TruyenVip

Điểm dối lừa

Điểm dối lừa - Chương 088 - 089 - 090

Mục lục

Chương 88

Dù động cơ đẩy chạy bằng nhiên liệu metan của nó mới
hoạt động hết nửa công suất cho phép mà chiếc phi cơ Aurora đã bay nhanh gấp ba
lần tốc độ âm thanh - trên hai ngàn dặm một giờ. Tiếng nổ đều đều của những
động cơ đẩy bằng sóng dao động khiến mọi người đều cảm thấy buồn ngủ. Bên dưới,
cách họ khoảng 30 mét, bị tác động của luồng gió phản lực kéo dài như một cái
đuôi công phía sau máy bay, mặt biển đang nổi sóng dữ dội.

Đây chính là lý do tại sao loại máy bay SR-71 bị thay
thế, Delta-Một thầm nghĩ.

Aurora là loại máy bay bí mật mà trên nguyên tắc không
ai được biết, nhưng trên thực tế thì mọi người đều đã biết cả. Kênh truyền hình
Discovery thậm chí còn phát cả một chương trình về quá trình bay thử loại máy
bay này ở Groom Lake, Nevada. Thông tin mật về loại máy bay này bị rò rỉ có thể
đã bắt nguồn từ tiếng động cơ nổ vang trời của nó mà tận Los Angeles cũng nghe
thấy, cũng có thể là do mấy anh chàng công nhân trên dàn khoan Northsea vô tình
nhìn thấy nó, mà cũng có thể tại nhân viên của Tổng thống đã hớ hênh để tên nó
trong bản quyết toán ngân sách của Lầu Năm Góc để công khai cho công chúng.
Không ai biết được chính xác, nhưng chẳng hề gì. Công chúng đã biết: Quân đội
Mỹ đã sở hữu một loại máy bay mới có tốc độ gấp sáu lần bình thường, đã chế tạo
thành công chứ không còn trong giai đoạn thiết kế nữa. Và nó đã sẵn sàng tung
cánh giữa trời xanh.

Loại máy bay thân dẹt giống quả bóng chày này do hãng
Lockheed chế tạo. Những vằn sọc sáng bóng như pha lê chạy bao quanh thân máy đồ
sộ với bề dài gần 40 mét và bề ngang 20 mét.

Tốc độ bay của nó được quy định bởi loại động cơ đẩy
kiểu mới gọi là động cơ đẩy dạng sóng. Đốt khí hydro dạng lỏng đục, để lại một
vệt khói dài rất dễ nhận thấy trên bầu trời, nên loại máy bay này thường chỉ
được sử dụng vào ban đêm.

Đêm nay, với lợi thế về tốc độ, đội Delta đang thực
hiện một hành trình dài xuyên đại dương để về nhà. Họ cũng đang kết hợp bám
đuổi mục tiêu. Mọi người đã bàn đến chuyện rượt đuổi để bắn hạ chiếc
máy bay mà họ đã xác định được, nhưng chỉ huy lại sợ rằng các máy quét radar có
thể phát hiện ra, và xác chiếc máy bay rơi sẽ dẫn đến cuộc điều tra quy mô. Tốt
nhất là cứ để cho nó hạ cánh đã, chỉ huy đã quyết định như vậy. Một khi xác
định được địa điểm hạ cánh của chiếc phi cơ đó, đội Delta sẽ ra tay.

Lúc này, khi cả nhóm đang bay qua vùng biển Labrado
buồn tẻ thiết bị Cryptalk trên tay Delta-Một nháy sáng báo hiệu có cuộc gọi
đến. Anh trả lời máy.

- Tình hình đã thay đổi. - Giọng nói đã qua thiết bị
xử lý điện tử trong máy vang lên. - Các anh có thêm một mục tiêu nữa trên đất
liền trước khi Rachel và hai nhà khoa học kia hạ cánh.

Thêm một mục tiêu nữa. Delta-Một đã biết trước điều
này. Kế hoạch đang bị bại lộ. Chỉ huy vừa phát hiện thêm một vết rò rỉ nữa trên
thân tàu, và họ sẽ phải hàn kín vết rò càng nhanh càng tốt.

Đáng ra con tàu không bị vết rò rỉ nào, Delta-Một tự
nhắc mình, nếu cả đội đã diệt gọn mục tiêu trên phiến băng Milne. Anh biết quá
rõ chính mình là người gây ra những rắc rối mới này.

- Thêm một đối tượng thứ tư nữa vừa nhúng tay vào. -
Chỉ huy thông báo.

- Đó là ai?

Chỉ huy chần chừ một lúc, rồi cũng nói ra tên người
đó.

Ba người lính sững sờ nhìn nhau. Họ biết rất rõ cái
tên này.

Thảo nào chỉ huy chần chừ không dám nói ngay!
Delta-Một thầm nghĩ. Kế hoạch ban đầu cho điệp vụ này là "không sát
thương", thế mà lúc này số lượng xác chết đang tăng lên nhanh chóng. Các
bắp thịt trên người anh như co cứng lại khi nghe chỉ huy thông báo thời gian và
địa điểm tiêu diệt mục tiêu.

- Mức độ mạo hiểm đang tăng lên nhanh chóng. - Chỉ huy
nói tiếp - Nghe cho kỹ. Tôi chỉ nói một lần thôi đấy.

Chương 89

Trên bầu trời xứ Main, chiếc máy bay G4 vẫn đang tăng
tốc tiến về Washington. Trên máy bay, Michael Tolland và Corky Marlinson chăm
chú lắng nghe Rachel Sexton thuyết minh cho giả thuyết của cô về lý do khiến
cho hàm lượng hydro trong lớp vỏ nóng chảy của tảng thiên thạch.

- NASA có một cơ sở kiểm tra của riêng họ, mang tên
trạm Plum Brook. - Rachel nói, chính cô cũng không dám tin là bản thân mình
đang tiết lộ bí mật quốc gia. Cô chưa bao giờ tiết lộ bí mật cho những ai không
có quyền tiếp cận thông tin. Nhưng trong tình huống này, Tolland và Corky có
quyền được biết. - Plum Brook là nơi NASA tiến hành chạy thử tất cả các loại
động cơ mà họ mới chế tạo được. Cách đây hai năm, chính tay tôi đã viết một tóm
tắt tin nói về loại động cơ mà NASA đang cho chạy thử ở đó - hình như là một
loại động cơ chu kỳ rộng thì phải.

Corky nhìn cô nghi hoặc:

- Động cơ chu kỳ rộng vẫn còn trong giai đoạn lý
thuyết. Mới có trên giấy thôi. Chưa có ai chạy thử được thứ đó. Phải vài thập
niên nữa.

Rachel lắc đầu:

- Xin lỗi anh, Corky, NASA quả thực đã có mô hình đó
trong tay rồi. Họ đang trong giai đoạn thử nghiệm mà.

- Cái gì? - Corky vẫn hoài nghi. - Loại động cơ đó
chạy bằng khí oxy hydro hoá lỏng, mà khí đó lên đến vũ trụ thì đông đặc lại
ngay, cho nên NASA có dùng được đâu! Họ đã thông báo là sẽ không chế tạo động
cơ đó cho đến khi khắc phục được vấn đề nhiên liệu đông cứng cơ mà?

- Họ đã khắc phục được rồi. Họ bỏ thành phần oxy đi,
rồi đưa khí hydro vào một dạng hỗn hợp bùn - tức là một hỗn hợp nhiên liệu đông
lạnh có chứa hydro ở tình trạng bán đông lạnh. Động cơ này cực mạnh, và cháy
rất sạch. Và rất có thể được sử dụng nếu NASA cho phóng tàu vũ trụ lên sao Hoả.

Corky vẫn chưa hết kinh ngạc:

- Không thể nào!

- Hoàn toàn là sự thật đấy. Tôi đã tóm tắt, tin cho
Tổng thống mà. Và Giám đốc của tôi đã phải lao tâm khổ tứ vì NASA muốn công bố
rộng rãi thành công vang dội đó của họ, còn Pickering thì muốn Nhà Trắng buộc
NASA giữ bí mật về thế hệ động cơ này.

- Tại sao?

- Cái đó không quan trọng. - Rachel nói.

Cô đã tiết lộ thông tin mật vì buộc phải làm thế, và
không có ý định tiến xa hơn nữa. Sự thật là Pickering muốn giữ bí mật loại động
cơ này là do hiện đang có mối quan ngại về an ninh quốc gia ngày càng gia tăng
- Trung Quốc đang phát triển khoa học và công nghệ vũ trụ với tốc độ nhanh
chóng khôn lường. Gần đây Trung quốc còn cho xây dựng một sân bay vũ trụ
"cho thuê" và ai bỏ giá thầu lớn thì sẽ mua được quyền sử dụng, mà
hầu hết những nhà thầu đó chắc chắn sẽ là kẻ thù của Mỹ. Cho nên an ninh quốc
gia của Mỹ đang bị uy hiếp.

May mắn thay, NRO biết được rằng Trung Quốc đang
nghiên cứu chế tạo động cơ nhiên liệu đẩy để sử dụng cho sân bay vũ trụ đó. Cho
nên Pickering thấy không có lý do gì để đánh động cho Trung Quốc biết NASA đã
có thứ họ đang ao ước.

- Tức là, - Tolland nói, vẻ rất không thoải mái - cô
nói rằng NASA đã có trong tay loại động cơ đẩy dùng khí hydro tinh khiết làm
nhiên liệu à?

Rachel gật đầu.

- Tới không có con số chính xác, nhưng nhiệt độ khí thải
của loại động cơ này cao hơn nhiệt độ của bất kỳ thứ gì con người từng tạo ra
được trong lịch sử. Cho nên NASA đã phải nghiên cứu một loại ống xả bằng chất
liệu đặc biệt. - Cô ngừng một lát - Để một tảng đá lớn đằng sau động cơ nổ đẩy
kiểu này, tảng đá đó sẽ bị nóng chảy bởi khí thải ở nhiệt độ cực kỳ lớn phả ra
từ động cơ thể là có một lớp vỏ nóng chảy.

- Thế đấy! - Corky nói. - Cô lại quay về với giả
thuyết tảng thiên thạch giả rồi.

Tolland chợt trầm tư.

- Ý tưởng đó rất đáng suy nghĩ đấy. Cũng tương tự như
việc đặt tảng đá bên dưới bệ phóng tên lửa trong một lần phóng vệ tinh lên vũ
trụ thôi mà.

- Lạy Chúa tôi, - Corky ca cẩm, - Tôi đang bay cùng
hai kẻ gàn dở không can nổi.

- Corky này. - Tolland nói tiếp. - trên lý thuyết thì
khi đặt tảng đá trước luồng khí thải của động cơ nóng như vậy cũng sẽ tạo ra
các vằn dọc giống như khi tảng thiên thạch rơi tự do trong bầu khí quyển, đúng
không nào? Bề ngoài sẽ giống nhau, cả vằn dọc lẫn những lớp bề mặt nóng chảy bị
thổi tạt về phía sau.

Corky làu bàu:

- Chắc thế.

- Và động cơ sử dụng khí hydro tinh khiết cũng sẽ
không để lại cặn bã gì hết. Chỉ duy nhất khí hydro thôi. Hàm lượng hydro bị ion
hoá trên lớp bề mặt nóng chảy sẽ cao hơn bình thường.

Corky trợn trừng mắt:

- Nghe này, nếu những động cơ đẩy đó là có thật và
chạy bằng nguyên liệu hydro tinh khiết thật, thì điều đó là có thể. Nhưng những
động đó còn lâu chúng ta mới có được!

- Tại sao? - Tolland cật vấn. - Quy trình cũng khá đơn
giản mà.

Rachel gật đầu tán đồng:

- Tất cả những gì ta cần là một tảng đá có hoá thạch
niên đại 190 triệu năm. Đem nung nóng bằng động cơ đẩy Sau đó vùi vào trong
băng hà. Thế là có thiên thạch ăn liền.

- Có thể khách du lịch sẽ tin vào câu chuyện đó. -
Corky phản đối - Nhưng không thể nói thế với các nhà khoa học của NASA được. Thế
các chrondrule thì giải thích sao đây?

Rachel cố nhớ lại xem Corky đã giải thích với cô về
các chrondrule thế nào.

- Anh đã nói rằng các chrondrule được hình thành do
quá trình nung nóng và làm lạnh trong vũ trụ đúng không nào?

Corky thở dài:

- Chrondrule hình thành khi một tảng đá, có nhiệt độ
rất thấp ngang với nhiệt độ môi trường trong vũ trụ, đột ngột bị nung lên đến
nhiệt độ nóng chảy không toàn phần - 1550 độ C.

Sau đó tảng đá nguội đi, cực kỳ nhanh, làm cho các túi
đá nóng chảy đông cứng ngay lại thành các chrondrule.

Tolland chằm chằm nhìn ông bạn:

- Và tất cả quá trình đó không thể xảy ra trên mặt đất
được sao?

- Không thể. - Corky tuyên bố. - Môi trường nhiệt trên
trái đất không cho phép điều đó xảy ra. Chúng ta đang nói tới nhiệt độ trong lò
phản ứng hạt nhân và độ không tuyệt đối trong môi trường chân không. Những thái
cực đó không có được trên hành tinh của chúng ta đâu.

Rachel tỏ ra băn khoăn:

- Ít ra là không có được trong tự nhiên.

Corky quay sang cô:

- Thế có nghĩa là sao?

- Tại sao quá mình nung nóng và làm lạnh đó không thể
xảy ra trong điều kiện nhân tạo trên trái đất được? - Rachel chất vấn. - Người
ta có thể dùng động cơ nổ đẩy để nung nóng nó lên, rồi đặt vào thiết bị làm
lạnh.

Corky trợn mắt:

- Các chrondrule nhân tạo sao?

- Biết đâu đấy.

- Một ý tưởng kỳ quặc. - Corky đáp liền, giằng mẫu đá
trên tay Rachel. - Chắc cô đã quên mất chi tiết rằng những chrondrule này có
niên đại 190 triệu năm. - Ông ta nhấn mạnh từng tiếng - Theo như tôi hiểu, thưa
cô Sexton, cách đây 190 triệu năm không có người nào trên trái đất này điều
khiển động cơ nổ đẩy và thiết bị làm lạnh nào hết.

Dù gì đi nữa, Tolland thầm nghĩ, mỗi lúc chứng cứ một
nhiều lên.

Ông đã yên lặng khá lâu sau khi nghe Rachel nói về
loại động cơ nổ đẩy dạng sóng. Giả thuyết của cô, dù vô cùng táo bạo, đã mở ra
mọi cánh cửa, khiến cho ý nghĩ của ông chạy lan man theo mọi hướng. Nếu lớp vỏ
bị nóng chảy có thể nhân tạo được, thì liệu còn gì khác nữa không?

- Sao anh yên lặng thế? - Rachel hỏi ông.

Tolland nhìn cô gái. Trong khoảnh khắc, dưới ánh đèn
từ trần cabin phả xuống, ông chợt thấy trong mắt Rachel ánh lên cái nhìn hiển
dịu của Celia. Ông lắc đầu, gạt ký ức ra khỏi tâm trí, rồi thở dài mệt mỏi.

- À, tôi chỉ đang nghĩ…

- Về tảng thiên thạch phải không? - Cô mỉm cười. -Còn
chi tiết nào nữa đây? Anh đang cố nghĩ xem còn chi tiết nào bị bỏ sót không chứ
gì?

- Đại loại thế…

- Thế anh có nghĩ ra cái gì không?

- Chưa có gì đặc biệt. Nhưng tôi không được thoải mái
lắm khi thấy nhiều chi tiết bị đổ đến như thế, đơn thuần chỉ vì chúng ta biết được
lỗ khoan bên dưới tảng thiên thạch?

- Tập hợp dữ liệu thu được dựa trên những yếu tố được
mặc định trước luôn là thế. - Rachel nói. - Chỉ cần lật lại chi tiết đầu tiên,
thế là tất cả lung lay. Vị trí của tảng thiên thạch là chi tiết đầu tiên của
chúng ta..

Mình sẽ nói cho cô ấy biết.

- Khi tôi đặt chân lên phiến băng Milne, ông Giám đốc
đã nói rằng họ vừa tìm thấy một tảng thiên thạch nằm trong túi băng hoàn toàn
kín. Tảng đá đó có độ đậm đặc cao hơn tất cả các loại đá khác trong vùng. Và
tôi đã coi đó là bằng chứng về nguồn gốc vũ trụ của tảng đá.

- Và chúng tôi nữa chứ.

- Hàm lượng nickel trung bình, dù cũng là một căn cứ,
nhưng vẫn chưa đủ để kết luận.

- Hàm lượng đó rất gần mức trung bình mà. - Corky chêm
vào, hoá ra ông ta vẫn lắng nghe tất cả.

- Nhưng không hoàn toàn chính xác.

Corky gật đầu đồng tình, nhưng khá miễn cưỡng:

- Lại nữa, - Tolland nói - những con bọ vũ trụ chưa ai
thấy bao giờ đó. Dù rất dị thường, có thể chỉ là một loài giáp xác tầm thường
trong đại dương.

Rachel gật đầu:

- Và bây giờ đến lượt lớp vỏ bị nóng chảy…

Tôi không muốn thừa nhận điều này chút nào, - Tolland
quay sang nói với Corky - nhưng dường như những bằng chứng tiêu cực bắt đầu trở
thành đa số mất rồi.

- Không thể dựa vào linh cảm để làm khoa học được. -
Corky nói - phải căn cứ vào các dữ liệu cụ thể chứ. Các chrondrule ở tảng đá
này khẳng định nó chính là thiên thạch. Tôi thừa nhận là có rất nhiều chi tiết
khiến chúng ta phải suy nghĩ, nhưng không thể bỏ qua các chrondrule. Những bằng
chứng tích cực đều rất quan trọng, đã thế những bằng chứng chống lại tảng thiên
thạch đều chỉ dựa trên suy diễn mà thôi.

Rachel nhíu mày:

- Thế thì ta phải kết luận thế nào đây?

- Chẳng thế nào cả. - Corky nói. - Các chrondrule đã
chứng tỏ chúng ta có trong tay tảng thiên thạch. Vấn đề chỉ là tại sao nó lại được đưa vào
trong lòng băng hà mà thôi.

Dù rất muốn tin vào lập luận của bạn mình, Tolland vẫn
cảm thấy có gì đó không ổn.

- Anh có vẻ vẫn chưa tin hẳn. Mike ạ. - Corky nhận
xét.

Tolland bối rối nhìn Corky:

- Tôi cũng chẳng biết nữa. Hai trong số ba dữ liệu
không hề ít đâu. Chúng ta chỉ còn sử dụng được một trong ba dữ liệu quan trọng.
Có lẽ chúng ta vẫn bỏ sót chi hết nào đó.

Chương 90

Mình đi đời rồi, Chris Harper thầm nghĩ, lòng tê tái
khi nghĩ đến cảnh tù đày. Thượng nghị sĩ Sexton đã biết rằng trình nói dối về
phần mềm của PODS.

Dẫn Gabrielle vào phòng làm việc của mình và đóng cửa
lại, ông thấy căm ghét Giám đốc NASA. Đêm nay thì Harper đã biết những lời dối
trá của ông Giám đốc có thể thậm tệ đến thế nào.

Không chỉ ép ông nói dối về dự án PODS. Ông ta còn ngụy tạo bằng chứng để sẵn
sàng hãm hại ông trong trường hợp ông thay đổi thái độ và không muốn tiếp tục
nói dối nữa.

Bằng chứng về hành vi biển thủ công quỹ. Harper thầm
nghĩ. Đe doạ. Thật quỷ quyệt. Suy cho cùng thì sẽ chẳng một ai
đem đặt lòng tin vào kẻ tha hoá muốn làm hỏng giây phút huy hoàng nhất trong
lịch sử chương trình nghiên cứu vũ trụ của Hoa Kỳ. Vốn đã biết rằng Giám đốc
dám làm mọi chuyện để bảo vệ NASA, ông vẫn cảm thấy choáng váng khi nghe Tổng
thống tuyên bố về tảng thiên thạch có hoá thạch bên trong.

Harper đi đi lại lại bên chiếc bàn lớn đặt mô hình thu
nhỏ vệ tinh PODS - một vật hình lăng trụ với rất nhiều ăng ten và kính phản
quang. Gabrielle ngồi xuống, chăm chú nhìn ông ta, chờ đợi.

Cảm giác nôn nao trong dạ lại một lần nữa khiến Harper
nhớ lại những gì ông ta cảm thấy trong suốt buổi họp báo ấy. Ông ta đã trình
bày một cách rất không thuyết phục, và rất nhiều người đã thắc mắc với ông về
điều đó. Thế là Harper buộc phải tiếp tục nói dối rằng hôm ấy ông bị ốm nặng.
Cả cánh phóng viên lẫn các đồng nghiệp của ông đều tỏ ra không hài lòng, nhưng
rồi đều nhanh chóng quên bẵng đi cuộc họp báo kỳ quặc đó.

Giờ đây, lời dối trá đó quay lại ám ảnh tâm trí ông.

Gabrielle Ashe tỏ ra nhã nhặn hơn:

- Ngài Harper này, giờ Giám đốc đã trở thành đối thủ
của ông rồi, nên ông cần phải có một đồng minh. Và Thượng nghị sĩ Sexton sẽ là
người bạn duy nhất mà ông có được trong bối cảnh này. Chúng ta hãy bắt đầu với
câu chuyện về phần mềm của PODS. Hãy cho tôi biết những diễn biến cụ thể.

Harper thở dài. Ông biết đã đến lúc phải thú nhận sự
thật.

Đáng ra hôm ấy mình chẳng nên nói dối!

- Công đoạn phóng vệ tinh PODS diễn ra suôn sẻ. - Ông
bắt đầu. - Vệ tinh bay trên một quỹ đạo quanh vùng cực, đúng như dự định.

Thật nhàm chán. Cái đó thì Gabrielle Ashe đã biết
trước rồi.

- Ông nói tiếp đi.

- Sau đó vấn đề nảy sinh. Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu
vùng băng hà vĩnh cửu để tìm các vị trí có độ đậm đặc khác thường. Và phần mềm
phát hiện độ đậm đặc trên vệ tinh không hoạt động.

- Rồi, cái đó tôi đã biết.

Phầm mềm đó đáng ra phải có khả năng xem xét hàng ngàn
hécta diện tích và phát hiện ra những khu vực có độ đậm đặc khác so với độ đậm
đặc của băng tuyết. Trước hết là phải tìm được những khu vực mềm hơn bình
thường - những bằng chứng của quá trình nóng lên toàn cầu - nhưng nếu phát hiện
ra những đối tượng có độ đậm đặc khác thường thì nó cũng phải báo về. Đó cũng
là một phần của kế hoạch. Mục đích chính là để PODS chụp cắt lớp Cực Bắc trong
vòng vài tuần nhằm phát hiện những dấu hiệu bất thường để đánh giá mức độ ấm
lên toàn cầu.

- Nhưng vì phần mềm không hoạt động, - Gabrielle tiếp
lời, cho nên PODS chẳng làm được gì. Đáng ra NASA đã có thể nghiên cứu kỹ từng
xăng ti mét vuông vùng Cực Bắc để phát hiện các bất thường.

Harper gật đầu, nhớ lại những cảm giác ghê sợ sau sai
lầm ngớ ngẩn của mình.

- Phải mất vài thập niên mới khắc phục được, tình hình
lúc đó vô cùng xấu. Vì sai sót của tôi trong khâu lập trình, PODS trở thành
hoàn toàn vô dụng. Đã thế lại đúng vào giai đoạn tranh cử và Thượng nghị sĩ
Sexton đã công kích NASA. - Ông ta thở dài.

- Sai sót của ông vô cùng tai hại đối với NASA và Tổng
thống.

- Đó là thời điểm vô vùng nhạy cảm. Giám đốc giận tím
gan. Tôi đã cam kết với ông ấy sẽ khắc phục được sự cố trong lần phóng vệ tinh
tiếp theo - chỉ đơn giản là vấn đề thay vài con chíp trong máy tính mà thôi.
Nhưng quá muộn. Ông ta cho tôi nghỉ phép năm, nhưng thực ra là sa thải tôi. Đó
là chuyện cách đây một tháng.

Thế nhưng cách đây hai tuần, ông đã xuất hiện trên
tivi và công bố rằng đã khắc phục xong sai sót đó.

Harper đổ sụp xuống ghế.

- Đó là lỗi lầm khủng khiếp. Hôm ấy, tôi đã nhận được
cuộc gọi của Giám đốc. Ông ấy nói rằng có sự kiện quan trọng, vừa xảy ra, và có
cách để chạy tội cho tôi. Tôi đã đến ngay văn phòng để gặp ông ấy. Và đã nhận
được lệnh tổ chức họp báo để công bố rằng sẽ khắc phục xong sai sót trong phần
mềm của PODS trong vòng vài tuần sau đó. Và ông ấy còn bảo sẽ giải thích sau

- Và ông đã đồng ý?

- Không. Tôi từ chối! Nhưng một giờ sau thì ông Giám
đốc đã đến phòng làm việc của tôi, cùng với cố vấn của Tổng thống!

- Cái gì? - Gabrielle bàng hoàng.

Bà ta thật đáng sợ. Harper thầm nghĩ, gật đầu. Bà ta
cùng ông Giám đốc bắt tôi ngồi xuống, và nói rằng vì tôi mà cả NASA và Tổng
thống bị đẩy đến bên bờ vực thẳm. Tench nói với tôi rằng ngài Thượng nghị sĩ có
ý định tư hữu hoá NASA nếu đắc cử. Và vì thế tôi mắc nợ cả NASA lẫn ngài Tổng
thống: Sau đó bà ta giải thích mọi chuyện.

Gabrielle nhoài hẳn người về phía trước:

- Ông nói tiếp đi.

- Bà ta giải thích rằng, do may mắn tình cờ. Nhà Trắng
đã nghe lén được nguồn tin rằng một tảng thiên thạch đang bị vùi lấp trong lòng
phiến băng Milne. Tảng thiên thạch lớn chưa từng thấy. Và tảng thiên thạch to
lớn đến thế chắc chắn sẽ được coi là một phát kiến quan trọng của NASA.

Gabrielle ngỡ ngàng.

- Gượm đã nào, ông nói rằng người ta biết trước về sự
có mặt của tảng thiên thạch trước khi PODS tìm thấy nó à?

- Đúng thế PODS chẳng liên quan gì đến phát kiến này
cả. Giám đốc đã biết trước về sự tồn tại của tảng thiên thạch. Ông ta cho tôi biết toạ độ, và bảo
tôi định vị PODS đúng vị trí đó để giả vờ là vệ tinh của chúng tôi đã tìm ra
nó.

- Ông nói đùa?

- Tôi cũng đã phản ứng y như thế khi họ yêu cầu tôi
tham gia vào âm mưu kia. Họ từ chối không chịu nói đã tìm thấy tảng thiên thạch
đó bằng cách nào. Tench chỉ nhắc đi nhắc lại rằng điều đó không quan trọng,
rằng đây là cơ hội để tôi khắc phục sai sót của mình. Nếu tôi giả vờ rằng chính
PODS đã tìm ra tảng đá đó thì NASA sẽ công bố thông tin rộng rãi nhằm tuyên
truyền về thắng lợi của NASA, để cho chiến dịch tranh cử của Tổng thống có thể
cất cánh.

Gabrielle kinh hoàng.

- Và dĩ nhiên nếu chưa tuyên bố đã khắc phục xong lỗi
phần mềm của PODS thì không thể nói rằng chính nó đã tìm thấy tảng thiên thạch.

Harper gật đầu.

- Cho nên đó là buổi họp báo dối trá. Tôi bị ép phải
làm thế. Cả bà Tench lẫn Giám đốc đều xử sự một cách nhẫn tâm. Họ nhấn mạnh
rằng chính tôi đã kéo tất cả mọi người xuống tận bùn đen - Tổng thống đã chi
ngân sách cho dự án PODS, NASA đã mất bao năm mới hoàn tất được nó, và giờ đây
tôi đẩy tất cả những công sức ấy xuống bùn đen, chỉ vì một sai lầm ngớ ngẩn.

- Thế là ông nhận lời giúp họ.

- Tôi chẳng còn cách nào khác. Nếu không làm thế thì
sự nghiệp của tôi chắc chắn sẽ chấm hết. Và sự thật là nếu tôi không làm hỏng
phần mềm ấy thì PODS đã tìm thấy tảng thiên thạch đó rồi. Cho nên lúc đó những
gì tôi nói cũng không có gì ghê gớm lắm. Tôi tự thuyết phục bản thân rằng sau
vài tháng nữa, khi tàu con thoi được phóng lên, sai sót đó sẽ được khắc phục.
Vì thế tôi chỉ thông báo sự thật sớm hơn một chút mà thôi.

Gabrielle gật gù:

- Một lời nói dối vô hại để tận dụng cơ hội tảng thiên
thạch.

Nhắc đến chuyện này, Harper trông như sắp phát ốm.

- Thế là tôi đã làm điều đó… theo chỉ đạo của Giám
đốc. Đầu tiên, tôi tổ chức cuộc họp báo để công bố rằng đã có biện pháp khắc
phục được sai sót phần mềm của PODS; đợi vài ngày sau, tôi điều khiển cho PODS
nằm cố định đúng ở toạ độ có tảng thiên thạch; sau đó, theo đúng chỉ thị của
ông ấy, tôi báo với Giám đốc Chương trình EOS là PODS vừa phát hiện được một
vật thể có độ đậm đặc cao bất thường trên phiến băng Milne, cho ông ấy biết toạ
độ chính xác, và nói thêm rằng độ đậm đặc này chỉ ra rằng rất có thể đó là một
tảng thiên thạch. Trong tâm trạng phấn khích, NASA cử một toán đi khoan thăm dò
để lấy mẫu đá Và đó chính là lúc sự việc trở nên ầm ỹ.

Và mãi đến tối nay ông mới được biết rằng tảng thiên
thạch chứa hoá thạch bên trong?

- Ở đây chẳng ai biết một tí gì. Tất cả chúng tôi đều
ngạc nhiên. Bây giờ ai cũng bảo tôi chính là người hùng đã có công tìm ra tảng
thiên thạch đó, và tôi chẳng còn biết nói gì nữa.

Im lặng hồi lâu, đôi mắt đen cương nghị của Gabrielle
nhìn thẳng vào ông tiến sĩ:

- Nhưng thực ra PODS không tự phát hiện được tảng
thiên thạch. Làm sao ông Giám đốc biết được là nó đang ở đó?

- Đầu tiên là một người khác đã tìm thấy nó.

- Người khác? Ai thế?

Harper thở dài.

- Nhà địa chất học người Canada tên là Charles Brophy
- nhà nghiên cứu trên đảo Ellesmere. Trong khi đang nghiên cứu độ sâu trên
phiến băng Milne. Ông ta đã tình cờ phát hiện được một vật rất giống thiên
thạch. Ông ta thông báo tin đó bằng sóng radio, và NASA nghe lén được cuộc nói
chuyện.

Gabrielle trợn tròn mắt:

- Thế người Canada không phản ứng gì khi NASA cướp
công của họ à?

- Không. - Harper đáp, giọng thê thảm. - Thật tiện cho
NASA là ông ta đã chết rồi.


Mục lục

4,968 từ

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1