TruyenVip

Trăng lạnh

Trăng lạnh - Phần IV - Chương 43 (Hết)

Mục lục

PHẦN
IV

PHẦN
IV

12:48
TRƯA THỨ HAI

Vậy
thời gian là gì? Nếu không ai hỏi ta, ta biết nó là gì.

Nếu
phải giải thích với cái người hỏi ta,

ta
lại chẳng biết thế nào.

THÁNH
AUGUSTINE

CHƯƠNG
43

Ngày tháng Mười hai kể cũng không quá rét mướt,
nhưng cái lò sưởi cổ lổ của nhà Rhyme bị hỏng và tất cả mọi người ở phòng thí
nghiệm dưới gác đều co ro trong những chiếc áo khoác dày. Mỗi lần thở ra, miệng
họ lại tỏa từng đám hơi nước và chóp mũi thì đỏ ửng lên. Amelia Sachs mặc hai
áo len, còn Pulaski mặc chiếc vét tông cổ độn vai màu xanh lá cây lủng lẳng những
tấm vé đi cáp treo tại khu trượt tuyết Killington giống như những tấm huy
chương kỉ niệm chiến dịch trên ngực một cựu chiến binh vậy.

Một cảnh sát trên ván trượt tuyết, Rhyme tự nhủ thầm.
Điểu ấy xem chừng kì quặc, tuy nhiên anh không thể nói chính xác tạisao. Có thể
là cái gì đó liên quan đến nguy cơ phải lao vèo xuống một sườn núi với một khẩu
súng ngắn cỡ chín li cò rất nhạy giấu dưới bộ đổ nỉ.

“Tay thợ chữa lò sưởi đâu rồi?”, Rhyme quát anh
chàng phụ tá.

“Anh ta nói sẽ có mặt trong khoảng từ một giờ đến
năm giờ.” Thom đang mặc chiếc vét tông bằng vải tuýt Rhyme tặng nhân dịp Giáng
sinh năm ngoái, và quấn chiếc khăn casơmia màu hoa cà, một trong những món quà
của Sachs.

“A, trong khoáng từ một giờ đến năm giờ. Tôi bảo nhé.
Gọi lại cho anh ta và...”

“Đây
là anh ta nói...”

“Không,
nghe này. Gọi lại cho anh ta và bảo anh ta rằng chúng ta nhận được báo cáo về một
kẻ cuồng sát đang đi lung tung xung quanh khu vực anh ta sống, chúng ta sẽ đến
đó bắt kẻ này trong khoảng từ một giờ đến năm giờ. Thử xem anh ta có còn dám nói
thế.”

“Lincoln”,
anh chàng phụ tá kiên nhẫn nói. “Tôi không...”

“Anh
ta biết chúng ta làm gì ở đây chứ? Anh ta biết chúng ta phục vụ và bảo vệ mọi
người chứ? Gọi cho anh ta, bảo anh ta thế.”

Pulaski
nhận ra Thom không với lấy điện thoại. Anh hỏi: “Ừm, anh có muốn tôi không? Ý
tôi là, gọi điện ấy?”

A, sự
chân thành của tuổi trẻ...

Thom
trả lời Pulaski: “Đừng chú ý gì đến anh ấy. Anh ấy giống một con chó hung hăng
chồm lên anh. Lờ anh ấy đi và anh ấy sẽ thôi ấy mà.”

“Một
con chó?” Rhyme hỏi. “Tôi là một con chó. Như thế thì hơi mỉa
mai, phải không, Thom? Vì ở đây anh đang cắn bàn tay cho anh ăn đấy.”
Hài lòng với câu trả miếng, anh thêm: “Bảo tay thợ đó là tôi nghĩ rằng tôi đang
bị giảm thể nhiệt. Kể ra thì tôi cũng nghĩ như vậy thật.”

“Thế
thì sếp có thể cảm thấy…”, chàng cảnh sát trẻ hỏi, nhưng câu hỏi bị chặn lại.

“Phải,
dứt khoát là tôi có thể cảm thấy rất bực bội, Pulaski.”

“Xin
lỗi, tôi nói mà không suy nghĩ.”

“Ê.” Thom
bật cười. “Chúc mừng anh!”

“Gì
thế?”, chàng cảnh sát trẻ hỏi.

“Anh
đã tiến bộ đến chỗ được gọi bằng họ rồi đấy. Anh ấy bắt đầu đánh giá anh cao
hơn con sên một bước rồi... Đó là cách anh ấy nói tới những người anh ấy thực sự
thích. Chẳng hạn như tôi, tôi chỉ là Thom thôi. Mãi mãi là Thom.”

“Nhưng...”,
Sachs bảo chàng cảnh sát trẻ, “... anh mà nói xin lỗi anh ấy lần nữa là anh sẽ
bi giáng cấp.”

Lát
sau, chuông cửa reo và anh chàng Thom chỉ-được-gọi-bằng-tên-riêng đi ra mở cửa.

Rhyme
liếc nhìn đồng hồ. 1:02. Liệu có thể là tay thợ đó thực tế lại thuộc loại mau mắn
không?

Nhưng,
tất nhiên, không phải. Lon Sellitto bước vào, định cởi áo khoác, rồi lại thôi. Ông
ta liếc nhìn hơi thở tỏa cuổn cuộn từ mồm mình. “Lạy Chúa, Linc, với những gì
mà chính quyền thành phố nhả ra cho anh, anh đủ khả năng trả tiền chạy lò sưởi,
anh biết mà. Kia là cà phê à? Có nóng không?”

Thom
rót cho ông ta một tách và Sellitto cầm cái tách bằng một tay, còn một tay mở
chiếc cặp đựng tài liệu. “Rốt cuộc cũng lấy được nó.” Sellitto hất đầu chỉ cái
mà ông ta vừa rút ra, một bìa kẹp hồ sơ cũ kĩ nhãn hiệu Redweld nhằng nhịt những
ghi chú bằng bút chì và bút mực đã phai màu, nhiều chỗ bị gạch, bằng chứng của
nhiều năm không được chính quyền thành phố thường xuyên sử dụng đến nữa.

“Hồ
sơ Luponte à?”, Rhymehỏi.

“Nó đấy.”

“Tôi
muốn có nó từ tuần trước”, nhà hình sự học làu bàu, bên trong mũi anh đau nhoi
nhói vì lạnh. Chắc anh sẽ phải bảo tay thợ kia là anh sẽ thanh toán hóa đơn
trong vòng một đến năm tháng. Anh liếc nhìn chiếc bìa kẹp hồ sơ.

“Tôi
gần như chẳng chờ đợi nó nữa. Tôi biết anh rất khoái những câu cách ngôn, Lon ạ.
Anh có nghĩ tới cái câu ngày đã muộn mà tiền vẫn chưa đủ không?”

“Không”,
viên thám tử nói vẻ hòa nhã. “Cái câu tôi nghĩ tới là nếu anh đã làm ơn cho
ai mà họ lại phàn nàn, thì mặc mẹ họ.”

“Một
câu hay đấy”, Lincoln Rhyme thừa nhận.

“Dù
sao, anh cũng chẳng bảo tôi nó thuộc loại hồ sơ nào. Tôi phải tự mình tìm kiếm
và nhờ Ron Scott lục lọi cho.”

Rhyme
nhìn chằm chằm viên thám tử trong lúc ông ta mở hồ sơ và xem lướt qua nó. Anh cảm
thấy một nỗi lo lắng ghê gớm, không biết mình sẽ tìm thấy cái gì. Có thể là
thông tin tốt lành, có thể là thông tin gây choáng váng. “Thế nào cũng có bản
báo cáo chính thức. Tìm đi.”

Sellitto tìm trong tập hồ sơ. Ông ta giơ bản báo cáo
lên. Trang trên cùng có cái nhãn đánh máy Anthony C. Luponte, Phó Thị trưởng.
Chiếc bìa kẹp hồ sơ được niêm phong bằng một băng giấy màu đỏ đã bạc màu,
in chữ Mật.

“Tôi có nên mở nó chăng?”, Sellitto hỏi.

Rhyme đảo mắt.

“Linc này, đến đoạn vui vẻ nhớ bảo tôi, được không?”

“Đặt nó vào cái giá giở trang. Đặt đi và xin cảm ơn.”

Sellitto xé băng giấy và đưa bản báo cáo cho Thom.

Anh chàng phụ tá đặt bản báo cáo vào một thiết bị
trông giống như cái giá đặt sách dạy nấu ăn trong bếp. Thiết bị này được gắn với
lõi cao su có chức năng giở trang, điều khiển bằng một cử động hết sức khẽ
khàng của ngón tay Rhyme trên bàn phím. Anh bắt đầu giở lướt qua toàn bộ tài liệu,
vừa đọc vừa cố gắng dẹp tâm trạng căng thẳng.

“Luponte à?” Sachs ngẩng lên khỏi những bảng chứng cứ.

Một
trang nữa được giở qua. “Ừ, nó.”

Rhyme
đọc hết đoạn này sang đoạn khác những phát biểu rối rắm trong chính quyền thành
phố.

Ôi,
nào, anh tức tối nghĩ. Đến cái chỗ chết tiệt ấy đi...

Liệu
thông điệp sẽ là tốt hay xấu?

“Có
gì đó dính dáng tới Thợ Đồng Hồ à?”, Sachs hỏi.

Cho tới
lúc này, chưa xuất hiện manh mối nào về gã đàn ông, kể cả ở NewYork lẫn ở California,
nơi Kathryn Dance đã bắt đầu cuộc điều tra của chính mình.

Rhymenói:
“Chẳng có gì dính dáng tới hắn.”

Sachs
lắc đầu. “Nhưng đây là lí do tại sao anh muốn tìm hồ sơ đó mà.”

“Không,
chẳng qua tự em bảo rằng đấy là lí do tại sao anh muốn tìm nó.”

“Thế
thì nó liên quan tới cái gì, một vụ khác?”, Sachs hỏi. Cặp mắt cô nhìn sang các
bảng chứng cứ của mấy vụ không nghiêm trọng mà họ cũng đang điều tra.

“Không
phải mấy vụ đó.”

“Thế
thì cái gì?”

“Anh
đã có thể nói với em từ lâu rồi nếu nãy giờ em đừng làm anh mất tập trung đọc.”

Sachs
thở dài.

Cuối
cùng, Rhyme cũng tới cái phần anh tìm kiếm. Anh dừng lại, nhìn qua cửa sổ những
cành cây màu nâu tiêu điều trong công viên Trung Tâm. Trong thâm tâm, anh tin tưởng
rằng bản báo cáo sẽ nói với anh những điều anh muốn nghe thấy, nhưng Lincoln Rhyme
trước hết là một nhà khoa học, và anh nghi ngờ con tim.

Sự thật
là cái đích duy nhất.

Liệu
các từ ngữ này sẽ tiết lộ sự thật nào cho anh?

Rhyme
quay lại với bản báo cáo, đọc vội vã. Và rồi đọc lại lần nữa.

Lát
sau, anh nói với Sachs: “Anh muốn đọc cho em nghe cái này.”

“Vâng.
Em nghe đây.”

Ngón
tay của bàn tay phải Rhyme cử động trên bàn phím điều khiển và các trang được lật
lại. “Đoạn này là ở trang đầu tiên. Em đang nghe chứ?”

“Em
đã bảo em nghe đây mà.”

“Tốt.
Phiên tòa này hiện tại đang và sẽ được giữ bí mật. Từ ngày mười tám đến ngày
hai chín tháng Sáu năm 1974, mười hai sĩ quan cảnh sát thành phố New York bị
truy tố bởi một đại bồi thấm đoàn về tội tống tiền các chủ cửa hiệu và doanh
nhân ở Manhattan và Brooklyn, cũng như về tội ăn hối lộ để bỏ dở những vụ án
hình sự. Ngoài ra, bốn sĩ quan còn bị truy tố về tội tấn công người khác nhằm đạt
được mục đích tống tiền. Mười hai sĩ quan này thuộc về cái gọi là Câu lạc bộ Đại
lộ Mười sáu, cái tên đồng nghĩa với tội tham nhũng nghiêm trọng trong lực lượng
cảnh sát.”

Rhymenghe thấy Sachs thở gấp gáp. Anh ngẩng lên và
thấy cô đang nhìn chằm chằm tập hồ sơ y như một đứa trẻ nhìn chằm chằm con rắn
trên sân sau ngôi nhà.

Anh tiếp tục đọc:“Không có gì to lớn hơn niềm tin
tưởng giữa những công dân của Hợp Chủng quốc này và những nhân viên thực thi
pháp luật có trách nhiệm bảo vệ họ. Những sĩ quan thuộc Câu lạc bộ Đại lộ Mười
sáu đã phạm phải một tội không thể bào chữa được là phá vỡ niềm tin thiêng
liêng đó và không chỉ phạm tội mà còn đem lại nỗi hổ thẹn khôngthể đo đếm được
cho các đồng đội can đảm và sẵn sàng hi sinh thân mình.

Bởi vậy, tôi, thị trưởng thành phố NewYork, trao tặng
Huân chương vì lòng dũng cảm ghi nhận công lao đưa những kẻ tội phạm ra trước
công lí cho các sĩ quan sau đây: sĩ quan tuần tra Vincent Pazzini, sĩ quan tuần
tra Herman Sachs và thám tử Lawrence Koepel.”

“Sao?”, Sachs thì thào.

Rhyme tiếp tục đọc:“Mỗi sĩ quan này đã nhiều lần
chấp nhận nguy hiềm đến tính mạng trong lúc hoạt động bí mật nhằm cung cấp
thông tin làm cơ sở xác định những kẻ tội phạm và thu thập chứng cứ để sử dụng
trước tòa. Do tính chất nguy hiểm của nhiệm vụ được giao phó, việc tuyên dương
được tố chức kín và biên bản sẽ dược niêm phong, đảm bảo an toàn cho ba sĩ quan
cũng như cho gia đình họ. Tuy nhiên, họ có thể chắc chắn rằng, mặc dù những nỗ
lực của họ không được ngợi ca công khai, sự biết ơn của thành phố đối với họ
hoàn toàn chẳng giảm sút.”

Amelia Sachs đăm đăm nhìn Rhyme. “Cha em...”

Rhyme gật đầu chỉ tập hồ sơ. “Cha em là một trong số
những cảnh sát chân chính, Sachs ạ. Ông ấy một trong số ba người
thoát tội. Chỉ có họ mới không thuộc nhóm đối tượng, họ làm việc cho Sở Nội vụ.
Ông ấy đối với Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu cũng giống y như em đối với đám cảnh
sát ở quán Thánh James, chỉ có điều ông ấy là một đặc tình.”

“Làm sao anh biết?”

“Anh không biết. Anh có nhớ về báo cáo
Luponte và những phiên tòa xử nhóm cảnh sát tham nhũng, nhưng anh không biết
cha em từng liên quan. Đấy là lí do tại sao anh muốn xem hồ sơ.”

“Thế nghĩa là thế nào?”, Sellitto hỏi, trong miệng đầy
bánh ngọt vị cà phê.

“Tiếp tục tìm đi, Lon. Còn có cái gì đó khác nữa.”

Viên thám tử tìm trong tệp hồ sơ, thấy một giấy chứng
nhận và một Huân chương Vì lòng dũng cảm, một trong những phần thưởng cao quý nhất
do Sở Cảnh sát trao tặng. Sellitto đưa nó cho Sachs. Đôi môi đẩy đặn của cô hé
mở, cặp mắt nheo lại, trong lúc cô đọc văn bản viết trên giấy da không đóng
khung, mang tên cha cô. Tấm huân chương đung đưa dưới những ngón tay cô run rẩy.

“Này, đẹp chưa”, Pulaski nói, chỉ tờ giấy chứng nhận.
“Xem tất cả những hoa văn trang trí kia.”

Rhyme hất đầu về phía tập hồ sơ để trên cái giá giở
trang. “Toàn bộ câu chuyện nằm trong đó, Sachs ạ. Người chỉ huy của cha em ở Sở
Nội vụ phải đảm bảo là những cảnh sát khác không nghi ngờ cha em. Ông ta đưa
cho cha em mỗi tháng mấy nghìn để rải khắp các chỗ, làm như cha em cũng ăn tiền.
Ông phải được tín nhiệm, nếu có bất cứ kẻ nào nghĩ ông là một nguồn tin, ông chắc
sẽ mất mạng, đặc biệt khi Tony Gallante đã tham gia. Sở Nội vụ tiến hành một cuộc
điều tra giả về ông nhằm tạo sự tin tưởng. Cuộc điều tra ấy thất bại vì thiếu
chứng cứ. Các thẻ quản lí vật chứng bị thất lạc là do họ đã thỏa thuận với bên
Khám nghiệm hiện trường.”

Sachs cúi đầu. Rồi cô bật một tiếng cười ngắn ngủi. “Cha
em luôn luôn là người khiêm nhường. Nó cũng giống y như cha em vậy, phần thưởng
cao quý nhất cha em từng nhận được là phần thưởng chẳng được tiết lộ ra. Ông
không bao giờ nói một lời nào về nó.”

“Em có thể đọc tất cả các chi tiết. Cha em bảo rằng
ông sẽ chịu đựng sự hiểu nhầm, ông sẽ cung cấp mọi thông tin cần thiết về Gallante
và những kẻ cầm đầu khác. Nhưng ông sẽ không bao giờ làm chứng công khai trước
tòa. Ông sẽ không khiến cho mẹ con em gặp nguy hiểm.”

Sachs đăm đăm nhìn tấm huân chương đang đung đưa –
giống quả lắc của một chiếc đồng hồ, Rhyme hài hước nghĩ.

Cuối cùng, Lon Sellitto xoa xoa hai bàn tay vào nhau.
“Nghe này, tôi sung sướng vì tin tức tốt lành”, ông ta nói giọng làu bàu. “Nhưng
các vị thấy thế nào nếu chúng ta biến quách khỏi đây và tới quán Manny. Tôi có
thể ăn trưa gì đó. Và, có ngạc nhiên không? Tôi cá là họ sẽ trả tiền chạy
lò sưởi.”

“Tôi cũng muốn đi”, Rhyme nói với vẻ chân thành mà
anh tin tưởng rằng ngụy trang được cho cái việc anh tuyệt đối không muốn ra
ngoài đường, đánh vật với những con phố đóng băng trơn trượt trên chiếc xe lăn.
“Nhưng tôi đang viết một bài xã luận để gửi tờ Thời báo.” Anh hất đầu về
phía máy vi tính. “Với lại, tôi phải ở đây đợi tay thợ kia.” Anh lắc đầu. “Từ một
giờ đến năm giờ.”

Thom đang sắp sửa nói gì đó – chắc chắn để thuyết phục
Rhyme đi – nhưng người cất lời lại là Sachs.

“Xin lỗi. Tôi có kế hoạch khác mất rồi.”

Rhyme bảo: “Nếu nó có dính dáng đến băng tuyết anh
không quan tâm đâu.” Anh đồ rằng Sachs và cô gái nhỏ, Pammy Willoughby, lại có
kế hoạch đi chơi với đứa con nuôi của cô bé, chú chó giống Havanese, Jackson.

Nhưng Sachs rõ ràng có một chương trình khác.

“Nó có đấy”, cô nói. “Ý em là, dính đáng đến băng
tuyết.” Cô bật cười, hôn lên môi anh. “Nhưng cái mà nó không dính dáng đến là
anh.”

“Ơn Chúa”, Lincoln Rhyme nói, phả một làn hơi mỏng
lên trần nhà và quay lại với màn hình máy vi tính.

“Cô.”

“Thám tử Snyder, bác thế nào?”, Amelia Sachs hỏi.

Art Snyder đứng trên ngưỡng cửa ngôi nhà nhỏ một tầng
của ông, trừng trừng nhìn cô. Ông trông khá hơn lần cuối cùng cô gặp – khi ông
nằm ở ghế sau chiếc xe thùng của mình. Tuy nhiên, ông không hề bớt tức giận. Cặp
mắt đỏ ngầu chiếu thẳng vào mắt cô.

Nhưng khi nghề nghiệp khiến người ta đôi lúc phải nhận
những phát súng thì vài cái nhìn trừng trừng chẳng ăn thua gì. Sachs mỉm cười. “Cháu
chỉ đến để cảm ơn bác.”

“Vâng, vì điều gì?” Snyder cầm một chiếc cốc uống cà
phê rõ ràng đang không đựng cà phê. Cô nhìn thấy nhiều cái chai lại xuất hiện
trong ngăn tủ. Cô cũng nhận ra là chưa dự án cải tạo nhà cửa nào được triển
khai.

“Chúng cháu đã kết thúc vụ quán ThánhJames.”

“Phải, tôi có nghe nói.”

“Thám tử Snyder, ở ngoài này lạnh nhỉ”, Sachs nói.

“Ông ơi.” Một phụ nữ dáng chắc nịch với mái tóc cắt
ngắn màu nâu và gương mặt vui vẻ gọi từ cửa bếp.

“Chỉ là một người ở Sở.”

“Chà, mời cô ấy vào di. Tôi sẽ pha cà phê.”

“Cô ấy là một phụ nữ bận rộn”, Snyder nói gắt gỏng. “Chạy
khắp nơi trong thành phố, làm đủ việc, hỏi đủ chuyện. Cô ấy chắc không nán lại
được đâu.”

“Cháu đang chết cóng ngoài này rồi.”

“Art! Để cô ấy vào đi.”

Ông thở dài, quay bước vào bên trong, để Sachs đi
theo và tự đóng cửa lại. Cô bỏ áo khoác lên một chiếc ghế dựa.

Bà vợ Snyder đi đến chỗ họ. Nguời phụ nữ bắt tay
Sachs. “Cho cô ấy ngồi cái ghế thoải mái kia, Art.” Bà nói giọng bực bội.

Sachs ngồi vào cái ghế Barcalounger đã sờn. Snyder ngồi
trên đi văng, sức nặng của cơ thể ông làm nó kêu cót két. Ông không vặn nhỏ bớt
tiếng ti vi, đang có một trận đấu bóng rổ sôi sục.

Bà vợ mang tới hai tách cà phê.

“Đừng pha cho tôi”, Snyder nói, nhìn cái cốc.

“Tôi vừa rót đấy. Ông muốn tôi đổ đi à? Lãng phí cà phê ngon à?” Bà để
nó trên bàn, bên cạnh Snyder và trở vào bếp, nơi bà đang phi tỏi thơm lừng.

Sachs
im lặng nhấm nháp tách cà phê đặc, Snyder thì đăm đăm xem chương trình của ESPN.
Ánh mắt ông dõi theo quả bóng từ vị trí phát bóng ở ngoài vạch ba điểm, bàn tay
nắm lại khi nó bay vèo vào.

Đến một
đoạn quảng cáo. Snyder chuyển kênh xem đánh bài xì.

Sachs
nhớ Kathryn Dance từng đề cập tới sức mạnh của sự im lặng trong việc khiến cho
người ta mở lời. Cô ngồi đấy, nhấm nháp cà phê, nhìn ông, chẳng nói gì cà.

Cuối
cùng, bực bội, Snyder hỏi: “Vụ quán Thánh James ấy à?”

“À vâng.”

“Tôi
đọc được thông tin là Dennis Baker đứng đằng sau. Và tay phó thị trưởng.”

“Đúng.”

“Tôi
đã gặp Baker vài lần. Thấy cũng không có vấn đề gì. Chuyện anh ta làm tôi ngạc
nhiên quá.” Vẻ băn khoăn lướt ngang qua gương mặt Snyder. “Cả giết người à?
Sarkowski và người đàn ông kia?”

Sachs
gật đầu. “Và một vụ mưu sát.” Cô không kể rằng chính cô suýt nữa trở thành nạn
nhân.

Snyder
lắc đầu. “Tiền bạc là một chuyện. Nhưng giết người đó là một trận bóng hoàn
toàn
khác.”

Amen.

Snyder
hỏi: “Cóphải trong số đối tượng có cái đứa tôi bảo cô không? Có nhà hay gì đó ở
Marylan đấy?”

Sachs
cho rằng Snyder xứng đáng được tin cậy.

“Đó
là Wallace. Nhưng nó không phải một địa điểm. Nó là một chiếc thuyền.” Và Sachs
giải thích về chiếc thuyền củaWallace.

“Thật
à? Maryland Monroe à? Cái tên hết sức đặc biệt.”

Sachs
nói. “Chúng cháu sẽ không giải quyết được vụ án nếu không có sự giúp đỡ của bác.”

Gương
mặt Snyder vụt hiện lên một vẻ hài lòng. Rồi ông nhớ ra là mình đang tức giận. Ông
đứng dậy, thở dài, rót thêm whisky vào cốc. Xong, ông lại ngồi xuống. Tách cà
phê của ông vẫn chưa được đụng đến. Ông chuyển kênh thêm vài lần.

“Cháu
có thể hỏi bác một việckhông?”

“Tôi
chẳng cho cô hỏi mà được à?”, Snyder lẩm bẩm.

“Bác
bảo lả bác biết cha cháu. Chẳng còn nhiều người biết cha cháu. Cháu đã muốn hỏi
bác về ông.”

“Câu
lạc bộ Đại lộ Mười sáu à?”

“Không.
Cháu không muốn biết về nó.”

Snydernói:
“Ông ấy là kẻ may mắn đã thoát.”

“Đôi
khi người ta cố gắng tránh bị ăn đạn.”

“Ít nhất
thì sau đó ông ấy cũng sống trong sạch. Nghe nói ông ấy không lần nào sẩy chân
nữa.”

“Bác
bảo là bác làm việc với cha cháu. Trước đây ông chẳng hay nói về những công việc
ông làm. Cháu luôn luôn tự hỏi không biết công việc hồi ấy thế nào. Tuy nhiên
cháu sẽ viết lại một vài điều.”

“Cho
các cháu của ông ấy?”

“Đại
loại vậy.”

Snydernói
lưỡng lự: “Chúng tôi chưa bao giờ là những cộng sự”.

“Nhưng
bác biết cha cháu.”

Một
thoáng ngập ngừng. “Phải.”

“Bác
chỉ cần kể cho cháu: Câu chuyện về cái người chỉ huy ấy thế nào... cái người chỉ
huy điên rồ ấy? Trước đây cháu luôn luôn muốn biết câu chuyện li kì này.”

“Kẻ
điên rồ nào?”, Snyder khinh khỉnh hỏi. “Có vô số những kẻ điên rồ.”

“Cái
người đã điều nhóm chiến thuật đến nhầm một căn hộ khác ấy?”

“Ồ. Caruthers
hả?”

“Cháu
nghĩ là ông ta. Cha cháu là một trong những người đã chiến đấu với kẻ bắt con
tin cho tới lúc Đơn vị Phản ứng nhanh tìm thấy đúng địa điểm.”

“Phải.
Phải. Tôi đã có mặt tại đó. Caruthers,
thằng cha đáng ghét. Cái làng nhỏ... ơn Chúa là không ai bị làm sao. Ồ, mà cũng
hôm ấy, hắn quên lắp pin cho loa pin... Một chi tiết khác nữa về hắn: Hắn không
tự đánh bóng ủng đâu. Cô biết đây, hắn để đám tân binh làm. Và hắn boa cho họ,
đại khái là năm xu. Tôi muốn nói, boa cho lính đã kì dị rồi. Lại còn có năm xu
chết tiệt?”

Âm lượng ti vi được hạ xuống mấy nấc. Snyder bật cười.
“Này, cô cómuốn nghe một câu chuyện không?”

“Chắc
chắn là có ạ.”

“Chà,
cha cô, tôi, cùng với một nhóm, được nghỉ phép, đang đi ra công viên Quảng trường
Madison, xem một trận đấu bóng hay đại loại thế. Và cái thằng nhãi ấy xuất hiện,
lăm lăm một khẩu súng phốc, cô biết là cái gì chứ?”

Sachs
biết. Nhưng cô trả lời là không.

“Một
kiểu súng tự tạo. Nạp được duy nhất một viên đạn cỡ hai mươi hai. Và cô có tin
nổi không, thằng nhãi tội nghiệp này trấn lột bọn tôi đấy. Nó yêu cầu bọn tôi
giơ tay lên ngay giữa phố Ba mươi tư. Chúng tôi đang đưa ví cho nó thì cha cô
đánh rơi ví mình, bất ngờ một cách cố ý, côbiết tôi muốn nói gì chứ? Thằng nhãi
cúi xuống nhặt. Khi nó đứng dậy nó sợ xanh mắt mèo, bốn họng súng của chúng tôi
đang chĩa thẳng vào nó, bốn khẩu Smittie, giương cò và sẵn sàng nhả đạn. Gớm, vẻ
mặt thằng nhãi… Nó nói: ‘Xui xẻo quá.’ Đó là một câu kinh điển hay thế nào?
‘Xui xẻo quá.’ Ôi chao, chúng tôi cười cả buổi tối về việc này...” Gương mặt
người đàn ông bỗng nhiên nở nụ cười. “Ồ, còn một chuyện nữa

Trong
lúc Snyder kể chuyện, Sachs gật đầu khuyến khích ông. Thực tế cô đã biết hầu hết
những câu chuyện đó. Herman Sachs hoàn toàn không phải là không thích nói với
con gái về công việc của mình. Hai cha con từng dành biết bao nhiêu tiếng đồng
hồ trong ga ra, nghiên cứu một bộ truyền lực hoặc một bộ phun nhiên liệu, và những
câu chuyện về cuộc đời một cảnh sát cứ ào ạt tuôn – những hạt giống ươm cho
tương lai của chính cô sau này.

[Chúc
bạn đọc sách vui vẻ tại www. gacsach.com – gác nhỏ cho người yêu
sách. ]

Nhưng,
tất nhiên, cô không ở đây để hỏi thăm truyền thống gia đình mình. Không, nó đơn
giản là một cuộc gọi cần-hỗ trợ-khẩn-cấp, cuộc gọi với mã số 10-13 xuất phát từ
con tim. Sachs quyết định rằng cựu thám tử Art Snyder sẽ không xuống dốc nữa. Nếu
ông cho là bạn bè ngoảnh mặt với ông vì ông đã góp phần vào việc tóm cổ cái đám
ở quán Thánh James, thì cô sẽ đem đến cho ông niềm vui khi có biết bao nhiêu
người yêu quý ông: bản thân cô, Sellitto, Rhyme và Ron Pulaski, Fred Dellray,
Roland Bell, Nancy Simpson, Frank Rettig, cũng như nhiều người khác.

Sachs
hỏi Snyder thêm một số chuyện và ông trả lời – có lúc hăng hái, có lúc khó chịu,
có lúc bối rối, nhưng chẳng hề từ chối trả lời. Mấy lần, Snyder đứng dậy, rót rượu
đầy cốc, và chốc chốc lại liếc nhìn đồng hồ đeo tay, rồi liếc nhìn cô, hàm ý rất
rõ ràng: Cô không có chỗ nào để đến nữa hả?

Nhưng
cô cứ ngồi đó, thoải mái trong chiếc Barcalounger, hỏi ông chuyện này chuyện nọ
và thậm chí k ểra vài chuyện chiến đấu của chính cô. Amelia Sachs chưa đi đâu cả,
cô đang nắm trong tay toàn bộ thời gian trên thế giới này.

LỜI TÁC GIẢ

LỜI TÁC GIẢ

Các
tác giả có thể viết hay khi xung quanh mình là những người bạn, những người đồng
nghiệp, và tôi đã vô cùng may mắn khi được ở giữa những con người thực sự tuyệt
vời: Will và Tina Anderson, Alex Bonham, Louise Burke, Robby Burroughs, Britt
Carlson,…


cũng giống như mọi lần, xin đặc biệt cảm ơn Madelin Warcholik.

Những
ai quan tâm đến chủ đề chế tạo và sưu tầm đồng hồ sẽ thấy cuốn Đánh dấu thời
gian
[85] của Michael Korda rất thú vị.

[85] Marking time.

Thực hiện bởi
nhóm Biên tập viên Gác Sách:
Chim Cụt – vivian. nguyen – H.y
(Tìm – Chỉnh sửa – Đăng)


Mục lục

4,632 từ

Trăng lạnh
Trăng lạnh

Jeffery Deaver

51 chương · Full

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Phong Thần ChâuĐang ra
Phong Thần Châu

Oa Ngưu Cuồng Bôn

10919 chương7.2
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1