TruyenVip

Tâm Trí Tội Phạm

Tâm Trí Tội Phạm - Chương 07

Mục lục

VI PHẠM LỜI THỀ | KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN VỀ MẶT ĐẠO ĐỨC

Cấm hút thuốc. Canh tác hữu cơ. Thực phẩm không có thuốc nhuộm và chất bảo quản. Tất cả các biện pháp bảo vệ sức khỏe này có điểm gì chung? Chúng được các bác sĩ Đức Quốc xã khởi xướng. Tất nhiên, đó không phải là những gì chúng ta thường nghĩ đến khi nói đến y học dưới thời Đệ tam Quốc xã, nhưng những quy định tương tự về “trạng thái sạch sẽ” từng truyền cảm hứng cho những phương pháp y học lang băm đó cũng truyền cảm hứng cho nhiều thí nghiệm man rợ khiến các bác sĩ Đức Quốc xã trở nên khét tiếng.

Đức Quốc xã bị ám ảnh bởi sự sạch sẽ, và họ sợ rằng thuốc lá, thực phẩm chế biến sẵn và thuốc trừ sâu đang làm ô nhiễm cơ thể của công dân Đức. Tổ chức Schutzstaffel độc ác thậm chí còn đóng chai và bán nước khoáng. Đức Quốc xã sau đó đã mở rộng khái niệm về sự sạch sẽ này từ cơ thể cá nhân sang thể chế chính trị, và ngày càng bị ám ảnh bởi việc thanh trừng xã hội được cho là chất độc của nhân loại, đặc biệt là người Do Thái. (Như Nghị sĩ Führer Rudolph Hess từng nói, “Chủ nghĩa Quốc xã chỉ đơn thuần là một thứ nghiên cứu sinh học ứng dụng”.) Như một hệ quả tất yếu, các bác sĩ Đức Quốc xã kết luận rằng việc tiến hành các thí nghiệm y tế đối với những người không phải là người Aryan không chỉ được phép mà còn là nghĩa vụ đạo đức: cái chết của “vật chất con người” như vậy sẽ loại bỏ các chất gây ô nhiễm khỏi xã hội và những hiểu biết thu được sẽ tăng cường sức khỏe và hạnh phúc của Volk (dân tộc – tiếng Đức).

Ví dụ về các thí nghiệm kinh hoàng dưới thời Đệ tam Đế chế bao gồm: bắn người bằng đạn độc; cấy ghép tay chân không gây mê; xát mùn cưa và thủy tinh vào vết thương hở để nghiên cứu cách chữa bệnh; và nhỏ hóa chất ăn da vào mắt người để thay đổi màu sắc. Ít nhất 15.000 người đã chết trong những thí nghiệm như vậy (đối chiếu với Chương 3, các nhà giải phẫu học của Đức Quốc xã không bao giờ thiếu xác chết), và 400.000 người khác bị tàn tật hoặc vô sinh, dù nhiều thí nghiệm được coi là bất hợp pháp khi thực hiện trên động vật theo luật của Đức Quốc xã. Nhưng không giống như khỉ, chó và ngựa, người Do Thái và các tù nhân chính trị không được hưởng sự bảo vệ của pháp luật.

Thật đáng kinh ngạc, nhiều bác sĩ trong số này đã tuyên thệ theo lời thề Hippocrates là “Không gây hại” hoặc một điều gì đó tương tự – giống như lời thề mà các sinh viên y khoa ngày nay tuyên thệ. Đây là một trong những tuyên bố về đạo đức y học lâu đời nhất trong lịch sử, có từ thời bác sĩ Hy Lạp cổ đại Hippocrates và dường như nó sẽ loại trừ các loại hành vi tàn bạo được đề cập ở trên. Vậy các bác sĩ của Đức Quốc xã có cảm thấy họ đã vi phạm lời thề này hay không? Không hề. Lời thề Hippocrate tập trung vào hành vi của các bác sĩ và gần như bỏ qua những gì tốt nhất đối với bệnh nhân; họ chỉ cần tin tưởng các bác sĩ chăm sóc mình. Điều đó chỉ đúng trong bối cảnh đạo đức bình thường. Nhưng vào những năm 1930 ở Đức, chủ nghĩa tập thể lên ngôi – một chủ nghĩa thực dụng thô bạo đã bỏ qua quyền cá nhân và thay vào đó thúc đẩy “quyền” của chủng tộc. Các bác sĩ thuộc nhóm này đông đảo như bất kỳ nhóm người nào khác: Như một nhà sử học đã ghi chép, các bác sĩ “tham gia đảng Quốc xã sớm hơn và đông đảo hơn bất kỳ nhóm ngành nghề nào khác”. Là những người chữa bệnh, họ đặc biệt thích thú những bài hùng biện của Đức Quốc xã về việc “chữa khỏi” các tệ nạn của xã hội và loại bỏ những người Do Thái, người Gypsy và người đồng tính luyến ái “ung nhọt”. Nói cách khác, các bác sĩ đã chuyển ý nghĩa của lời thề Hippocrate từ “Không gây hại cho bệnh nhân” thành “Không gây hại cho xã hội” và hành động theo đó. Như một trong số họ đã thẳng thắn chia sẻ: “Lời thề Hippocrates đã bảo tôi phải cắt một đoạn ruột thừa bị hoại tử ra khỏi cơ thể người. Người Do Thái là đoạn ruột thừa của loài người. Đó là lý do tại sao tôi loại bỏ họ.”

Nhìn chung, gần một nửa số bác sĩ Đức gia nhập đảng Quốc xã, và công việc của họ phủ bóng đen lên y học cho đến ngày nay. Ngoài những mạng sống bị cướp đi, có một số căn bệnh và hội chứng vẫn được đặt theo tên của các bác sĩ Đức Quốc xã, những người đã thu thập được kiến thức của họ một cách bất hợp pháp. Bức xúc hơn, các nhà khoa học vẫn chưa biết phải làm gì với dữ liệu từ các thí nghiệm trên các tù nhân không mong muốn – dữ liệu này là một thứ dơ bẩn không thể chối cãi song lại là thứ có thể cứu sống được nhiều người ngày nay.

Cụ thể là, hầu hết các nghiên cứu y học của Đức Quốc xã đều đáng bị chôn vùi và lãng quên. Chẳng hạn, việc khâu các cặp song sinh cùng trứng lại với nhau như Josef Mengele từng làm là một hành vi không có giá trị về mặt y học. Ngay cả việc gọi hành động đó là một phương pháp “y học” cũng có vẻ thật bẩn thỉu[*].

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều đơn giản như vậy. Trong một loạt thí nghiệm, các bác sĩ Đức Quốc xã buộc các tù nhân phải ngậm nước biển ngày này qua ngày khác để xem họ sống sót được bao lâu. Trong nghiên cứu liên quan, họ đã ngâm mọi người trong chậu nước đá với nhiệt kế cắm vào trực tràng để nghiên cứu việc hạ thân nhiệt. Trong một nghiên cứu khác, họ nhốt mọi người bên trong các buồng giảm áp (áp suất thấp) để xác định ảnh hưởng của độ cao khắc nghiệt (21,3km). Giám đốc SS, Heinrich Himmler, đã đích thân chỉ đạo một số nghiên cứu này và sự man rợ của chúng là điều không cần bàn cãi. Trong nghiên cứu về nước biển, bệnh nhân khát nước đến nỗi họ bắt đầu liếm sàn sau khi lau để mong vợt được chút nước ẩm. Trong nghiên cứu áp suất thấp, mọi người vò đầu bứt tóc trong nỗ lực vô ích nhằm giảm bớt sự mất cân bằng áp suất bên trong hộp sọ của họ. Những người trong bồn nước đá khóc nức nở vì đau đớn khi chân tay họ cứng đờ; một số người cầu xin bị bắn hoặc giết hơn là phải chịu đựng thêm một phút nào nữa.

Nhưng các bác sĩ đã tìm ra lý do hợp lý để biện hộ cho những thí nghiệm tàn nhẫn này. Phi công thường tiếp xúc với áp suất thấp trong máy bay; các thủy thủ thường bị mắc kẹt trên các đảo hoang không có nước ngọt; binh lính thường phải chịu đựng cái lạnh buốt giá vào mùa đông. Các bác sĩ muốn biết những người lính này phải trải qua những gì về mặt sinh lý, và đặc biệt là làm thế nào để cứu họ. Ví dụ, với các bồn tắm nước đá, họ đã cố hồi sinh mọi người ngay khi nhiệt độ cơ thể của họ giảm xuống dưới 26°C sử dụng những biện pháp khác nhau như đèn chiếu nắng gay gắt, đồ uống nóng bỏng, túi ngủ sưởi ấm và rượu. Họ thậm chí còn lôi một số anh chàng đang hoảng loạn ra khỏi bồn nước đá và đẩy họ lên giường với gái mại dâm, những người sẽ cố giúp máu của những anh chàng này lưu thông theo cách “cổ điển”.

Các bác sĩ Đức Quốc xã ngâm một tù nhân trong nước đá để thực hiện một loạt các thí nghiệm man rợ phục vụ mục đích nghiên cứu khả năng hạ thân nhiệt. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Mỹ.)

Và đây là vấn đề. Vì những lý do rõ ràng, không có bác sĩ nào kể từ sau những năm 1940 thực hiện các thí nghiệm tương tự. Ví dụ, một bác sĩ nghiên cứu về hiện tượng hạ thân nhiệt vào những năm 1990 đã cho rằng ông không thể hạ nhiệt độ cơ thể của con người xuống quá 34°C về mặt đạo đức; và bất cứ nghiên cứu nào dưới mức đó đều là phỏng đoán. Do đó, dữ liệu của Đức Quốc xã là dữ liệu duy nhất mà chúng ta có trong một số trường hợp hồi sinh những người trong tình trạng nguy kịch. Đó là một vấn đề, bởi dữ liệu của Đức Quốc xã đôi khi mâu thuẫn với hiểu biết y học hiện đại. Với tình trạng hạ thân nhiệt, người ta thường cho rằng mọi người nên được làm ấm từ từ, bằng thân nhiệt của chính mình, bằng cách quấn họ trong chăn hoặc thứ gì đó. Các bác sĩ cảm thấy cách tiếp cận chậm rãi này giúp tránh sốc và chảy máu trong[*]. Nhưng các bác sĩ Đức Quốc xã phát hiện ra rằng, việc làm ấm thụ động như vậy không hiệu quả. Làm ấm người nhanh chóng và tích cực trong nước nóng đã cứu được nhiều mạng sống hơn.

Vì vậy, các bác sĩ hiện đại có nên bỏ qua phát hiện đó vì tính chất phi đạo đức của dữ liệu? Hãy tưởng tượng một người thân yêu của bạn – đứa con bé bỏng – rơi xuống lớp băng lạnh giá trên dòng sông. Bạn kéo cô bé ra khỏi mặt nước, nhưng cô bé gần như đã ngưng thở. Cô bé có đôi môi xanh xao và nhiệt độ cơ thể đã giảm xuống dưới 33°C. Bạn sẽ chọn phương pháp hồi sinh nào? Phương pháp có đạo đức nhưng lý thuyết, dựa trên phỏng đoán? Hay phương pháp man rợ của Đức Quốc xã nhưng dựa trên dữ liệu thực tế?

Bạn có thể đưa ra các lập luận tương tự trong các trường hợp khác. Trên thực tế, một số bác sĩ cho rằng cứu sống được nhiều mạng người ngày nay là kết quả tốt đẹp nhất biện minh cho sự hy sinh của nạn nhân. Và trong khi một số nhà quan sát vẫn còn đặt câu hỏi về chất lượng dữ liệu của Đức Quốc xã (vì chúng chưa từng được khảo cứu đồng đẳng), tuy nhiên trong nhiều trường hợp, các nhà nghiên cứu Đức là những chuyên gia được quốc tế công nhận, những người biết họ đang làm gì và thiết lập các thí nghiệm của họ một cách cẩn thận. Ví dụ, thông thường bạn không nên uống nước biển. Do đó, các nhà khoa học Đức lo ngại rằng việc ép các tù nhân uống nước biển sẽ gây ra căng thẳng và các phản ứng tâm thần khác, từ đó làm ảnh hưởng đến kết quả của họ. Đáp lại, các nhà nghiên cứu đã giảm bớt mùi vị của nước biển, khiến nó có vẻ ít mặn hơn. Điều này cho phép họ tách riêng các tác động sinh lý của nước biển. Điều đó thật dối trá và xấu xa, nhưng lại mang tính khoa học.

Chắc chắn sẽ có những lập luận mạnh mẽ chống lại việc sử dụng dữ liệu của Đức Quốc xã, cả về mặt thực tế và đạo đức. Với nghiên cứu về nước đá, các tù nhân thường ốm yếu và hốc hác, vì vậy các phương pháp điều trị phục hồi không thành công với họ vẫn có thể hiệu quả với những người khỏe mạnh. Việc sử dụng dữ liệu cũng có thể ngầm bào chữa cho những hành vi tàn bạo. Thiết nghĩ, chúng ta không nên cho phép sử dụng các kết quả y tế được thu thập không chính xác, giống như việc các tòa án hình sự cho phép sử dụng bằng chứng do những viên cảnh sát dối trá thu giữ được.

Hiệp hội Y khoa Mỹ cùng một số hiệp hội y khoa khác từng nói rằng, việc sử dụng dữ liệu này có thể phù hợp về mặt đạo đức trong một số trường hợp nhất định, với điều kiện là không còn cách nào khác để thu thập thông tin và bất kỳ ai trích dẫn nghiên cứu của Đức Quốc xã đều nói rõ rằng hành vi tàn ác đã diễn ra. Nhấn mạnh sự tàn bạo thậm chí có thể giúp nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không xa rời sự dã man như chúng ta vẫn nghĩ.

Cuối cùng, 16 bác sĩ của Đức Quốc xã đã bị kết án vì tội ác chiến tranh tại Phiên tòa xét xử các bác sĩ ở Nuremberg sau Thế chiến II, và 7 người bị treo cổ. Trong quá trình thử nghiệm, các bác sĩ và luật sư người Mỹ đã xây dựng 10 nguyên tắc đạo đức để nghiên cứu đối tượng con người, ngày nay được gọi là Luật Nuremberg. Không giống như lời thề Hippocrates, Luật Nuremberg nhấn mạnh quyền của bệnh nhân. Bệnh nhân phải đồng ý tham gia và bác sĩ cần thực hiện các bước để giảm thiểu đau đớn và cảnh báo họ về các tác dụng phụ và nguy hiểm có thể xảy ra. Hơn nữa, luật này tuyên bố rằng các bác sĩ chỉ có thể thực hiện các thí nghiệm trên con người nếu có nhu cầu y tế thực sự và chỉ khi có lý do chính đáng để cho rằng thí nghiệm sẽ thành công.

Theo một cách nào đó, Luật Nuremberg là một bước đột phá trong lịch sử y học. Nó biến đạo đức trở thành một phần không thể xóa nhòa của y học, và 75 năm sau, nó vẫn chi phối nghiên cứu về các đối tượng con người trên toàn cầu. Tuy nhiên, theo những khía cạnh khác, bộ luật này có rất ít tác động tức thì ở các nước Đồng minh. Tất nhiên, bác sĩ ở những quốc gia đó không phản đối nó, nhưng họ coi nó là thứ không liên quan. Họ nghĩ chỉ có những kẻ bệnh hoạn mới có hành vi lạm dụng. Không có bác sĩ nào ở một quốc gia văn minh cần một bộ luật như vậy.

Cơ Năm 1932, một số bác sĩ da trắng làm việc cho quan Y tế Cộng đồng của chính phủ Mỹ đã đến Tuskegee, Alabama, để nghiên cứu bệnh giang mai giai đoạn cuối ở 400 người đàn ông da đen. Hầu hết chúng ta đều nghĩ bệnh giang mai là một bệnh sinh dục, nhưng nếu không được điều trị, vi khuẩn xoắn gây ra nó có thể xâm nhập vào gần như mọi mô trong cơ thể, bao gồm cả tim và não. Các bác sĩ tại Cơ quan Y tế Cộng đồng muốn nghiên cứu những ảnh hưởng lâu dài của loại vi khuẩn tấn công này.

– CƠ quan Y tế Cộng đồng đã chọn Tuskegee vì một số lý do. Thứ nhất, các quận xung quanh có tỷ lệ lây nhiễm cao đáng báo động, lên đến 40% ở một số khu vực. Thứ hai, dân số chủ yếu là người da đen, và các nghiên cứu trước đây cho rằng bệnh giang mai ảnh hưởng đến người da đen khác với người da trắng; ví dụ, người da đen dường như mắc nhiều bệnh tim liên quan đến giang mai hơn, nhưng ít biến chứng thần kinh hơn. Các nhà y học Y tế Cộng đồng muốn xác định xem những phát hiện đó có đúng hay không. Thứ ba, với tư cách là những kiểu chính phủ trượng nghĩa – nhiều người đã hy sinh sự nghiệp sinh lợi ở lĩnh vực tư nhân để làm việc trong lĩnh vực y tế công cộng – những nhân viên y tế cộng đồng chân thành muốn giúp đỡ cộng đồng bị áp bức này. Và rõ ràng, nhiều người da đen trong cộng đồng đã chào đón sự hiện diện của họ. Đây là nguyên nhân của thời kỳ suy thoái, và mọi thứ ở Tuskegee thật tồi tệ. Một đợt xâm nhập của loài một ngũ cốc đã xóa sổ vụ bông năm trước và chính quyền quận gần đây đã đóng cửa mọi trường học công lập. Khi không có tiền để chăm sóc sức khỏe, sự xuất hiện của các bác sĩ y tế cộng đồng và những lời hứa của họ về sức khỏe miễn phí, chụp X-quang miễn phí và điều trị các bệnh về máu miễn phí là một ơn trời ban.

Chắc chắn một số người Tuskegee không tin tưởng các bác sĩ. “Những người da trắng cũng bị bệnh giống như chúng tôi”, một bệnh nhân đã nghĩ. Vậy tại sao Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ không thực hiện các nghiên cứu song song trong các cộng đồng da trắng? Tuy nhiên, hầu hết các nhà lãnh đạo địa phương đều ủng hộ nghiên cứu này. Viện Tuskegee nổi tiếng đã tiến hành các cuộc kiểm tra y tế để giúp đỡ, và một bác sĩ da đen trong thị trấn, người cũng tích cực trong phong trào dân quyền, đã kêu lên: “Kết quả của nghiên cứu này sẽ được cả thế giới săn đón.”

Nghiên cứu bắt đầu vào năm 1932 với các xét nghiệm thể chất và máu trên tất cả 400 người đàn ông. Các bác sĩ sau đó quay lại vài năm một lần để theo dõi họ. Đôi khi việc theo dõi bao gồm việc đưa những người đàn ông từ nhà đến phòng khám. Đôi khi các bác sĩ khám ngoài trời, quy tụ những người đàn ông này đến dưới bóng cây bên cạnh cánh đồng và lấy một ít máu. Sau đó, các bác sĩ so sánh 400 người đàn ông này với hai 200 người đối chứng không bị nhiễm bệnh, để nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh giang mai đối với sức khỏe của họ.

Một điểm đáng chú ý là những người đàn ông trong nghiên cứu đã mắc bệnh giang mai trước khi Cơ quan Y tế Cộng đồng xuất hiện. Ngày nay, nhiều người tin rằng những người đàn ông này từng rất khỏe mạnh và chính các bác sĩ đã tiêm nhiễm bệnh giang mai vào cơ thể họ, điều này không đúng. Nhưng những gì các bác sĩ đã làm – để bệnh giang mai âm ỉ không được điều trị, đôi khi trong nhiều thập kỷ – thực sự kinh khủng.

Chúng ta có lý do để biện hộ cho việc các bác sĩ đã không điều trị bệnh giang mai vào năm 1932 đó. Việc điều trị tiêu chuẩn sau đó liên quan đến các loại thuốc được tẩm thạch tín và thủy ngân. (Như người ta từng nói, bệnh giang mai là “một đêm với sao Kim, suốt đời với sao Thủy”.) Vì vậy, ngộ độc kim loại nặng là một mối quan tâm thực sự. Thêm vào đó, tiêu diệt vi khuẩn giang mai bất hoạt thường khiến chúng bùng phát và tràn ngập toxin trong cơ thể (còn được gọi là phản ứng Jarisch-Herxheimer). Đôi khi tốt hơn là để cho bệnh giang mai bất hoạt nằm yên.

Một bác sĩ của Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ lấy máu từ cánh tay của một bệnh nhân trong nghiên cứu về bệnh giang mai Tuskegee khét tiếng ở Alabama. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Mỹ.)

Tuy nhiên, sự xuất hiện của penicillin vào những năm 1940 đã thay đổi mọi thứ – hoặc ít nhất có lẽ là như vậy. Penicillin ít độc hại hơn nhiều so với các phương pháp điều trị trước đó và có thể chữa khỏi bệnh giang mai chỉ trong 8 ngày (điều trị bằng thạch tín và thủy ngân mất 18 tháng).

Tuy nhiên, ngay cả sau khi penicillin được phổ biến rộng rãi vào những năm 1950, các bác sĩ y tế cộng đồng vẫn từ chối điều trị cho những người đàn ông ở Tuskegee bằng loại thuốc này. Tại sao? Bởi họ đang nghiên cứu tác động lâu dài của bệnh giang mai và việc chữa khỏi bệnh cho những người đàn ông này sẽ hạn chế kết quả nghiên cứu của họ.

Tất nhiên, các bác sĩ y tế cộng đồng không nhìn nhận mọi thứ theo cách đó. Họ coi nghiên cứu của mình là hành vi có đạo đức. Đúng, những người đàn ông ở Tuskegee có thể bị tổn thương, họ thừa nhận, nhưng công chúng nói chung sẽ được hưởng lợi từ kiến thức thu được. Họ đóng khung sự đau khổ trong cái mác hy sinh cao cả – dù không giải thích lý do tại sao chỉ những người đàn ông da đen mới nên hy sinh vì điều đó. Trong khi đó, các bác sĩ y tế cộng đồng khác lại tập trung vào những bí ẩn sinh học của bệnh giang mai đến nỗi quên mất những người đàn ông đó là con người. Như một bệnh nhân Tuskegee từng nói, những người đàn ông này không khác gì đám “chuột lang” đối với họ. Một bác sĩ thậm chí đã cố ngăn chặn việc xuất bản các bài báo về penicillin vì loại thuốc này xóa sổ bệnh giang mai quá nhanh so với ý muốn của ông ta, khiến ông ta mất đi cơ hội quan sát toàn bộ diễn biến của bệnh. (“Ý tưởng của tôi về thiên đường,” ông ta từng nói, “là bệnh giang mai không giới hạn và cơ sở vật chất không giới hạn để điều trị nó.”) Nỗi ám ảnh của ông ta về việc giải quyết những “câu đổ” về bệnh giang mai đã khiến ông ta mù quáng trước thực tế rằng, trong khi nghiên cứu y học thực sự có thể khám phá một số bí ẩn hấp dẫn, tuy nhiên quan điểm của y học không phải là để thỏa mãn trí tò mò. Y học là để chữa bệnh cho mọi người.

Hơn nữa, các bác sĩ tại Cơ quan Y tế Cộng đồng này liên tục nói dối những người tham gia thử nghiệm để cuộc nghiên cứu diễn ra suôn sẻ hơn. Đôi khi đây là những lời nói dối bỏ qua: Để khiến những người tham gia thử nghiệm tìm cách điều trị ở nơi khác, các bác sĩ không bao giờ nói với hầu hết bọn họ rằng họ đang mắc bệnh giang mai. (Tốt nhất thì họ cũng chỉ nói rằng những người này bị “máu xấu”.) Cũng có những lời nói dối cố ý tạo ra thông tin sai lệch. Một số người đã biết mình mắc bệnh giang mai, vì vậy, các bác sĩ đã dụ họ đến các phòng khám với lời gian dối lừa lọc: Qua những lá thư, họ hối thúc những người đàn ông này hãy nhanh lên nếu không các anh sẽ bỏ lỡ “cơ hội đặc biệt cuối cùng để được điều trị miễn phí”. Nhưng thay vì cung cấp phương pháp điều trị, họ sẽ tiến hành các thử nghiệm giả hoặc thực hiện phương pháp chọc dò thắt lưng đầy đau đớn và nói với người tham gia thử nghiệm rằng họ đang tiêm thuốc cho đối phương.

Ngoài sự dối trá và thờ ơ, nghiên cứu còn thất bại về mặt khoa học – được coi là một vấn đề đạo đức. Máu được lấy trong cái nóng gay gắt của Alabama thường bị hỏng và các phương pháp phát hiện bệnh giang mai không nhất quán đến mức các bác sĩ thậm chí không thể khẳng định chắc chắn liệu một số nam giới có mắc bệnh hay không. Hơn nữa, phân tích dữ liệu thường có chất lượng rất kém. Một số đối chứng mắc bệnh giang mai sau một vài năm nghiên cứu; tương tự, một số nam giới mắc giang mai hoặc được điều trị bởi các bác sĩ bên ngoài hoặc dùng penicillin trị các bệnh nhiễm trùng không liên quan, có khả năng khỏi được giang mai. Nhưng thay vì loại bỏ những trường hợp này khỏi nghiên cứu, các bác sĩ tại Cơ quan Y tế Cộng đồng đã hoán đổi những người đàn ông này qua lại giữa nhóm giang mai và nhóm đối chứng – một điều không thể chấp nhận được. Nói chung, sự cẩu thả về mặt khoa học đã khiến kết quả của nghiên cứu trở nên vô dụng và lẽ ra đã làm mất uy tín của nó.

Bây giờ, sau tất cả những đau khổ ở Tuskegee, thật ngớ ngẩn khi cứ nói mãi về phân tích dữ liệu. Nhưng nhiều nhà đạo đức sinh học lập luận rằng, trong y học, khoa học cẩu thả là khoa học phi đạo đức. Thiết kế một thí nghiệm vật lý khủng khiếp và bơm hút chân không khô hoặc bất cứ thứ gì là một chuyện. Không có ai thực sự bị hại khi làm thế. Nhưng nếu định đề nghị mọi người chịu đựng đau đớn để nghiên cứu y học thì bạn có nghĩa vụ thiết kế một thử nghiệm đúng đắn. Nếu không, dữ liệu sẽ vô dụng và nỗi đau trở nên vô ích. Các phần của Bộ luật Nuremberg nhấn mạnh vào thiết kế thử nghiệm vì lý do đó.

Tất cả những điều đó cho thấy thí nghiệm ở Tuskegee là phi đạo đức ở nhiều cấp độ. Các nạn nhân không chỉ bao gồm những người đàn ông không được điều trị. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh giang mai giai đoạn cuối không lây, nhưng bệnh án lại nói rõ rằng ít nhất đã có một số người đã bị nhiễm bệnh. Bằng việc không cho những người đàn ông biết họ mắc bệnh – hoặc tệ hơn, tuyên bố một cách gian dối là họ đã khỏi bệnh – các bác sĩ đã làm tăng đáng kể nguy cơ lây lan bệnh cho vợ hoặc bạn tình khác của họ. Một số nhà khoa học da đen có liên quan đến nghiên cứu cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Hãy xem xét trường hợp của Eunice Rivers.

Rivers sinh ra ở đông nam Georgia vào khoảng năm 1900 và nổi tiếng là người thù ghét phân biệt chủng tộc. Khi bà còn trẻ, một người đàn ông da đen ở quê bà đã giết một cảnh sát da trắng để tự vệ và bỏ trốn, được cho là nhờ sự giúp đỡ của cha bà. Để đáp trả điều đó, những nhân viên an ninh da trắng đã cưỡi la đến nhà Rivers và bắn vào ô cửa sổ nhà họ; một viên đạn suýt găm trúng và có thể giết chết Rivers. Cuối cùng, bà đã rời khỏi được thị trấn ấy vào năm 1918 bằng cách đăng ký học tại Viện Tuskegee. Lúc đầu, bà muốn học thủ công (chương trình thủ công của trường rất mạnh), nhưng cha khuyên bà theo học khoa học. Cuối cùng, bà đã trở thành một y tá và một nữ hộ sinh với chuyên ngành chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đến trực tiếp từng nhà để vận động và cung cấp các biện pháp vệ sinh cho các bà mẹ tương lai như trải vải sạch hoặc báo trên giường của họ để đảm bảo việc sinh nở hợp vệ sinh.

Y tá Eunice Rivers từng là liên lạc viên chủ chốt của cộng đồng da đen trong quá trình nghiên cứu bệnh giang mai tại Tuskegee, sau đó đã bị lên án vì vai trò của bà trong quá trình đó. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Mỹ.)

Dù đây là một công việc có ý nghĩa, tuy nhiên Rivers luôn khao khát được thoát khỏi Jim Crow Alabama, và khi nhận được lời đề nghị vào năm 1932 để trở thành quản lý ca trực tại một bệnh viện ở New York, bà đã quyết định nhận lời. Sau đó, bà đã nghe nói về nghiên cứu bệnh giang mai. Các bác sĩ da trắng cần một liên lạc viên trong cộng đồng da màu, và Cơ quan Y tế Cộng đồng đề nghị bà làm trợ lý khoa học. Cơ hội tham gia một nghiên cứu thực sự đã khiến bà tò mò và rất háo hức muốn tạo ra sự khác biệt trong cộng đồng của mình nên bà đã quyết định từ chối công việc ở New York.

Rivers gần như đảm nhiệm mọi vai trò có thể có trong quá trình nghiên cứu. Bà đã giúp tìm kiếm những người đàn ông tham gia thử nghiệm, trò chuyện với họ tại các nhà thờ và trường học. Bà duy trì sự tham gia của họ bằng cách lưu địa chỉ của họ, và định kỳ lái chiếc Chevey hai cửa của mình đưa họ đi kiểm tra sức khỏe. (Rivers reo lên thích thú trước những câu chuyện ngớ ngẩn mà họ kể cho bà nghe trên đường; họ còn sẵn sàng đẩy xe của bà bất cứ khi nào nó bị sa lầy.) Bà thậm chí còn tự tay giao những giỏ thức ăn và quần áo cho những người tham gia thử nghiệm. Nhìn chung, bà là người thực sự không thể thiếu trong nghiên cứu, và bà được chính phủ Mỹ tặng thưởng huy chương vào năm 1958, điều mà bà vô cùng tự hào. Năm 1953, bà cũng là tác giả đầu tiên của một bài báo khoa học phác thảo các phương pháp nghiên cứu được sử dụng, một thành tích hiếm có đối với một phụ nữ da đen khi đó.

Tất cả những điều đó cho thấy Rivers cũng thực hiện vài điều đáng ngờ trong cuộc nghiên cứu. Những giỏ quần áo và thực phẩm chắc chắn đã giúp những người tham gia thử nghiệm sống qua ngày, xong đó cũng là một khoản hối lộ trá hình để giữ chân thọ trong cuộc nghiên cứu. Tệ hơn, như một bác sĩ địa phương nhớ lại, bà không khuyến khích – thậm chí ngăn cản – những người tham gia thử nghiệm tiếp nhận điều trị[*] bệnh giang mai ở những địa điểm khác, nhằm mục đích bảo đảm tính toàn vẹn của nghiên cứu. Về mặt nào đó, bà ấy thực hiện các hành vi tệ hại đó không khác gì các bác sĩ điều hành cuộc thí nghiệm.

Tuy nhiên, Rivers đã có những nỗ lực ít ỏi nhằm tạm dừng nghiên cứu. Năm 1955, một bác sĩ da trắng đã viết thư cho Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ, lập luận rằng “[công việc] không thể được biện minh dựa trên bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nào được chấp nhận: Pagan giáo (lời thề Hippocrate), tôn giáo (Maimonides, Nguyên tắc vàng), hoặc lĩnh vực chuyên môn (Bộ Quy tắc Đạo đức của Hiệp hội Y học Mỹ)”. Các quan chức Cơ quan Y tế Cộng đồng đã phớt lờ ông. Năm 1969, một nhóm bác sĩ da đen đã gửi các bài xã luận lên tờ New York Times và Washington Post để tố cáo nghiên cứu này, nhưng các biên tập viên của cả hai tờ báo đều nhún vai từ chối – bài xã luận có vẻ không đáng tin. Các nhà khoa học cũng không quan tâm. Các bác sĩ thuộc Cơ quan Y tế Cộng đồng đã xuất bản 13 bài báo riêng biệt về nghiên cứu trong suốt bốn thập kỷ và không cố che giấu những gì họ đang làm. Ví dụ, dòng đầu tiên trong bài báo của Rivers đề cập đến “bệnh giang mai không được điều trị”. Thật vậy, đó có lẽ là điều tai tiếng nhất về Tuskegee: mọi thứ đều được phô bày trước công chúng nhưng không có nhân vật quyền lực nào quan tâm đến điều đó.

Dù người ta nói rằng không gì bị che giấu, song nhận định cho rằng nghiên cứu được “phơi bày” vào năm 1972 là không hoàn toàn chính xác. Nhưng năm đó, một trong những người tố giác đã tố cáo nghiên cứu này – một thành viên của Đảng Cộng hòa tự do kiêm thành viên Hiệp hội Súng trường Quốc gia – cuối cùng đã thuyết phục được một phóng viên của Associated Press tìm hiểu về nghiên cứu. Khi câu chuyện của bà ta xuất hiện vài tháng sau, mọi thứ đã bùng nổ. Hàng trăm tờ báo và đài truyền hình đã lao vào tìm kiếm thông tin nghiên cứu này, và Thượng viện Mỹ đã triệu tập các quan chức tại Cơ quan Y tế Cộng đồng đến các Y phiên điều trần để tra khảo họ. Giám đốc Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh (đã tiếp nhận nghiên cứu từ Cơ quan Y tế Cộng đồng) thậm chí còn bị các nhà hoạt động làm hình nộm và treo chúng lên ở tư thế treo cổ.

Công bằng mà nói, phần lớn những tội lỗi tại Tuskegee đều xuất phát từ các bác sĩ da trắng, những người khởi xướng nghiên cứu và từ chối điều trị cho người tham gia. Nhưng Eunice Rivers cũng bị tấn công. Khi những câu chuyện thù địch xuất hiện lần đầu tiên, bà đã khóc nức nở, và sự soi mói của giới truyền thông khiến bà phải nhập viện vì căng thẳng. Nhiều người mắng chửi bà, như một nhà sử học từng nói, là một “kẻ phản bội chủng tộc trung lưu” hoặc một kẻ ngu ngốc “không bao giờ thực sự hiểu rằng việc bà ta chọn các bác sĩ da trắng thay vì những người đàn ông da đen sẽ hủy hoại đạo đức của bà ta như thế nào”. Một chút thông tin về “việc lựa chọn các bác sĩ da trắng” đang được tiết lộ. Rivers không muốn làm hại đồng bào của mình; nhiều người coi bà là người mẹ thứ hai, và những gói chăm sóc của bà giúp họ vượt qua những thời điểm tuyệt vọng. Nhưng là một phụ nữ da đen ở vùng nông thôn Alabama, toàn bộ sự nghiệp khoa học của bà phụ thuộc vào việc tiếp tục nghiên cứu và việc bà tiếp cận với các bác sĩ Y tế Cộng đồng. Nếu bà thách thức họ vì lý do đạo đức trong công việc họ đang thực hiện, họ gần như chắc chắn sẽ cắt đứt quan hệ với bà.

Các nghiên cứu điển hình về đạo đức sinh học thường ở dạng nói quá. Nghiên cứu y học của Đức Quốc xã là một ví dụ hoàn hảo: Có những kẻ thủ ác gây phẫn nộ và những nạn nhân vô tội, nên đương nhiên chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng tức giận, và cảm giác đó không quá khó hiểu. Các bác sĩ Cơ quan y tế Cộng đồng không phải là những kẻ tà ác như Đức Quốc xã, nhưng họ đã lấn quá sâu vào phe tội lỗi. Trường hợp của Rivers khó xác định hơn. Bà bị mắc kẹt giữa đồng bào và nguyện vọng của bản thân, và bà cùng gia đình của mình đã phải vật lộn chịu đựng những việc làm của bà cho đến tận ngày bà qua đời hoặc thậm chí lâu hơn thế. Trong suốt quá trình nghiên cứu, bà được biết đến với tên gọi Y tá Rivers, dù đã kết hôn vào năm 1952 và chính thức trở thành Eunice Verdell Rivers Laurie. Nhưng khi Rivers qua đời vào năm 1986, chồng bà đã che giấu danh tính của bà một cách hiệu quả bằng cách chỉ ghi “Eunice V. Laurie” trên tấm bia mộ.

Nửa thế kỷ trước, cái tên Tuskegee đã khiến người da đen tự hào. Rosa Parks ra đời tại nơi đó. George Washington Carver đã nỗ lực hết sức ở Viện Tuskegee, nơi Booker T. Washington thành lập. Những người lính không quân Tuskegee là một trong những người lính dũng cảm nhất trong Thế chiến II. Sau đó, Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ đã tràn vào và làm vấy bẩn cái tên của thành phố. Và một lần nữa, dù không có bằng chứng nào cho thấy các bác sĩ thuộc Cơ quan Y tế Cộng đồng đã lây nhiễm bệnh giang mai cho bất kỳ ai, nhưng niềm tin đó vẫn tồn tại trong nhiều người Mỹ da đen ngày nay. (Nó thậm chí còn di căn thành các căn bệnh khác: một cuộc khảo sát vào những năm 1990 cho thấy hơn một phần ba người da đen tin rằng chính phủ Mỹ đã tạo ra HIV trong phòng thí nghiệm để thực hiện tội ác diệt chủng trong cộng đồng da đen.) Đáng buồn nhưng có thể hiểu được, nghiên cứu Tuskegee tiếp tục làm suy yếu sức khỏe cộng đồng. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, thay vì nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ, nhiều người trong cộng đồng da đen thích bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo về bệnh tiểu đường, bệnh tim và các bệnh khác cho đến khi quá muộn.

Nhưng vấn đề là, quan điểm về việc các bác sĩ y tế cộng đồng này cố tình lây nhiễm các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) không phải là không có căn cứ. Trên thực tế, một trong những bác sĩ của Tuskegee, John Cutler, đã làm điều đó. Không phải ở Alabama, mà xa hơn về khu vực phía nam – Guatemala.

Trước khi đến Guatemala, chúng ta có thể sẽ thấy hữu ích khi tìm hiểu về một người cùng thời với John Cutler. Bác sĩ này là một chiến binh trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Ông đã đến Haiti và Ấn Độ trong sự nghiệp của mình và làm việc không mệt mỏi để cải thiện khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe phụ nữ ở cả hai quốc gia. Ông sắp xếp học bổng cho các bác sĩ phụ khoa và bác sĩ sản khoa ở các quốc gia đang phát triển sang Mỹ đào tạo, để họ có thể trở về quê hương và cứu sống phụ nữ. Ông cũng lên án sự hoang mang về đạo đức xung quanh căn bệnh thế kỷ AIDS trong những năm 1980, và cố gắng xóa bỏ việc coi những người đồng tính nam là bệnh nhân bị quỷ hóa. Chúng ta sẽ quay lại với bác sĩ này trong phần sau, nhưng ông đáng được ghi nhớ như một đối tác đầy phẩm hạnh với John Cutler ở Guatemala.

Sau khi tốt nghiệp trường y ở Cleveland vào đầu những năm 1940, Cutler gia nhập Cơ quan Y tế Cộng đồng và bắt đầu nghiên cứu vấn đề cấp bách đáng ngạc nhiên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) trong quân đội. Bệnh lây truyền qua đường tình dục luôn là một vấn đề nhức nhối trong quân đội (“kiểm tra bộ phận dưới” là một hoạt động thường xuyên tại đây), nhưng con số lây lan trong Thế chiến II bùng nổ đến mức khiến người ta kinh sợ. Các bác sĩ ước tính rằng, quân đội Mỹ sẽ mất 7 triệu ngày công lao động vì các căn bệnh STD mỗi năm, một tổn thất lao động tương đương với việc cho quân nhân của 10 tàu sân bay nghỉ làm ở nhà. Sau đó, một số loại thuốc dự phòng bằng hóa chất đã được sản xuất để ngăn ngừa nhiễm trùng, nhưng chúng phải được bơm vào bên trong niệu đạo của nam giới, một quá trình gây nôn mửa khó chịu. Nhiều quân lính đã từ chối điều trị và chấp nhận mọi nguy cơ có thể phải đối mặt.

Bác sĩ John Cutler, người đã chỉ đạo các thí nghiệm STD khét tiếng ở Guatemala vào những năm 1940 thay mặt cho Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ. (Được sự cho phép của Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ.)

Tuy nhiên, đến năm 1943, các bác sĩ quân đội đã phát triển hai loại thuốc dự phòng mới – một loại thuốc viên để uống và một loại thuốc mỡ bôi bên ngoài dương vật. Cutler đã thiết kế một thử nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả của chúng. Nó liên quan đến việc khiến 241 tù nhân không mắc bệnh ở Terre Haute, Indiana bị nhiễm bệnh lậu và xem liệu thuốc viên hoặc thuốc mỡ có ngăn được nhiễm trùng hay không. Cutler chọn Terre Haute bởi đây là một thành phố lớn trong một vùng đầy mỏ than, xung quanh có rất nhiều thợ câu với những vết loét do bệnh lậu gây ra, và ông có thể lấy dịch mủ dễ dàng.

Không giống như Tuskegee, các tù nhân được thông tin đầy đủ về những gì sẽ xảy ra. Tất cả họ đều ký giấy miễn trừ, bằng ngôn từ đơn giản, tiết lộ các nguy cơ phơi nhiễm, và đều được hứa hẹn điều trị nếu việc điều trị dự phòng không thành công. Các tù nhân đồng ý để bị nhiễm bệnh lậu vì họ được trả 100 đô la mỗi người (1.500 đô la ngày nay), và các bác sĩ sẽ gửi thư khen ngợi họ tới hội đồng ân xá. Họ cũng thuộc nhóm nguy cơ cao. Không giống như những người đang tại ngoại, họ không thể tham gia quân đội và chiến đấu trực tiếp với Đức và Nhật Bản. Nhưng như Cutler ranh mãnh đã chỉ ra, họ vẫn có thể đóng góp công sức bằng cách tham gia nghiên cứu của ông và giúp toàn thể quân đội không bị nhiễm bệnh tật. Ngày nay, các quy tắc đạo đức cấm sử dụng tù nhân trong nghiên cứu y tế vì họ là một nhóm dân số dễ bị tổn thương: họ bị giam giữ biệt lập và có khả năng bị lạm dụng, đồng thời việc treo miếng mồi “ân xá” ngay trước mắt họ là động lực sẽ gia tăng khả năng đồng ý tham gia thử nghiệm của họ. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, sử dụng tù nhân là việc làm phổ biến và không thể kiểm soát. Nó thậm chí còn có một số lợi thế về mặt khoa học: các tù nhân sống tập trung, giúp các nhà nghiên cứu loại bỏ được yếu tố khác biệt về môi trường, dẫn đến dễ theo dõi cũng như kiểm tra. Tóm lại, Cutler đã thiết kế một nghiên cứu thỏa mãn về mặt đạo đức theo các tiêu chuẩn của những năm 1940.

Giá mà khoa học luôn diễn ra suôn sẻ như vậy. Kế hoạch nghiên cứu của Cutler bao gồm hai bước. Đầu tiên, ông sẽ bôi mủ bệnh lậu lên dương vật của một số nam giới không dùng thuốc dự phòng và đo lường tỷ lệ phần trăm mắc bệnh theo cách đó. Điều này sẽ thiết lập một tỷ lệ lây nhiễm cơ bản. Trong giai đoạn hai, ông sẽ bôi mủ lên những người đàn ông đã được điều trị trước bằng thuốc dự phòng và đo tỷ lệ phần trăm mắc bệnh lậu trong nhóm này. Nếu tỷ lệ phần trăm trong nhóm thứ hai thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ phần trăm ban đầu, thì có nghĩa là thuốc dự phòng có tác dụng.

Thật không may, Cutler không bao giờ vượt qua được bước đầu tiên. Ông đã dành vài tháng để bôi mủ bệnh lậu lên dương vật nhưng những người tham gia không thể mắc bệnh theo cách đó để được chữa trị. Không thể xác định tỷ lệ lây nhiễm ban đầu, nghiên cứu đã kết thúc. Vào giữa năm 1944, sau mười tháng vô ích, Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ chấm dứt nghiên cứu trước sự thất vọng lớn của Cutler.

Tuy nhiên, với sự phổ biến của bệnh giang mai trong quân đội, Cutler có cơ hội thứ hai. Đến năm 1946, ông chuyển đến một văn phòng Y tế Cộng đồng trên Đảo Staten, nơi ông gặp bác sĩ Juan Funes. Funes đã ở đó trên tinh thần quan hệ cộng tác; ông thường làm việc cho văn phòng y tế cộng đồng của chính phủ Guatemala. Hai người bắt đầu nói chuyện, và khi Funes nghe tin về thất bại trong nghiên cứu Terre Haute, ông đã đề nghị Cutler đến thăm Guatemala và tiếp tục công việc với các tù nhân ở đó. Funes đã làm điều này vì một lý do – tiền. Guatemala gần đây đã thoát khỏi ách thống trị của United Fruit Company, công ty đã điều hành đất nước như một thuộc địa cá nhân của họ trong nhiều thập kỷ, một nước cộng hòa chuối theo đúng nghĩa đen. Quốc gia non trẻ này đang phải vật lộn để đứng lên, và cũng giống như ở Tuskegee, nguồn tiền dành cho sức khỏe cộng đồng rất eo hẹp. Việc Luring Cutler đến Guatemala sẽ kéo theo sự xuất hiện của các bác sĩ Mỹ phục vụ công tác đào tạo nhân sự cùng nguồn tiền mua sắm trang thiết bị.

Cutler cũng thích đề xuất này. Một lỗ hổng lớn trong nghiên cứu Terre Haute là phương pháp phơi nhiễm nhân tạo – bôi mủ lên dương vật. Bệnh lậu thường lây truyền khi quan hệ tình dục, và ông lập luận rằng điều gì đó liên quan đến hành vi quan hệ tình dục có thể làm lây lan bệnh dễ dàng hơn. May mắn thay, mại dâm là hoạt động hợp pháp ở Guatemala, ngay cả đối với tù nhân. Những người phụ nữ chỉ cần đi kiểm tra sức khỏe tại các phòng khám công là được – và thật tình cờ khi Funes là người điều hành những phòng khám đó. Ông nói với Cutler rằng Cutler có thể sàng lọc phụ nữ ở đó để tìm ra những người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và đưa họ đến nhà tù để triển khai nghiên cứu. Cutler sau đó có thể thực hiện nghiên cứu cơ bản tương tự ở Terre Haute, ngoại trừ việc phương pháp tiếp xúc, quan hệ tình dục, sẽ tự nhiên hơn nhiều.

Dẫu cho có nhiều điểm tương đồng với Terre Haute, nghiên cứu ở Guatemala cũng khác biệt ở một số khía cạnh chính. Có điều, lúc đó penicillin đã xuất hiện trên thị trường, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải thay đổi quy trình. Thay vì dùng thuốc mỡ dự phòng ban đầu, lần này Cutler sẽ trộn một hỗn hợp sệt gồm penicillin, sáp ong và dầu lạc rồi bôi lên dương vật của nam giới. Funes và Cutler cũng quyết định mở rộng đối tượng không chỉ bao gồm tù nhân mà còn cả binh lính trong quân đội Guatemala và bệnh nhân tâm thần. Tương tự, họ quyết định chuyển hướng nghiên cứu không chỉ bệnh lậu mà cả bệnh giang mai và hạ cam mêm (chancroid – săng).

Nhưng sự khác biệt lớn nhất giữa hai nghiên cứu – và cũng là yếu tố đẩy công trình này vào con đường khoa học tội lỗi – là các bác sĩ quyết định không cho binh lính, tù nhân và bệnh nhân tâm thần biết họ bị nhiễm bệnh lây qua đường tình dục. Thay vào đó, họ thực hiện việc này một cách bí mật. Theo một bác sĩ y tế cộng đồng thì việc cố gắng giải thích yếu tố khoa học đằng sau nghiên cứu này sẽ chỉ khiến những đối tượng tham gia thêm “mơ hổ”, đặc biệt khi thổ dân da đỏ chiếm đa số tù nhân. Trên thực tế, cũng giống như ở Tuskegee, Cutler và các cộng sự không chỉ che giấu sự thật mà còn tích cực nói dối bệnh nhân, giành được sự hợp tác của họ bằng cách tuyên bố cung cấp “phương pháp điều trị” cho các căn bệnh khác nhau. Sự tương phản thật rõ nét. Khi lây nhiễm bệnh cho công dân Mỹ, Cutler cảm thấy có nghĩa vụ phải đảm bảo sự đồng ý của họ trong khi người Guatemalan không nhận được sự tôn trọng tương tự.

Các thí nghiệm bắt đầu được triển khai ở thành phố Guatemala vào tháng 2 năm 1947. Theo kế hoạch, Funes sẽ chuyển những gái mại dâm bị nhiễm bệnh đến Cutler; Cutler sau đó chơi trò mai mối và ghép đôi họ với các phạm nhân trong tù. Trước sự thích thú của họ, Cutler thậm chí còn chuốc rượu những người đàn ông và phụ nữ trước khi để họ quan hệ tình dục. Khỏi phải nói, ngày nay người ta cấm việc chuốc say các đối tượng nghiên cứu, nhưng trong suy nghĩ của Cutler hồi đó, hành vi này khiến quan hệ tình dục trở nên “tự nhiên” hơn bằng cách mô phỏng một cuộc gặp gỡ trong tự nhiên, cụ thể là một quán bar.

Tuy nhiên, cam kết của Cutler về sự tự nhiên chỉ dừng lại ở đó. Ông ta có vẻ đã rình rập các cặp đôi lúc họ quan hệ tình dục vì ông ta đã ghi chú cụ thể thời gian lên đỉnh của mỗi người (theo phút hoặc giây). Sau đó, ngay sau khi họ dừng lại, ông ta lao vào và nhanh chóng ngó nghiêng bộ phận sinh dục của họ để kiểm tra tinh dịch và dịch âm đạo. Không có màn vuốt ve, ôm ấp hay những điếu thuốc sau lên đỉnh. Vì mục tiêu hiệu quả, gái mại dâm chỉ có chưa đến một phút để chuyển sang khách hàng tiếp theo. Một phụ nữ đã phải phục vụ tám người đàn ông trong 71 phút, không có cơ hội rửa mặt giữa những lần phục vụ như vậy. Hầu hết 2.000 người tham gia nghiên cứu là người lớn, tuy nhiên có một gái mại dâm chỉ mới 16 tuổi, và một số binh lính chỉ khoảng 10 tuổi.

Ngược lại với những hy vọng ban đầu, Cutler cũng rơi vào thất vọng ở Guatemala nhiều như ở Terre Haute. Ngay cả khi uống rượu và quan hệ tình dục, những người đàn ông này không mắc các bệnh STD ở tỷ lệ đủ cao để thiết lập đường cơ sở – và nếu không có đường cơ sở, các thí nghiệm đều vô giá trị. Vì vậy, trong cơn tuyệt vọng, Cutler từ bỏ quan hệ tình dục tự nhiên và bắt đầu lây nhiễm bằng tay cho những người đàn ông.

Đó là một quá trình. Đầu tiên, ông thu thập một chút dịch mủ các loại bệnh STD và trộn nó với nước luộc tim bò. Sau đó, ông ta dụ những người đàn ông vào văn phòng của mình và cho họ tiếp xúc với chất lỏng này theo một trong ba cách. Ở phương pháp phơi nhiễm nông, ông ngâm một miếng bông nhỏ vào chất lỏng và buộc nó dưới da quy đầu của họ. Trong phương pháp tiếp xúc sâu, Cutler ngâm một ít bông trong chất lỏng và dùng tăm đâm vào niệu đạo của nam giới. Trong phương pháp chà xát, ông sử dụng đầu của ống tiêm để chà xát đầu dương vật cho đến khi nó bật máu, sau đó nhỏ chất lỏng lên vết thương. Cutler cũng tiếp xúc với gái mại dâm không bị nhiễm bệnh bằng cách nhét bông gòn thấm dịch vào âm đạo của họ và như ông ta đã báo cáo, ngoáy nó xung quanh “với một lực rất mạnh”. Như thể cố làm tăng thêm sự rùng rợn, Cutler thường rủ vợ đi cùng để chụp những bức ảnh cận cảnh về bộ phận sinh dục của mọi người.

Đáng chú ý, một số đối tượng của Cutler đã phản đối những “phương pháp điều trị” này. Thay vì bị chà xát dương vật, một bệnh nhân tâm thần – một người mà chúng ta phải nói rằng xuất hiện như một người tỉnh táo nhất trong phòng – nhảy khỏi bàn và chạy trốn; nhân viên bệnh viện đã mất hàng giờ để tìm thấy anh ta. Tuy nhiên, nhìn chung, Cutler khá hài lòng với các phương pháp phơi nhiễm nhân tạo, tạo ra tỷ lệ lây nhiễm ban đầu từ 50% đến 98%.

Cutler đã nghiêm túc báo cáo tất cả “quá trình” này cho cấp trên của mình ở Washington, và gây được tiếng vang. Một người đã viết cho ông ta rằng “chương trình của anh [!] đã thu hút được sự chú ý khá rộng rãi và đạt được nhiều thuận lợi ở đây”. Một người khác kể lại cuộc trò chuyện của Cutler với một vị Tổng y chức Mỹ:

“Trong mắt ông ấy ánh lên niềm vui lấp lánh khi nói rằng, Anh biết đấy, chúng tôi không thể làm một thử nghiệm như vậy ở đất nước này.”

Một lần nữa, các bác sĩ y tế cộng đồng thường hy sinh sự nghiệp sinh lợi trong lĩnh vực tư nhân để làm việc trong lĩnh vực y tế cộng đồng, và nhiều người trong số họ xuất thân từ quân đội. Song song với nhau, nền tảng chung và ý thức chung về mục đích đã tạo ra một tinh thần cao cả trong các cấp bậc của Cơ quan Y tế Cộng đồng. Thông thường, tinh thần phối hợp hoàn hảo là điều rất tốt. Nhưng các nhà tâm lý học nghiên cứu động lực học của nhóm đã phát hiện ra rằng, các nhóm có sự gắn kết cao và nền tảng đồng đều có xu hướng đưa ra quyết định tồi tệ hơn các nhóm có suy nghĩ đa dạng. Đặc biệt, các nhóm đồng dạng hiếm khi đặt câu hỏi về hành vi trái đạo đức của chính họ – hay chính xác hơn là không nhận ra họ đang hành động phi đạo đức. Đối với nhóm Cơ quan Y tế Cộng đồng thuần nhất được xem xét, Cutler đang thực hiện một công việc đáng kinh ngạc.

Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó Cutler biết các thí nghiệm của ông đã đi lạc vào vùng đất đáng ngờ. Ngay cả khi đang “mê mải trong men say tán thưởng” từ cấp trên của mình, ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải giữ kín mọi chuyện. Những lời cầu xin đó ngày càng được khẳng định hơn sau tháng 4 năm 1947, khi một bài báo ngắn xuất hiện trên tờ New York Times. Bài báo mô tả một số thí nghiệm ở Baltimore và Bắc Carolina, nơi các nhà khoa học cho thỏ tiếp xúc với bệnh giang mai và ngay lập tức cho chúng uống penicillin, có vẻ như để ngăn ngừa nhiễm trùng. Phóng viên ghi chép lại rằng, nghiên cứu này sẽ đem lại nhiều hứa hẹn cho con người – nhưng xét về mặt đạo đức là “không thể chấp nhận” khi “bắn vi trùng giang mai vào cơ thể người”. Trong khi đó, Cutler đang làm chính xác điều đó ở Guatemala. Tuy nhiên, chứng kiến công việc của mình được mô tả là “không thể chấp nhận về mặt đạo đức” khiến ông càng không chịu ngừng nghỉ. Nó chỉ củng cố thêm sự nghi ngờ của ông về hành vi gây rối của những người bên ngoài hàng ngũ Y tế Cộng đồng, vì vậy bí mật là điều tối quan trọng.

Cũng phải nói rằng, các nhà sử học đã lưu ý rằng Cutler không bao giờ đem mình ra làm đối tượng nghiên cứu trong các thí nghiệm của bản thân. Điều đó nghe có vẻ như là một lời chỉ trích kỳ quặc, song việc tự thử nghiệm trên bản thân khá phổ biến trong y học vào giữa những năm 1900. Chẳng hạn, nhà giải phẫu học John Hunter đã tự làm bản thân mắc bệnh lậu vào năm 1767 bằng cách bơm mủ lậu vào dương vật của chính mình để có thể theo dõi căn bệnh này từng ngày[*]. Tuy điều đó nghe có vẻ điên rồ, nhưng Hunter ít nhất cũng có can đảm chịu đựng để phục vụ khoa học. Các bác sĩ vẫn làm những việc như vậy vào thời Cutler. Trên thực tế, Bộ luật Nuremberg đưa ra quy định miễn trừ cho nghiên cứu nguy hiểm, miễn là có nhu cầu cấp thiết về mặt y tế đối với nghiên cứu đó – và bản thân các bác sĩ phải đóng vai trò là đối tượng thí nghiệm. Công việc nghiên cứu của Cutler có thể được cho là cấp thiết, nhưng ông thích bảo vệ của quý của chính mình trong khi khiến những người khác bị lây nhiễm.

Dù tính đồng nhất cao, song một số đồng nghiệp trong Cơ quan Y tế Cộng đồng vẫn đặt câu hỏi về nghiên cứu Guatemala một cách kín đáo. Thách thức trực tiếp nhất liên quan đến bệnh nhân tâm thần. Một bác sĩ viết cho Cutler, “trên thực tế, tôi không mấy hứng thú với việc thử nghiệm trên những người tâm thần. Họ không thể bày tỏ sự đồng ý, không biết chuyện gì đang xảy ra, và nếu một tổ chức vì nhân quyền nào đó nghe phong thanh được việc này, họ chắc chắn sẽ gây ra những ồn ào không đáng có”. Có vẻ như ông ta quan tâm đến tai tiếng báo chí hơn là việc hại người. Nhưng không giống như hàng trăm người khác trong Cơ quan Y tế Cộng đồng, ít nhất ông ta cũng phản đối và khuyên Cutler nên dừng lại.

Hình ảnh một số phụ nữ Guatemala bị cố tình lây nhiễm STD trong một cuộc thử nghiệm của Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ. (Được sự cho phép của Cục Quản lý Lưu trữ và Hồ sơ Quốc gia Mỹ.)

Người đồng nghiệp nọ đã đúng khi lo lắng về vấn đề đạo đức. Ngay cả khi xem xét mọi sự suy đồi đạo đức khác ở Guatemala, công việc của Cutler ở trại tâm thần đã chạm ngưỡng các mức đáy đạo đức mới. Để đổi lấy một số vật dụng khiêm tốn đến thảm hại – một máy chiếu, tủ lạnh, một số loại thuốc, một số đĩa và cốc – giám đốc trại tâm thần đã cho phép Cutler khiến 50 bệnh nhân tâm thần nhiễm STD, trong đó có 7 phụ nữ động kinh bị tiêm bệnh giang mai vào cột sống. Một cách ngớ ngẩn, Cutler tuyên bố rằng những người phụ nữ “không quan tâm đến quá trình này”, đến mức họ xếp hàng “ngày này qua ngày khác” để được tiêm thuốc vào cột sống, một phần vì ông ta đã dụ dỗ họ bằng thuốc lá.

Trường hợp éo le nhất tại trại tâm thần liên quan đến một phụ nữ tên là Bertha. Thông tin về độ tuổi và lý do cô ta phải vào trại tâm thần hiện tại vẫn là một bí ẩn, nhưng vào tháng 2 năm 1948, Cutler đã tiêm vi khuẩn giang mai vào cánh tay trái của cô ta. Cơ thể cô ta nhanh chóng mọc mụn đỏ và lở loét, da của cô ta bắt đầu bong tróc. Tuy nhiên, Cutler từ chối việc điều trị cho người phụ nữ đó trong 3 tháng, và đến ngày 23 tháng 8, Bertha rõ ràng đang sắp chết. Rõ ràng, ông ta đang nghĩ rằng giờ ông ta có thể làm bất cứ điều gì mình muốn, Cutler tiến hành bơm mủ bệnh lậu vào niệu đạo, mắt và trực tràng của Bertha, sau đó tiêm thêm cả thuốc điều trị giang mai. Trong vòng vài ngày, mắt Bertha bị chảy mủ còn niệu đạo thì chảy máu. Cô ta mất ngày 27 tháng 8.

Như đã đề cập trước đó, đánh giá con người của quá khứ dựa theo các tiêu chuẩn đạo đức ngày nay và cảm thấy bản thân vượt trội hơn là chuyện rất dễ dàng. Bởi phong cách đạo đức thay đổi thậm chí còn nhanh hơn cả phong cách thời trang, và vì lẽ đó, chúng ta nên dừng lại để xem mọi người trong tương lai có thể sẽ tố cáo chúng ta vì những điều mà chúng ta thậm chí chưa bao giờ đặt nghi vấn hay không. Nhưng đánh giá một người vì đã vi phạm các tiêu chuẩn của thời đại của họ có vẻ công bằng, và bằng cách đo lường đó, công việc “không thể chấp nhận về mặt đạo đức” của Cutler cực kỳ ghê tởm. Nếu thực hiện những thí nghiệm tương tự đối với Bertha trong một trại tập trung ở Đức, ông ta có thể đã bị xét xử vì tội ác chiến tranh.

Tổng cộng, Cơ quan Y tế Cộng đồng đã chi 223.000 đô la (2,6 triệu đô la ngày nay) cho các thí nghiệm của Cutler trước khi cắt quỹ tài trợ vào năm 1948. Penicilin đã chữa khỏi các bệnh STD hiệu quả đến mức việc dùng dầu lạc dự phòng dường như vô nghĩa. Dù sao thì một Tổng y chức mới của Mỹ cũng đã tiếp quản – một người thích làm màu hơn là để ý đến những sai sót về mặt đạo đức. Kết quả là Cutler thu dọn đồ đạc và rời Guatemala. Rõ ràng, dựa trên sự quan tâm của ông đối với STD, chắc chắn ông sẽ tham gia nghiên cứu Tuskegee ở Alabama.

Không giống như các bác sĩ Tuskegee, những người công bố các kết quả của họ một cách thẳng thừng, Cutler không bao giờ viết bất kỳ báo cáo nào về Guatemala. Điều đó một phần là do nghiên cứu không tạo ra bất kỳ kiến thức mới mẻ nào; từ quan điểm sức khỏe cộng đồng, họ không phát hiện ra điều gì. Nhưng dường như có một lý do khác, đen tối hơn diễn giải sự im lặng của ông ta. Khi rời Cơ quan Y tế Cộng đồng vào năm 1960, Cutler đã bỏ trốn và mang theo tất cả sổ ghi chép trong phòng thí nghiệm và biểu đồ bệnh nhân từ Guatemala, dù chúng là tài sản của chính phủ Mỹ – một động thái hết sức bất thường đối với một người lính tận tụy ông ta. Không ai biết lý do tại sao ông ta lấy cắp chúng, nhưng có vẻ như đó là một hành động nhằm ngăn bất kỳ ai khác phát hiện ra nghiên cứu. Thật ngạc nhiên, không ai làm điều đó cho đến năm 2005, khi nhà sử học Susan Reverby tình cờ xem được những cuốn sổ ghi chép tại Đại học Pittsburgh, nơi Cutler đã giảng dạy sau khi rời Cơ quan Y tế Cộng đồng. Nếu Reverby không mở chúng ra và đọc hết cả 10.000 trang, những nghiên cứu này có thể vẫn còn là bí mật cho đến ngày nay[*].

Cutler không còn sống để chứng kiến người ta phơi bày nghiên cứu của mình; ông ta mất năm 2003. Vậy ông đã làm những công việc gì sau nghiên cứu ở Guatemala. Ngoài Tuskegee, ông còn làm việc ở Haiti và Ấn Độ để giúp chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ. Ông đã sắp xếp học bổng cho các bác sĩ phụ khoa và bác sĩ sản khoa ở các quốc gia đang phát triển sang Mỹ đào tạo, để họ có thể trở về nhà và cứu sống phụ nữ. Ông cũng lên án nỗi sợ hãi về đạo đức xoay quanh căn bệnh thế kỷ AIDS trong những năm 1980, từ chối việc coi những người đồng tính là nạn nhân bị quỷ hóa.

Nghe có vẻ quen thuộc? Xin lỗi vì dông dài, nhưng vị bác sĩ có vẻ anh hùng ở đầu phần này – người ủng hộ những người phụ nữ và một bộ phận thiểu số – lại chính là người chỉ đạo nghiên cứu Guatemala. Nếu thông tin chi tiết duy nhất bạn biết về Cutler đến từ cáo phó của ông, trước khi công việc ở Guatemala được tiết lộ, bạn sẽ nghĩ ông là Albert Schweitzer.

Vậy làm sao hai Cutler này lại là một người? Có lẽ ông đã ăn năn sau khi rời Guatemala, và dành phần đời còn lại để hành động trượng nghĩa. Có lẽ ông đã chôn giấu tất cả ký ức về nó và không chịu thừa nhận mình đã làm bất cứ điều gì sai trái. Có lẽ ông vẫn theo chủ nghĩa thực dụng thô thiển rằng chừng nào bạn còn cố gắng giúp đỡ nhiều người về tổng thể – loài người về mặt lý thuyết – thì bạn có thể hy sinh những con người thực trên hành trình đó. (Vào những năm 1990, Cutler đã bảo vệ nghiên cứu Tuskegee trên chính những cơ sở đó.) Hoặc có lẽ nỗ lực phân thân thành Cutler I và Cutler II đã bỏ lỡ điểm mấu chốt đó. Chúng ta thường dễ dàng đẩy Guatemala Cutler vào cùng một giuộc với Joseph Mengele và các bác sĩ Đức Quốc xã khác. Nhưng sẽ khó làm vậy khi chúng ta thừa nhận tất cả những điều tốt đẹp mà ông đã làm sau này. Có lẽ đến cuối cùng không có cách nào để có thể dung hòa hai mặt trong con người John Cutler[*].

Vì các thí nghiệm ở Guatemala đã bị bưng bít suốt một thời gian dài, nên Tuskegee cuối cùng lại là nghiên cứu đã phủ một bóng đen lớn hơn lên lĩnh vực khoa học y tế. Nhưng khi nghiên cứu mang tầm quốc tế hơn, thì những dư âm đáng buồn của cả hai trường hợp này đã được cả thế giới biết đến.

Một cuộc tranh cãi liên quan đến vaccine sốt rét đã nổ ra khắp nơi. Hầu hết các bệnh truyền nhiễm là do virus hoặc vi khuẩn gây ra. Sốt rét bắt nguồn từ một sinh vật đơn bào, một sinh vật nhỏ bé nhưng tinh vi và có chu kỳ sống phức tạp. Sự phức tạp đó đã cản trở việc phát triển vaccine trong nhiều thập kỷ, làm trầm trọng thêm vấn đề sức khỏe được cho là lớn nhất toàn cầu: căn bệnh tấn công 200 triệu người mỗi năm.

Vào cuối những năm 2010, một loại vaccine sốt rét mới đầy hứa hẹn đã được nghiên cứu và giới thiệu, đồng thời được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bắt đầu thử nghiệm tại Malawi, Ghana và Kenya. Chắc chắn loại vaccine này, với tên gọi Mosquirix, không hoàn hảo. Ở trẻ em dưới 17 tháng tuổi, nó làm giảm tỷ lệ mắc bệnh chỉ ở mức một phần ba. So với các nhóm đối chứng, nó cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm màng não gấp 10 lần và những lý do bí ẩn đã làm tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong ở trẻ em gái. Tuy nhiên, ngay cả khi xét đến những nguy hiểm đó, Mosquirix vẫn có khả năng cứu sống hơn 100.000 sinh mạng chỉ riêng ở châu Phi mỗi năm.

Tuy nhiên, việc triển khai vaccine này đã bị nhiều người chỉ trích là thiếu sáng suốt. Phát biểu một cách quan liêu, WHO đã phân loại chương trình tiêm chủng là một “cuộc giới thiệu thí điểm” thay vì một “hoạt động nghiên cứu”, dường như nhằm tránh né các thủ tục và sự giám sát bổ sung mà công tác “nghiên cứu lại” chính thức đòi hỏi. Tệ hơn nữa, các quan chức không thông báo cho cha mẹ về nguy cơ viêm màng não hoặc tỷ lệ tử vong gia tăng ở trẻ em gái. Thay vào đó, khi cha mẹ đến phòng khám để chủng ngừa các bệnh khác cho con mình, bác sĩ sẽ chỉ hỏi họ xem họ có muốn chủng ngừa sốt rét không. Không ai nói với họ rằng Mosquirix là một thử nghiệm. WHO đã bảo vệ các phương pháp của mình bằng cách lưu ý rằng cha mẹ có thể chọn không tham gia nếu muốn. WHO cũng lập luận rằng, họ đã đạt được “sự đồng ý ngụ ý” bằng cách cung cấp thông tin trước cho cộng đồng về vaccine nói chung. Nhưng các nhà phê bình phản bác rằng sự đồng ý đó không giống như “sự đồng ý được thông báo” mà hầu hết các nghiên cứu yêu cầu. Như một nhà đạo đức sinh học đã lập luận, “Sự đồng ý ngụ ý tức là không có sự đồng ý nào cả.”

Cho đến nay, nghiên cứu này – và các tranh cãi về nó – vẫn đang diễn ra. Nhưng dù mọi chuyện có vẻ không hề tốt đẹp thì cuộc tranh luận cơ bản lại dẫn đến vấn đề này: Nếu những lựa chọn đẩy nhanh việc đưa vaccine vào sử dụng của WHO có thể cứu sống vài trăm nghìn người, thì liệu những vấn đề liên quan đến khía cạnh đạo đức có xứng đáng để đánh đổi hay không?

Một trường hợp còn phức tạp hơn liên quan đến thuốc điều trị AIDS ở Uganda vào những năm 1990. Phụ nữ dương tính với HIV có 25% nguy cơ truyền virus cho con khi mang thai. Một số loại thuốc nhất định có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ đó, nhưng chúng quá đắt so với điều kiện của hầu hết người dân châu Phi – 800 đô la một người. Ngoài ra, phác đồ điều trị cũng phức tạp, bao gồm cả thuốc uống và thuốc tiêm cho cả mẹ bầu và trẻ em sau sinh. Đáp lại, các quan chức y tế quốc tế quyết định thử nghiệm một phiên bản gọn nhẹ hơn, đơn giản hơn phác đồ này ở Uganda. Một nửa số phụ nữ mang thai trong nghiên cứu được dùng một đợt ngắn thuốc AZT, trong khi một nửa được dùng giả dược tác dụng như một nhóm đối chứng. Sau đó, các nhà khoa học so sánh tỷ lệ lây nhiễm ở hai nhóm để xem liệu phương pháp điều trị rút ngắn có hiệu quả hay không.

Các thử nghiệm có đối chứng với giả dược là tiêu chuẩn vàng trong y học: về mặt khoa học, chúng là cách tốt nhất để xác định liệu phương pháp điều trị có hiệu quả hay không. Nhưng nhiều bác sĩ và nhà hoạt động đã tỏ ra phẫn nộ trước việc sử dụng giả dược ở Uganda. Họ chỉ ra rằng ở Bắc Mỹ, việc từ chối điều trị cho bệnh nhân HIV, ngay cả trong quá trình thử nghiệm thuốc, bị coi là hành vi vô đạo đức. Họ nhấn mạnh rằng bất cứ phương pháp yếu kém nào được áp dụng đều là một thứ tiêu chuẩn kép bất công và tương đương với việc kết án tử những đứa trẻ da đen.

Những lời buộc tội này khiến các nhà khoa học điều hành nghiên cứu, trong đó có nhiều người Uganda tức giận. Họ lập luận rằng liệu trình dùng thuốc kéo dài sẽ quá đắt đỏ đối với ngân sách hạn chế của họ, làm giảm đáng kể số lượng người tham gia nghiên cứu và do đó làm giảm khả năng dự đoán của nghiên cứu. Hơn nữa, họ cho biết đối thủ của họ – hầu hết là những – người da trắng giàu có ở các nước phát triển – không biết hoạt động nghiên cứu ở châu Phi là như thế nào, và đã phạm tội “chủ nghĩa đế quốc đạo đức” vì đã áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức của thế giới thứ nhất vào các tình huống phức tạp của thế giới thứ ba. Nếu không có thử nghiệm, không một phụ nữ Uganda nào được điều trị. Có lẽ quan trọng nhất, họ nhắc lại rằng một nghiên cứu khoa học cẩn thận với các biện pháp kiểm soát giả dược thích hợp là cách nhanh nhất và hiệu quả nhất để xác định liệu một phương pháp điều trị có hiệu quả hay không. Do đó, nó sẽ cứu được nhiều trẻ sơ sinh nhất về lâu dài.

Không bên nào chịu thay đổi, và những tranh cãi về việc phải làm gì trong thời kỳ khủng hoảng y tế vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Gần đây nhất, trong những ngày đầu bùng nổ dịch bệnh COVID-19, nhiều người muốn mời các bác sĩ thử tất cả các loại thuốc thử nghiệm – bất chấp tác dụng phụ thường khắc nghiệt của chúng, những tác dụng phụ có thể (và đã) giết chết những người đáng lẽ được sống. Sau đó, một lần nữa, nếu một số loại thuốc đó có tác dụng, chúng ta có thể đã không còn đau lòng và đau đớn. Như đã đề cập trước đó, nhiều nhà đạo đức học coi nghiên cứu y tế được thiết kế kém hiệu quả là phi đạo đức. Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, ngay cả những thử nghiệm được thiết kế hoàn hảo nhất cũng có thể xúc phạm đến đạo đức của con người. Không ai từng nói đạo đức là một việc dễ dàng.

Các bác sĩ của Đức Quốc xã đã thử nghiệm trên các tù nhân trong trại tập trung vẫn là những bác sĩ đáng khinh bỉ nhất trong thế kỷ XX, nếu không muốn nói là trong mọi thời đại. Nhưng nếu “danh tiếng đó” của họ có bất kỳ sự cạnh tranh nào thì phải kể đến một nhà thần kinh học người Mỹ tên là Walter Freeman. Không giống như Josef Mengele, Freeman không lệch lạc, không bệnh hoạn. Dù điều gì xảy ra đi nữa thì ông ta cũng muốn giúp đỡ mọi người – điều mà cuối cùng dẫn đến hành động đáng lên án của ông ta.

Như chúng ta sẽ thấy ở chương tiếp theo, Freeman đã phát triển cái được gọi là phẫu thuật cắt bỏ xuyên hốc mắt. Ngoài bản thân thủ thuật, chính tham vọng quá lớn của Freeman và việc ông ta ép buộc thực hiện phương pháp “chữa bệnh” này cho tất cả mọi người, đã khiến phẫu thuật cắt bỏ thùy trán trở thành một trong những thủ thuật y khoa khét tiếng nhất trong lịch sử.


Mục lục

12,808 từ

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Phong Thần ChâuĐang ra
Phong Thần Châu

Oa Ngưu Cuồng Bôn

10919 chương7.2
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1