollanđ
ngạc nhiên thấy mình đang thấy thiếu vắng cô ông thầm hỏi mình đã bao lâu rồi
chưa biết mong nhớ phụ nữ kể từ sau khi Celia mất đi.
- Thưa ông Tolland.
Tolland ngước nhìn lên…
Người phi công từ khoang lái đang thò đầu vào trong
cabin.
- Nãy ông có dặn là khi nào máy bay vào đến vùng phủ
sóng điện thoại thì báo ông biết. Bây giờ thì ông có thể gọi điện thoại được
rồi đấy.
- Cảm ơn anh. - Tolland bước ra lối đi.
Trong buồng lái, Tolland bấm máy gọi cho thuỷ thủ đoàn
của mình. Ông muốn báo cho họ biết mấy ngày nữa ông mới về đến nơi. Dĩ nhiên
ông không có ý định nói cho họ nghe những sự kiện đang diễn ra.
Chuông điện thoại đố nhiều hồi, và ông ngạc nhiên thấy
hệ thống trả lời tự động SHINCOM 2100 trả lời máy. Câu trả lời được ghi sẵn
không nghiêm túc và mô phạm như thường lệ, mà là giọng nói vui vẻ rủa một thành
viên trong thuỷ thủ đoàn, một chàng trai suốt ngày pha trò hài hước.
- Xin chào, đây là con tàu Goya. - Anh ta tuyên bố. -
Rất tiếc là hiện giờ không còn ai trên tàu nữa, tất cả chúng tôi đã bị những
con chấy rất lớn bắt cóc! Nói thật là chúng tôi vừa lên bờ để ăn mừng chiến
công của Mike. Chúa ơi, chúng tôi thấy tự hào biết bao! Xin quý vị hãy để lại
tên và số điện thoại. Ngày mai, khi đã bình tĩnh lại, chúng tôi sẽ gọi cho quý
vị. Chào nhé! Chúng ta đi nào!
Tolland phá lên cười, ngay lập tức ông thấy nhớ đội
thuỷ thủ của mình. Dĩ nhiên là họ đã xem truyền hình buổi họp báo. Ông hài lòng
thấy họ đã lên bờ, ông bị Tổng thống túm đi quá đột ngột, và ngồi không trên
biển thì đến phát điên mất. Dù đoạn băng nói rằng tất cả đã lên bờ, ông đoán
rằng chắc chắn họ phải để lại một người trông tàu, đặc biệt là ở vùng hải lưu
mạnh như vùng biển họ đang bỏ neo.
Tolland bấm số máy liên lạc nội bộ. Có một tiếng bíp.
Lại một đoạn băng thu sẵn. Vẫn là giọng nói vui nhộn của anh chàng ban nãy.
- Chào Mike, chương trình truyền hình thật tuyệt! Lúc
anh nghe thông điệp này thì có lẽ chúng tôi đang tham dự bữa tiệc rất hoành
tráng tại Nhà Trắng và đang tự hỏi không biết anh đang ở chỗ nào. Xin lỗi vì
tất cả chúng tôi đã rời tàu, nhưng đêm nay mà không uống rượu mừng thì làm sao
mà chịu nổi! Anh đừng lo, chúng tôi đã thả neo rất chắc và bật tất cả các bóng
điện ngoài lan can tàu. Chúng tôi đều thầm mong cướp biển sẽ đến tấn công để
cho đài NBC phải sắm cho anh một con tàu mới! Đùa đấy Mike ạ. Anh đừng lo.
Xavia đã đồng ý ở lại trực trên chiến hào! Cô ấy nói là thà ở một mình còn hơn
dự tiệc cùng với một lũ ngư phủ say mèm. Anh có tin nổi không?
Tolland lại phá lên cười lần nữa, lòng nhẹ nhõm khi
biết tàu có người trông. Xavia là người rất có trách nhiệm, và không bao giờ
thích tiệc tùng đàn đúm. Cô là nhà hải dương học có tiếng là thẳng thắn đến mức
cay độc.
Đoạn băng thu sẵn lại tiếp tục:
- Mike này, dù sao thì đêm nay cũng vô cùng đặc biệt.
Nó sẽ khiến anh trở thành nhà khoa học đầy kiêu hãnh, đúng thế không nào? Ai
cũng bàn tán rằng sự kiện này quá có lợi cho NASA. Họ đúng là chết đuối với
được cọc, thật đấy! Và chúng ta cũng được lợi nhiều, còn hơn cả NASA ấy chứ!
Đại dương kỳ thú sẽ có thêm hàng triệu khán giả sau đêm hôm nay. Anh trở thành
người của công chúng thật rồi đấy. Xin chúc mừng! Anh tuyệt lắm!
Có người xì xào nói chuyện, rồi đoạn băng lại tiếp
tục:
- À, suýt quên mất Xavia. Để anh khỏi quá huyênh
hoang, cô ấy muốn cạo gáy anh đây này. Anh nghe nhé!
Giọng nói chát chúa của Xavia vang lên trong máy:
- Mike này, Xavia đây, anh chúa thật! Yada yada! Vì
rất yêu quý anh nên tôi mới bằng lòng ở lại trực trên con tàu cổ lỗ sĩ sắp hỏng
này đấy! Thật thà mà nói thì tôi chỉ mong được thoát khỏi mấy tay du đãng tự
nhận là nhà khoa học này lấy một lúc. Ngoài việc bắt tôi đóng vai chó giữ nhà,
thuỷ thủ đoàn còn giao cho tôi nhiệm vụ làm cho anh bớt tự cao tự đại đi một
chút đấy. Sau một đêm như thế này thì việc đó quả là khó như đi lên trời, nhưng
có điều này tôi vẫn phải nói thật - anh đã mắc một số sai lầm trong đoạn phim
tài liệu vừa rồi. Thật đấy, anh còn nghe máy không đấy? Một sai sót hiếm hoi
của Michael Tolland. Anh đừng lo, trên khắp hành tinh này chỉ có vài ba nhà
thạch học thật sự có khả năng nhận ra điều đó thôi, và họ đều là những người
khô khan kiệm lời cả. Giống tôi ấy mà! Anh vẫn nói về bọn tôi thế mà - lúc nào
chẳng bới lông tìm vết! - Cô ta phá lên cười. - Không có gì trầm trọng cả, chỉ
là sai sót rất nhỏ về thạch học thôi. Tôi phải nói ra để cho anh đỡ vui quá mà
sinh bệnh ra. Thế nào cũng có vài người gọi điện cho anh về chi tiết đó, nên
tôi phải báo cho anh biết trước để lúc đó đừng để lộ ra sự ngây ngô của anh,
tuy chúng tôi đều biết anh vốn là kẻ ngẫn ngờ từ trước. - Cô ta lại cười lớn. -
Tôi không phải là kiểu người ưa tiệc tùng nên đã đồng ý ở lại trực trên tàu.
Anh cứ gọi tôi nhé. Tôi phải để máy trả lời tự động vì nhiều nhà báo gọi điện
đến đây quá trời! Bất chấp sai sót đó, anh vẫn là vì tinh tú của đêm nay đấy.
Dù sao thì tôi cũng sẽ giải thích tất cả khi nào anh về đến đây. Chào nhé.
Đầu máy bên kia im bặt.
Michael Tolland nhíu mày. Sai sót trong đoạn phim tài
liệu ư?
Trong buồng vệ sinh trên chiếc phi cơ G4, Rachel
Sexton đang ngắm mình trong gương. Cô nhận thấy vẻ mặt mình xanh xao, yếu ớt
hơn hẳn mọi khi. Những sự kiện khủng khiếp đêm nay đã lấy đi của cô biết bao
sinh lực. Rachel thầm hỏi không biết đến bao giờ cô mới hết được cảm giác hãi
hùng mỗi khi đến gần đại dương. Cởi mũ trùm đầu của thuỷ thủ đoàn tàu Charlotte
ra, cô để mái tóc vàng xoà xuống hai vai. Trong khá hơn, cô tự nhủ, cảm thấy tự
tin hơn đôi chút.
Tự nhìn sâu vào mắt mình, Rachel nhận thấy ánh âu lo
trong đó. Và đằng sau sự âu lo là quyết tâm sắt đá. Cô biết đó chính là món quà
mẹ để lại cho mình. Không một ai có thể chỉ đạo con cái gì được làm và cài gì
không được làm. Rachel cảm tưởng như mẹ cô đã biết trước sẽ có một đêm như thế
này trong đời cô con gái cưng của bà. Có kẻ muốn giết con, mẹ ạ. Có kẻ muốn
giết tất cả bọn con…
Trí não Rachel, hệt như suốt những giờ khắc vừa quat
lại điểm lại những cái tên. Lawrence Ekstrom… Marjorie Tench… Tổng thống Zach
Herney. Tất cả đều có động cơ. Và, đáng sợ hơn, tất cả đều có phương tiện. Tổng
thống không dính líu vào việc này. Rachel tự nhủ. Cô vẫn bám lấy tia hi vọng
rằng ngài Tổng thống, người cô kính trọng hơn chính cha đẻ của mình, chỉ là
người ngoài cuộc vô tội trong vụ án tảng thiên thạch này.
Chúng con vẫn chưa biết được gì hơn mẹ ạ.
Chưa biết đó là kẻ nào… và vì sao.
Rachel muốn có những câu trả lời dứt khoát để báo cáo
với William Pickering, nhưng tất cả những gì cô làm được cho đến giờ phút này
chỉ là việc nêu ra các câu hỏi.
Ra khỏi phòng vệ sinh, Rachel ngạc nhiên không trông
thấy Michael Tolland đâu. Corky đang gà gật ngủ gần đó. Cô đang nhìn quanh thì
thấy Mike từ buồng lái bước ra, tay vừa gác ống nghe điện thoại lên giá. Mắt
ông mở lớn, vẻ rất băn khoăn.
- Có chuyện gì vậy?
Tolland kể cho cô nghe những gì ông nghe được trên
điện thoại giọng nặng nề.
Sai sót trong đoạn phim tài liệu sao? Rachel nghĩ có
lẽ Tolland chỉ phản ứng thái quá mà thôi.
- Chắc không có gì trầm trọng đâu, cô ấy không nói rõ
luôn sai sót đó là gì à?
- Là chi tiết nào đó liên quan đến thạch học.
- Thành phần cấu tạo của tảng đá à?
- Ừ, cô ấy nói những nhà thạch học có khả năng nhận ra
sai sót đó chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Có vẻ như sai sót của tôi có
liên quan đến hàm lượng thành phần hoá chất của tảng đá.
Rachel hít thật sâu, lúc này thì cô đã hiểu.
- Các chrondrule sao?
Tôi không biết nữa, nhưng chắc có sự trùng lặp nào đó
rồi.
Rachel gật đầu. Các chrondrule là chứng cớ duy nhất
còn đứng vững để khẳng định rằng tảng thiên thạch do NASA tìm được là thật.
Corky đến bên họ, tay dụi mắt.
- Có chuyện gì thế? Tolland thông báo lại tình hình cho ông ta.
Corky quắc mắt, lắc đầu:
- Không liên quan đến các chrondrule đâu. Mike ạ.
Không thể nào. Tất cả các dữ liệu của anh là do NASA cung cẩp. Và do chính tôi
chuyển cho anh. Không thể có sai sót được.
- Thế thì tôi có thể phạm phải sai lầm gì khác về
thạch học nào?
- Ai mà biết được cơ chứ! Mà các nhà hải dương học thì
biết gì về thạch học mà bàn!
- Tôi không biết, nhưng giọng cô ấy có vẻ chắc chắn
lắm.
- Trong tình huống này. - Rachel nói - có lẽ chúng ta
nên nói chuyện với cô ấy trước khi báo cáo với Pickering.
Tolland nhún vai.
- Tôi đã gọi cho cô ấy bốn lần cả thảy, nhưng toàn
nghe máy trả lời tự động. Rất có thể cô ấy đang ở trong phòng thí nghiệm, và sẽ
chẳng nghe thấy gì hết. Sớm nhất là sáng mai thì cô ấy mới trả lời. - Tolland
ngừng lại, giơ tay lên xem đồng hồ. – Mặc dù…
- Mặc dù sao?
Tolland chăm chú nhìn Rachel:
- Có thực sự cần thiết phải nói chuyện với cô ấy trước
khi báo cáo với Giám đốc của cô không?
- Nếu cô ấy định nói gì liên quan đến các chrondrule
thì thực sự quan trọng đấy, Mike ạ. - Rachel nói. - Lúc này chúng ta có rất
nhiều giả thuyết trái ngược nhau. Và William Fickering thì chỉ quen nghe những
câu trả lời dứt khoát. Khi gặp mặt ông ấy, tôi muốn có những để đạt cụ thể và
chi tiết để ông ấy quyết định hành động.
- Thế thì chúng ta hãy dừng lại một chút.
Rachel hỏi lại:
- Trên tàu của anh à?
- Tàu hiện ở ngoài khơi New Jersey, ngay trên đường về
Washington. Chúng ta có thể nói chuyện với Xavia để xem cô ấy đã phát hiện ra
điều gì. Corky vẫn còn cầm mẫu đá, và nếu Xavi muốn tiến hành kiểm tra địa chất
học thì phòng thí nghiệm trên tàu cũng khá đủ dụng cụ. Chắc chắn chỉ chưa đầy
một giờ đồng hồ sau là chúng ta có kết quả.
Rachel thấy mạch đập dồn, lo ngại. Ý nghĩ lại phải ở
trên mặt biển một lần nữa khiển cô e ngại… Kết luận chính xác, cô tự nhủ, đầy
hi vọng. Pickering chắc chắn đang mong được nghe điều đó.
Chương 92
Delta-Một thấy mừng vì lại được đặt chân lên mặt đất.
Dù mới bay với nửa tốc lực, chiếc phi cơ Aurora đã đưa
họ đi một vòng quanh đại dương, về đến tận đây, trong vòng vỏn vẹn có hai giờ
đồng hồ. Delta-Một và đồng đội của anh có thời gian bình tĩnh chuẩn bị cho điệp
vụ tiếp theo.
Giờ đây, trên đường băng quân sự kín đáo ở ngoại vi
Washington, đội Delta đang đổi từ máy bay Aurora sang phương tiện khác - máy
bay trực thăng OH-58D Kiowa Wamor.
Lại một lần nữa, chỉ huy đã chuẩn bị sẵn những phương
tiện tốt nhất, Delta-Một thầm nghĩ.
Máy bay trực thăng Kiowa Wamor, lúc đầu được thiết kế
làm máy bay trinh sát hạng nhẹ, đã được gia cố và cải tiến để trở thành dòng
máy bay quân sự chuyên dụng mới nhất. Với khả năng cảm ứng hết sức nhạy bén với
tia hồng ngoại, thiết bị định vị bằng laze của nó cho phép người sử dụng điều
khiển những vũ khí tối tân siêu chính xác như tên lửa Stinger "không - đối
– không" và hệ thống tên lửa AGM 1148 Hellfire. Thiết bị định vị số hoá
tốc độ cao lắp trên máy bay cho phép ngắm bắn sáu mục tiêu cùng một lúc. Hầu
như không địch thủ nào từng nhìn thấy Kiowa còn được sống sót để mà kể lại về
nó cho người khác.
Trèo lên thang máy bay và ngồi vào khoang lái,
Delta-Một thấy trong tim dâng trào cảm giác lâng lâng của kẻ mạnh trong cuộc
chiến. Anh đã ba lần tham gia tập trận trên loại phi cơ này.
Dĩ nhiên, chưa bao giờ anh nhận lệnh tiêu diệt một
nhân vật nào quan trọng như lần này. Phải thừa nhận rằng Kiowa đúng là thứ
phương tiện vô cùng lợi hại đối với những nhiệm vụ như thế này.
Động cơ Royce Allision của nó luôn hoạt động cùng lúc
với hai bộ phận giảm thanh chứa chất lỏng dạng sệt, điều đó đồng nghĩa với việc
đối phương sẽ không hề nghe thấy bất cứ tiếng động nào cho đến khi chiếc phi cơ
đã ở ngay trên đầu. Và vì chiếc máy bay này có khả năng bay trong đêm tối mà
không cần sử dụng bất cứ ngọn đèn nào, thân máy bay được sơn đen, số hiệu ở
đuôi máy bay được sơn bằng loại sơn không phản quang, cho nên nó có đặc điểm
của máy bay tàng hình, trừ phi đối phương có radar.
Chiếc phi cơ màu đen lặng lẽ.
Đã có rất nhiều tin đồn cũng như những bình luận về
loại máy bay này. Một số người cho rằng nó là hiện thân của "thế hệ vũ khí
tấn công vũ bão đại diện cho trật tự thế giới mới". Một số khác lại tin
rằng đây là những tàu thăm dò vũ trụ của người ngoài hành tinh. Lại có những
người tận mắt chứng kiến Kiowa bay trong trời đêm còn tin rằng họ vừa nhìn thấy
đèn của những thiết bị bay vô cùng tối tân - một chiếc đĩa bay có thể bay theo
phương thẳng đứng.
Toàn những tin thất thiệt. Nhưng quân đội thích những
lời đồn kiểu đó.
Trong lần tập trận gần đây. Delta-Một đã bay trên
chiếc Kiowa có trang bị loại vũ khí bí mật nhất của quân đội Mỹ - một thiết bị
tạo ảnh giao thoa bằng laze cực kỳ hiện đại có tên S&M. Dù thoạt đầu gợi
nhớ đến từ "ác dâm"1,
hai chữ cái này lại có nghĩa là "khói và gương"2 -
những ảnh giao thoa laze được "phóng lên" trên vùng trời của đối
phương. Chiếc phi cơ Kiowa của anh đã "phóng" những ảnh giao thoa
laze các phi cơ của Mỹ trên vùng trời có thiết bị phát hiện máy bay của đối
phương. Thế là các tay súng phòng không của đối phương hoảng hốt bắn như vãi
đạn vào con ma đang lượn lờ trên đầu họ. Đến khi đối phương đã hết đạn thì các
phi cơ thật của Không lực Hoa Kỳ mới bắt đầu ra tay.
Cùng hai đồng đội của anh cất cánh, Delta-Một vẫn thấy
vang lên trong tâm trí mệnh lệnh của chỉ huy: "Các anh có một đối tượng
nữa". Xét đến địa vị và quyền lực của người này, từ đối tượng quả là một
cách nói tránh xuất sắc. Anh tự nhắc nhở mình rằng chất vấn không phải là nhiệm
vụ của anh. Đội của anh đã nhận được lệnh, và họ sẽ thực thi mệnh lệnh đó theo
đúng những "phương pháp đã được huấn luyện"- phải hết sức bất ngờ.
Mình thật sự hy vọng chỉ huy đã đưa ra quyết định đúng
đắn trong tình huống này.
Sau khi chiếc trực thăng Kiowa rời khỏi đường băng,
Delta-Một nhằm thẳng hướng nam. Anh đã vài lần nhìn thấy tượng đài FDR, nhưng
đêm nay là lần đầu tiên anh sẽ nhìn thấy nó từ trên cao.
Chương 93
- Người đầu tiên phát hiện ra tảng thiên thạch đó là
nhà địa chất học người Canada sao? - Gabrielle Ashe chăm chú nhìn chuyên gia
lập trình trẻ tuổi Chris Harper. - Và người Canada đó giờ chết rồi sao?
Harper gật đầu xác nhận.
- Ông đã biết điều này được bao lâu rồi? - Cô chất
vấn.
- Cách đây khoảng một hoặc hai tuần. Sau khi tôi đã
nói dối trong cuộc họp báo đó, ông Giám đốc và bà Marjorie Tench cho rằng tôi
sẽ không bao giờ quật lại chính mình, nên đã cho tôi biết tất cả.
PODS không hề dính dáng gì đến quá trình phát hiện ra
tảng thiên thạch! Gabrielle chưa biết thông tin này sẽ dẫn tiếp đến đâu, nhưng
rõ ràng là sẽ rất tai tiếng. Tin xấu đối với Tench. Tin tốt lành đối với Thượng
nghị sĩ.
- Như tôi đã kể với cô, - tiến sĩ Harper nói tiếp, -
tảng thiên thạch được phát hiện là do NASA đã thu được một làn sóng radio. Cô
đã bao giờ nghe nói đến chương trình có tên là INSPIRE chưa? Thí nghiệm tương
tác vật lý và sóng điện từ giữa tầng điện ly và vũ trụ của NASA.
Gabrielle đã từng nghe nói đến chương trình đó, nhưng không
hiểu lắm.
- Về bản chất, - Harper nói tiếp - đó là một loại máy
thu tín hiệu radio ở Cực Bắc dùng để nghe các âm thanh do trái đất phát ra -
những đợt phun sóng plasma từ Cực Bắc, những đợt xung lớn từ sấm chớp trong các
cơn bão đêm, những thứ đại loại như vậy.
- Tôi hiểu rồi.
Cách đây vài tuần, một máy thu INSPIRE đã nhận được
một chuỗi tín hiệu phát đi từ đảo Ellesmere. Một nhà địa chất học đang phát đi
tín hiệu cấp cứu ở tần số rất thấp. - Ông ta ngừng một lát. - Chuỗi tín hiệu đó
có tần số thấp đến nỗi chỉ các thiết bị INSPIRE của NASA mới có thể nghe được
mà thôi. Và mọi người đoán rằng ông ta phát đi tín hiệu từ rất xa.
- Cái gì cơ?
- Phát tín hiệu ở tần số thấp nhất để sóng đi được xa
nhất có thể.
- Hãy nhớ rằng ông ta ở giữa nơi hoang vắng, và sóng
radio với tần số thông thường chắc chắn sẽ không thể đi được đủ xa để có người
nghe thấy.
- Thông điệp của ông ta là gì vậy?
- Thông điệp rất ngắn gọn. Nhà khoa học đó nói rằng
ông ta đang thăm dò địa chất trên phiến băng Milne; ông ta đã phát hiện được
một vật thể có độ đậm đặc bất thường nằm sâu trong băng hà, và đoán rằng đó có
thể là một tảng thiên thạch. Ông ta đang đo đạc tảng thiên thạch này thì gặp
bão. Ông ta thông báo toạ độ, yêu cầu trợ giúp để thoát ra khỏi cơn bão, rồi
tắt máy. NASA đã lệnh cho một máy bay cất cánh từ sân bay quân sự Thule đến
cứu. Họ tìm kiếm suốt mấy giờ đồng hồ, rồi cuối cùng cũng phát hiện ra ông ấy
đã bị chết trong một khe nứt cùng với xe trượt và con chó, cách toạ độ thông
báo đến mấy dặm. Chắc là ông ấy đã tìm cách thoát khỏi cơn bão, nhưng không
nhìn thấy đường, và đã lao xuống khe nứt.
Gabrielle tư lự về những thông tin cô vừa được nghe,
rồi cảm thấy ngạc nhiên.
- Thế là đột nhiên NASA biết về một tảng thiên thạch,
và không ai khác biết chuyện này?
Chính xác. Mỉa mai thay, nếu phần mềm của PODS không
bị trục trặc thì chúng tôi đã phát hiện được tảng thiên thạch đó trước ông ta
một tuần.
Sự trùng lặp ngẫu nhiên này khiến Gabrielle thắc mắc:
- Một tảng thiên thạch bị chôn vùi suốt ba trăm năm,
và rồi đột nhiên được phát hiện hai lần liền trong vòng một tuần?
- Tôi biết: Thoạt nghe có vẻ khá kỳ quặc. Nhưng trong
khoa học chuyện đó khá phổ biến. Lúc thì no dồn, lúc thì đói góp. Vấn đề là
Giám đốc tin rằng không cách này thì cách khác, tảng thiên thạch đó sẽ được
phát hiện - nếu tôi không mắc phải sai lầm đó. Ông ấy bảo tôi rằng, vì người
Canada kia đã chết rồi, sẽ chẳng ai nghi ngờ gì nếu tôi lặng lẽ điều khiển cho
PODS cố định ở toạ độ mà anh ta đã thông báo qua sóng radio. Sau đó, tôi
chỉ việc giả vờ là đã phát hiện ra tảng thiên thạch, và cứu vãn thất bại đầy
tai tiếng của mình.
- Và ông đã làm đúng như thế?
- Như tôi đã nói, không còn cách nào khác. Chính tôi
đã phá hoại dự án mình phụ trách. - Ông ta ngừng một lát. - Nhưng hồi tối, lúc
xem truyền hình buổi họp báo của Tổng thống tôi mới biết rằng bên trong tảng đá
đó có hoá thạch…
- Ông ngạc nhiên?
- Tôi đã thật sự bối rối!
- Theo ông thì Giám đốc có biết trước rằng trong tảng
thiên thạch ấy có hoá thạch không?
- Cái đó thì tôi chịu. Tảng đá ấy đã bị vùi lấp trong
băng hà, nguyên vẹn, cho đến khi đội nhân viên của NASA đặt chân tới. Tôi đoán
rằng NASA cũng chẳng biết gì đến tận lúc họ khoan thăm dò và lấy lên vài mẫu
đá. Họ yêu cầu tôi nói dối về PODS, chắc tưởng rằng kích cỡ to lớn của tảng
thiên thạch đó sẽ được coi là một thành công đáng kể. Rồi khi đến tận nơi, họ
mới nhận ra phát kiến đó vĩ đại biết chừng nào.
Gabrielle gần như ngạt thở vì phấn khích:
- Thưa tiến sĩ Harper, ông có sẵn lòng đứng ra làm
chứng rằng chính NASA và Nhà Trắng đã ép ông phải nói dối về phần mềm của PODS
hay không?
- Tôi cũng chưa biết. - Ông ta có vẻ lo sợ. - Tôi chưa
thể thấy hết được những tác hại của hành động đó đối với NASA… và đối với phát
kiến này.
- Thưa tiến sĩ, cả hai chúng ta đều biết rằng tảng thiên
thạch đó vẫn sẽ là một phát kiến tuyệt vời, bất kể nó được tìm ra bằng cách
nào. Vấn đề ở đây là ông đã nói dối trước dân Mỹ. Họ có quyền được biết rằng
không phải mọi chi tiết NASA Công bố về PODS đều là sự thật.
- Tôi cũng chưa biết nữa. Tôi khinh bỉ ông Giám đốc,
nhưng còn các đồng nghiệp của tôi…, họ đều là người tốt.
- Chính vì thế họ có quyền được biết mình đang bị lừa
dối.
- Và đây sẽ là bằng chứng cho thấy tôi không biển thủ
công quỹ chứ?
- Ông có thể quên hẳn chuyện ấy đi. - Gabrielle nói,
suýt nữa quên hẳn chi tiết ấy. - Tôi sẽ nói với Thượng nghị sĩ rằng ông không
biết gì về vụ đó. Đó chỉ là những chứng cứ giả mạo do ông Giám đốc dựng lên để
ép ông phải im lặng về PODS.
- Thượng nghị sĩ có thể bảo vệ được tôi không?
- Chắc chắn là được. Ông đâu có làm gì sai trái. Ông
chỉ đơn thuần làm theo lệnh cấp trên. Bên cạnh đó, vì đã có thông tin về nhà
địa lý người Canada, tôi tin rằng Thượng nghị sĩ sẽ chẳng cần đến những chứng
cứ về biển thủ công quỹ. Chúng ta sẽ chỉ tập chung vào việc NASA đưa tin sai
lệnh về PODS và tảng thiên thạch. Một khi Thượng nghị sĩ đã lên tiếng về nhà
khoa học Canada kia, ông Giám đốc sẽ không dám mạo hiểm dùng biện pháp dối trá
để huỷ hoại thanh danh của ông nữa đâu.
Harper có vẻ vẫn lo ngại. Phân vân, ông ta ngồi lặng
lẽ, vẻ mặt rầu rĩ. Gabrielle để mặc ông ta suy nghĩ. Từ nãy cô đã nhận ra sự
trùng lặp tình cờ rất khó hiểu trong câu chuyện này. Cô không định nhắc đến
điều đó, nhưng rõ ràng tiến sỹ Harper cần thêm một cú hích nữa.
- Ông có chó không, thưa tiến sỹ?
Ông ta ngước mắt lên:
- Cô nói gì cơ?
- Tôi thấy thật kỳ lạ. Ban nãy ông kể rằnơ sau khi nhà
địa lý học người Canada kia phát tín hiệu thông báo toạ độ của tảng thiên thạch
thì lũ chó kéo xe của ông ấy lao xuống khe nứt phải không?
- Có bão. Cả người và chó bị lạc đường.
Gabrielle nhún vai, tỏ ra hoài nghi. - Cũng có thể
thế.
Harper nhận thấy sự băn khoăn của cô, lý cô là sao?
Tôi cũng không biết nữa, có quá nhiều sự trùng lặp
ngẫu nhiên trong phát kiến này. Một nhà địa lý học người Canada thông báo toạ
độ của tảng thiên thạch trên một tần sồ radio mà chỉ mỗi NASA nghe được. Và rồi
lũ chó kéo xe của ông ấy lao xuống khe nứt. - Rachel ngừng một lát. – Hiển
nhiên là cái chết của ông ấy đã dọn đường cho NASA giành được thành công rực
rỡ.
Mặt Harper biến sắc.
- Cô cho rằng Giám đốc dám giết người vì tảng thiên
thạch này ư?
Trò chơi chính trị vĩ mô. Mẻ lướí kinh tế vĩ mô,
Gabrielle thầm nghĩ,
- Để tôi về báo cáo lại với Tổng thống, sau đó chúng
ta sẽ liên lạc. Toà nhà này có cổng sau không nhỉ?
Gabrielle Ashe chia tay tiến sỹ Chris Harper mặt xám
ngoét, rồi xuống dọc cầu thang thoát hiểm để ra khỏi trụ sở NASA.
Cô lên ngay chiếc taxi vừa đưa thêm mấy nhân vật nữa
tới chúc mừng NASA.
- Khu căn hộ cao cấp Westbrooke. - Cô nói với người
tài xế.
Thượng nghị sĩ Sexton chẳng bao lâu nữa sẽ thấy vô
cùng vui sướng.
4,986 từ






