TruyenVip

Tâm Trí Tội Phạm

Tâm Trí Tội Phạm - Chương 02

Mục lục

CHẾ ĐỘ NÔ LỆ | SỰ BĂNG HOẠI ĐẠO ĐỨC CỦA BẦY RUỒI

Khi một người Anh, Henry Smeathman giong buồm lên đường tới Sierra Leone vào tháng 10 năm 1771, ông ta có mọi lý do để nghĩ chuyến thám hiểm của mình sẽ thành công vang dội. Hai mươi chín là độ tuổi hoàn hảo để trở thành một nhà tự nhiên học – đủ già dặn để có lượng kinh nghiệm nhất định, đủ trẻ để háo hức thực hiện những cuộc phiêu lưu. Và dựa trên cơ sở vô số loài vật kỳ lạ từ khắp nơi trên thế giới được đưa vào châu Âu – đười ươi và bọ cánh cứng khổng lồ, cây bắt ruồi (cây bẫy kẹp) và sóc bay – ông ta hy vọng có thể thực hiện những khám phá vĩ đại của riêng mình ở châu Phi.

Không để lãng phí chút thời gian nào, Smeathman và trợ lý của ông ta bắt tay ngay vào thu thập các mẫu vật trong chuyến đi, làm thủng lưới trên boong và khiến bướm và cào cào bị thổi bay ra biển. Đúng vậy, hầu hết các mẫu vật đều sớm bị kiến và gián trên con tàu bẩn thỉu mang tên Fly của họ ăn sạch. Tuy nhiên, Smeathman vui mừng nghĩ ra một giải pháp nhanh chóng. Sau khi đặt các mẫu vật lên trên một thùng rượu rum mở, ông ta nhận thấy mùi rượu sực lên có thể xua đuổi đám côn trùng háu đói. Ông ta ghi lại điều này trong nhật ký của mình như “một mẹo hữu ích dành cho các nhà tự nhiên học”.

Cuối cùng, con tàu Fly cũng cập bến ở châu Phi vào ngày 13 tháng 12, thả neo tại Îsles de Los, một điểm buôn bán ngà voi và gỗ ngoài khơi mà Smeathman mô tả là “những hòn đảo nhỏ có núi với nhiều cây cối và bụi rậm”. Lẽ ra đó phải là một khoảnh khắc mãn nguyện: kết thúc chuyến đi chật vật, có thể bắt tay vào công việc nghiên cứu khoa học. Nhưng Smeathman cảm thấy căng thẳng khi bước xuống ván cầu. Îsles không chỉ là một thiên đường buôn bán hàng hóa xa xỉ, mà còn là địa ngục xiềng xích và đòn roi – trung tâm của hoạt động buôn bán nô lệ ở Đại Tây Dương.

Trước khi lên đường, Smeathman đã biết rằng chế độ nô lệ sẽ tạo nên bối cảnh cho cuộc hành trình của mình. Ông ta thù ghét chế độ nô lệ và khi giới thiệu chuyến đi của mình trước các nhà tài trợ, ông ta thề sẽ nói sự thật về “những người ít được biết đến và bị xuyên tạc rất nhiều hay người da đen”. Nhưng ngay cả quyết tâm này cũng không thể chuẩn bị cho ông ta trước cú sốc tận mắt chứng kiến chế độ nô lệ.

Khi đến Îsles, Smeathman và những người đồng hành đã tham quan một con tàu nô lệ có tên Africa. Smeathman viết: “Từ khoảng cách khá xa, chúng tôi nghe thấy những âm thanh khó hiểu pha trộn giữa tiếng người, tiếng xiềng xích, và điều đó... đã ảnh hưởng đến một người vô cùng nhạy cảm như tôi và làm tôi thất kinh”. Trên tàu, các nam nô lệ bị lột trần, được cho là vì lý do sức khỏe, trong khi phụ nữ chỉ đeo khổ. Smeathman đau thắt ruột gan khi thấy hai người phụ nữ đang cho con bú giữa cảnh hỗn loạn; ông ta nói mình chưa từng thấy nỗi buồn nào “hằn sâu trên khuôn mặt con người” đến thế. Những người khác trong đoàn của ông ta vừa đi vừa trò chuyện, như thể đang tham quan một khu vườn, nhưng Smeathman vẫn liếc nhìn hai người mẹ nọ. “Nếu có lòng trắc ẩn hay sự cơ thể họ chưa quá rệu rã, hẳn họ sẽ rớt nước mắt. Còn tôi đã đắm chìm trong hàng ngàn suy tư u uất mà chẳng màng đến cuộc nói chuyện”.

Ông ta cũng gặp thuyền trưởng của con tàu Africa, John Tittle. Tittle là một tay tàn ác ngay cả xét theo các tiêu chuẩn của những kẻ buôn bán nô lệ, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết đau đớn khủng khiếp của hắn vài năm sau đó. Sau khi đánh rơi chiếc mũ của mình xuống một bến cảng, Tittle đã ra lệnh cho một cậu bé da đen trong đoàn người lao xuống biển để nhặt nó. Cậu bé từ chối vì sợ cá mập và không biết bơi. Nhưng Tittle đã ném cậu xuống biển và khiến cậu chết đuối. Nếu đây là một cậu bé nô lệ, sẽ không ai dám đối đầu với hắn. Nhưng Tittle đã sát hại con trai của một tù trưởng địa phương và ông này yêu cầu hắn bồi thường bằng rượu rum. Tittle gửi trả một thùng – nhưng thùng này không chứa rượu rum mà chứa “chất thải từ bồn cầu nô lệ của hắn”, có thể bao gồm cả phân. Vị tù trưởng tức giận truy lùng và tấn công hắn ta bằng giáo. Sau đó, ông ta bỏ đói Tittle và tra tấn hắn đến chết trong khi dân làng – những người cũng ghét cay ghét đắng Tittle — tụ tập xung quanh và reo hò ầm ĩ.

Bất chấp tai tiếng về sự tàn bạo của Tittle (hoặc có lẽ vì điều đó), các công ty nô lệ vẫn vui vẻ giao “hàng hóa” của họ vào tay hắn. Con tàu Africa được thiết kế để chở 350 nô lệ, nhưng không lâu sau chuyến thăm của Smeathman, Tittle đã dồn 466 người lên tàu và giong buồm đến vùng biển Caribbe. Kết quả, 86 người bao gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã bỏ mạng trên đường đi.

Trước nỗi đau đớn của Smeathman, nhóm của ông ta đã nhanh chóng rời Îsles để đến đảo Bunce gần lục địa châu Phi. Nhưng ông ta cũng không thể thoát khỏi việc phải chứng kiến tệ nạn nô lệ ở đó. Bunce là một địa điểm kỳ quặc, vô nhân tính, từng được mô tả là một cảng biển với một nửa là nô lệ và một nửa là “điền trang nông thôn” kèm một sân gôn hai lỗ. Pháo đài ở đó sừng sững những khẩu đại bác trên những bức tường cao gần 5m, một hệ thống phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của những tên cướp biển như Dampier.

Những người buôn bán nô lệ ở Bunce, vốn luôn háo hức chờ tin tức từ quê nhà, đã níu chân Smeathman và hỏi ông ta một loạt câu hỏi. Nếu ăn vận như những tay buôn nô điển hình, họ sẽ mặc áo sơ mi kẻ sọc kèm khăn tay đen buộc quanh cổ hoặc eo. Smeathman trò chuyện vui vẻ về nước Anh trong vài phút, nhưng cuộc trò chuyện đã trở nên chua chát ngay khi họ hỏi lý do ông ta đến châu Phi. Khi biết được mối quan tâm của ông ta với lịch sử tự nhiên, họ đã cười vào mặt ông ta. Như một tay buôn nô từng nói, “Người nào sống lâu hơn, người đó học được nhiều hơn! Giờ lại còn có người đi cả hai đến ba ngàn dặm để bắt bướm và thu gom cỏ dại”. Một số bắt đầu công khai chế nhạo ông ta.

Smeathman khịt mũi và quay lưng đi – tự an ủi bản thân rằng trong khi họ đến châu Phi để buôn bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ, ông ta sẽ đến đây với tư cách là một nhà khoa học, để nâng cao kiến thức và cải thiện rất nhiều thế hệ loài người. Ông ta không hề liên quan gì đến những kẻ man rợ này.

Tuy nhiên, ông ta đã khó có thể duy trì được thái độ kẻ cả ấy. Khi đến châu Phi, nhà tự nhiên học trẻ tuổi đã không giong buồm hướng tới mà tránh xa một cái gì đó – Henry Smeathman của ngày xưa. Smeathman của ngày xưa là một kẻ nghèo hèn, một kẻ thua cuộc, một bản thể mà ông ta muốn bỏ lại và chôn vùi ở Anh. Chuyến thám hiểm này đánh dấu sự ra đời của một Smeathman mới, một nhà tự nhiên học lịch lãm. Giống như William Dampier, ông ta cảm thấy khoa học là phát súng khởi nguyên một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân. Khi từ chối những tay buôn nô, ông ta đang chối bỏ cả đạo đức và địa vị thấp hèn của họ trong cuộc sống.

Tuy nhiên, hóa ra tham vọng làm mới bản thân trên cương vị một nhà khoa học của Smeathman sẽ là một thử thách lớn lao hơn cả đạo đức của ông ta. Bất chấp sự phản đối của ông ta, chế độ nô lệ vẫn thống trị nền kinh tế của Sierra Leone đến mức ông ta sớm nhận ra mình buộc phải giao dịch với những tay buôn nô để có được vật tư và thiết bị. Chẳng bao lâu sau, ông ta còn thực hiện những hành vi tồi tệ hơn. Đây cũng là điều dễ đoán, khi càng vướng phải khó khăn, ông ta càng cảm thấy cần phải bảo vệ các đối tác làm ăn và rộng hơn là cả bản thân ông ta. Đó là kiểu phòng vệ tâm lý lý thuyết: Mình là một người tốt và sẽ không bao giờ kết giao với kẻ xấu. Vì vậy, người mà mình đang giao thiệp không thể là kẻ xấu được. Nhưng khi sải bước trên con đường hợp lý hóa tâm lý đó, ông ta đã trượt dài đến mức không tưởng.

Giữa những tàn bạo của nạn buôn bán nô lệ, sự băng hoại đạo đức của một kẻ “bắt ruồi” như Smeathman gần như không được cho là một bi kịch. (Điều này quá rõ ràng, nhưng với mức độ quan trọng của chủ đề này, cần nêu rõ: “ruồi” hay nạn nhân ở đây là người châu Phi, chứ không phải người châu Âu da trắng. Tuy nhiên, cuộc đời của Smeathman vẫn đáng để xem xét, bởi nó làm sáng tỏ một khía cạnh của khoa học sơ khai mà hầu hết các nhà sử học bỏ qua – khoa học và chế độ nô lệ liên quan mật thiết với nhau như thế nào. Hơn nữa, câu chuyện về Smeathman cho thấy chế độ nô lệ có thể dễ dàng bào mòn đạo đức của những người chân thành, tử tế ra sao. Nạn buôn bán nô lệ hoạt động tràn lan và rầm rộ trong khoảng thời gian ông ta ở Sierra Leone. Từng chút một, thỏa hiệp tiếp diễn thỏa hiệp, nó bóp méo đạo đức của ông ta hoàn toàn.

Chế độ nô lệ cũng tồn tại lâu đời như nền văn minh của chúng ta, nhưng việc buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương giai đoạn 1500-1800 diễn ra đặc biệt tàn bạo. Nhiều ước tính đã được đưa ra, nhưng ít nhất 10 triệu người dân châu Phi đã bị bắt làm nô lệ trong các cuộc chiến tranh và các cuộc đột kích, với khoảng một nửa số người thiệt mạng trong các cuộc di chuyển tới những cảng biển địa phương hoặc trong các hành trình xuyên đại dương. Chỉ riêng số liệu thống kê thôi không đủ lột tả được hết sự khủng khiếp của những con tàu buôn nỗ. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị xiềng xích trong những căn hầm quá nóng bức và bẩn thỉu, mùi hôi cơ thể thường khiến mọi người nôn mửa khi bước vào. Những đứa trẻ mới chập chững có lúc vấp phải những chiếc “bồn thiết yếu” và bị chết đuối. Bệnh tật hoành hành, và những người ốm đau thường bị đào thải để dành chỗ cho những người khác. (Trên thực tế, cá mập thường bám theo các tàu nô lệ vì chúng thường kiếm được những bữa ăn dễ dàng như thế.) Nô lệ cũng có thể bị quăng làm mồi cho cá mập vì không vâng lời — hoặc phải chịu những hình phạt tồi tệ hơn. Sau một cuộc nổi dậy thất bại của nô lệ trên một con tàu vào những năm 1720, thuyền trưởng đã buộc hai trong số những kẻ chủ mưu giết một phần ba nô lệ và ăn tim gan của họ.

Vậy tại sao các nhà khoa học lại dấn thân vào miền đất của những hoảng loạn ấy? Cơ hội tiếp cận. Các chính phủ châu Âu tài trợ ngày càng nhiều cho các cuộc thám hiểm khoa học, nhưng phần lớn các tàu thám hiểm châu Phi và châu Mỹ khi đó là các tàu tư nhân tham gia vào tam giác thương mại – một hoạt động trao đổi ba bên gửi súng và hàng hóa sản xuất từ châu Âu đến châu Phi; nô lệ đến châu Mỹ; và thuốc nhuộm, dược phẩm và đường trở lại châu Âu. Các lựa chọn di chuyển đến châu Phi và châu Mỹ chỉ phục vụ duy nhất một mục đích đó. Các nhà khoa học thực địa quyết tâm đến thăm những vùng đất đó buộc phải đi nhờ những con tàu nô lệ. Khi đến nơi, họ cũng phụ thuộc vào các thương gia buôn bán nô lệ để tìm kiếm thức ăn, vật tư, phương tiện vận tải địa phương và thư từ.

Những nhà tự nhiên học ẩn mình ở châu Âu cũng lợi dụng việc buôn bán nô lệ. Nhiều trường hợp giả danh các thủy thủ đoàn trên các con tàu buôn nô lệ để thu thập thông tin – đặc biệt là các bác sĩ phẫu thuật trên tàu[*], những người có kiến thức khoa học và dành nhiều thời gian rảnh rỗi trên bờ trong khi các thuyền viên của họ buôn bán nô lệ và mua các khoản dự trữ. Các mẫu vật thu thập được – trứng đà điểu, rắn, bướm, những chiếc tổ, lười, vỏ sò, vũ khí – được vận chuyển trở lại châu Âu trên các con tàu nô lệ trước khi được đưa vào viện nghiên cứu hoặc các bộ sưu tập tư nhân. Carl Linnaeus, cha đẻ của ngành phân loại học và là một trong những nhà sinh vật học có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, đã dựa trên những bộ sưu tập như vậy để xây dựng công trình nghiên cứu đồ sộ mang tên Systema Naturae vào năm 1735 – cuốn sách giới thiệu hệ thống đặt tên giống loài Tyrannosaurus rex và Homo sapiens mà chúng ta vẫn còn sử dụng ngày nay. Nhìn chung, những bộ sưu tập này là “khoa học vĩ đại” trong thời đại của họ – là kho lưu trữ tập trung rất quan trọng cho các dự án nghiên cứu. Và tất cả chúng đều được xây dựng trên cơ sở hạ tầng và kinh tế của chế độ nô lệ.

Tuy nhiên, Henry Smeathman nghĩ rằng ông ta có thể đứng ngoài mớ hỗn độn đạo đức ấy. Không có bức chân dung nào của Smeathman từng được biết đến còn tồn tại cho đến ngày nay, và mô tả về ông ta cũng đầy bí ẩn: “cao, gầy, hoạt bát và rất thú vị, nhưng không đẹp trai”. Khi còn là một cậu bé, Smeathman thích thu thập vỏ sò và côn trùng, và việc học hành cũng dở dang khi gia sư của ông ta tự sát. Sau đó, ông ta cũng thử sức làm một số công việc như đóng tủ, bọc đồ đạc, bán bảo hiểm, phân phối rượu và dạy thêm. Chẳng việc nào thành công, cánh cửa sự nghiệp dường như đóng sầm trước mắt ông ta. Cuối cùng, cuộc đời ông ta đã rẽ sang một trang khác vào mùa hè năm 1771, khi một thầy thuốc kiêm nhà thực vật học tên John Fothergill thông báo về một chuyến thám hiểm thu thập mẫu vật ở Sierra Leone. Fothergill là một tín đồ Giáo Hữu hội và là người bài bác chế độ nô lệ. Tuy nhiên, ông ta đã thỏa hiệp và để Smeathman đến một thuộc địa nô lệ vì không có khu định cư nào khác ở Sierra Leone để lựa chọn.

Bất chấp định kiến của bản thân về chế độ nô lệ, Smeathman nhận lời đề nghị này vì tại thời điểm đó khoa học là con đường hoàn hảo để trở thành một quý ông. Một phần của động lực này mang tính xã hội. Nếu làm tốt, ông ta có thể được bầu làm thành viên của Hiệp hội Hoàng gia danh giá và vị trí đó đi kèm với những nguồn hỗ trợ về mặt tài chính. Mỗi trong số ba nhà tài trợ chính cho Smeathman đã quyên góp 100 bảng Anh (12.000 đô la Mỹ ngày nay) để hỗ trợ chuyến đi. Đổi lại, họ phải được chọn những mẫu vật trị giá 100 bảng Anh mà ông ta gửi về. Sau đó, Smeathman có thể bán phần còn lại để kiếm lời. Những thỏa thuận như thế không hiếm đối với các nhà khoa học tham vọng xuất thân từ các gia đình thấp kém. Tám mươi năm sau, Alfred Russel Wallace, người đồng khám phá ra thuyết tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên, cũng tham gia vào một cuộc chạy đua tương tự ở Malaysia[*].

Vào tháng 1 năm 1772, một vài tuần sau khi đến châu Phi, Smeathman dựng nhà trên quần đảo Banana, một quần thể gồm hai hòn đảo rưỡi ngoài khơi Sierra Leone. (Khi thủy triều lên, ta sẽ thấy ba đảo nhỏ; nhưng khi thủy triều xuống, một con đường cát nối hai trong số các hòn đảo sẽ xuất hiện, đó là lý do tại sao người ta lại gọi nó là hai hòn đảo rưỡi). Ông ta đã dành vài tuần trên quần đảo Banana để hồi phục sau cơn sốt rét đầu tiên, sau đó đến gặp người đứng đầu quần đảo, James Cleveland màu mè[*].

Với sự nâng đỡ từ Cleveland, Smeathman đã xây dựng một ngôi nhà kiểu Anh kèm vườn trên một hòn đảo. Cleveland cũng cưới cho anh chàng người Anh này một người vợ. Cô gái trẻ – 13 tuổi, theo ước tính của Smeathman – là con gái của một tù trưởng địa phương. Những cuộc hôn nhân giữa các chủng tộc như thế này rất phổ biến ở châu Phi, nhưng không giống như nhiều người châu Âu, Smeathman rất yêu vợ. “Buổi lễ được ăn mừng bằng màn bắn hơn một trăm phát đại bác từ trên bờ và... con bò đực duy nhất được nuôi trong nhiều dặm vuông đã được thịt nhân dịp này”, ông ta khoe với một nhà tài trợ. “Brunetta bé nhỏ của tôi, nàng khoác hờ chiếc toppin bằng len đáng yêu đang nằm trên giường bên cạnh tôi, mời gọi... Quá tuyệt vời! Tôi nghĩ mình yêu nàng ấy! Nàng sở hữu... thân hình giống Thần Vệ nữ của Medicis, với đôi gò bồng đảo xinh đẹp, nhấp nhô, nhảy múa.” Hành động thừa nhận tình cảm này thật đáng ngạc nhiên. Hầu hết người châu Âu đều chỉ muốn tình dục và những bữa ăn ngon từ người phụ nữ của họ, không hơn.

Kết hôn với con gái của một tù trưởng cũng mang lại cho Smeathman sự bảo trợ và bảo vệ từ cha nàng. Điều này cho phép ông ta tuyển được những người châu Phi bản địa làm hướng dẫn viên tự do và bắt đầu các cuộc thám hiểm khoa học của mình. Phần lớn những cuộc thám hiểm này chỉ là đi bộ về vùng nông thôn và thu thập mẫu thực vật và động vật để chuyển về Anh. Ở đó, chúng sẽ được xem xét và phân loại theo hệ thống phân loại của Linnaeus, mô hình thống trị thời đó. Nhưng không dừng lại ở đó, Smeathman còn thực hiện các nghiên cứu tiên phong trong sinh thái học và hành vi động vật. Điều này bao gồm các nghiên cứu của ông ta về các gò mối huyền thoại ở phía tây châu Phi.

Cấu trúc phức tạp bên trong của một ụ mối, đang được một trong những hướng dẫn viên tự do địa phương của Henry Smeathman giới thiệu. Hãy để ý một vài người đàn ông đang đứng trên một ụ mối ở phía hậu cảnh. (Tranh của Smeathman.)

Những ụ đất này – được người dân địa phương gọi là “bugga bug hill” – có hình nón, dốc, cao gần 4m và nằm rải rác như những ngọn núi lửa nhỏ trên đồng bằng châu Phi. Dẫu chỉ được làm bằng đất và nước bọt của những con mối nhưng chúng đủ vững chắc để năm người đàn ông trưởng thành có thể thoải mái đứng trên đỉnh của nó, và được coi là điểm thuận lợi nhất để quan sát tàu bè vào các bến cảng địa phương.

Để nghiên cứu các ụ đất này, Smeathman và những người hướng dẫn của ông ta sẽ mang theo cuốc và cuốc chim, lén leo lên trên và dội nước xuống các bức tường đất. Sau đó, họ dùng tay cào lớp đất vụn bên ngoài và vội vàng tranh nhau nhìn vào bên trong. Sự vội vàng này là cần thiết bởi chỉ trong vòng vài giây sau nhát cuốc đầu tiên, họ sẽ nghe thấy những tiếng tanh tách đáng ngại – “chói tai và nhanh hơn tiếng tích tắc của đồng hồ”, Smeathman nhớ lại. Đó là một cuộc gọi báo động, và một lúc sau, lũ mối sẽ và ra khỏi lỗ và tấn công những kẻ “xâm lược”. Mối đốt rất đau, khiến các hướng dẫn viên đi chân trần phải gào thét để tìm chỗ ẩn nấp. Người châu Âu lúc đầu không mấy lo lắng, nhưng rồi chắc chắn những con mối sẽ luồn vào bên trong giày của họ và đốt, làm bẩn những chiếc tất trắng bằng những đốm máu đỏ. (Là một người tận tâm với khoa học, Smeathman sau đó sử dụng các vết đốt này làm dữ liệu, ước tính rằng một con mối trung bình làm chảy ra một lượng máu tương đương với trọng lượng của chính nó sau mỗi lần đốt.)

Smeathman sẽ sớm trở thành một chuyên gia giỏi chịu đựng cơn đau của những vết côn trùng đốt khác nhau, nhưng sự kiên nhẫn cho phép ông ta nghiên cứu bên trong các ụ mối một cách chi tiết đến khó tin. Trên thực tế, lời kể của Smeathman về chúng giống như một tài liệu sơ lược về kiến trúc, với các tham chiếu đến tòa tháp, đỉnh vòm, hành lang, tầng hầm, giàng chống và mái vòm kiểu Gothic. Ông ta cũng suy đoán (chính ս xác) rằng các ụ đất hoạt động như một ống thổi, bơm không khí trong lành vào và duy trì nhiệt độ ổn định ở bên trong. Với sự phấn khích có phần hơi khoa trương, ông ta tuyên bố rằng mỗi ụ mối “cung cấp một mẫu vật của ngành và vượt xa niềm tự hào và tham vọng của con người như nhà thờ St. Paul vượt xa một túp lều của người Ấn Độ”.

Chính những con mối cũng khiến ông ta mê mẩn. Rõ ràng, ông ta đã phải chịu đựng rất nhiều vết đốt trên tay, nhưng cuối cùng Smeathman cũng đào đủ sâu xuống các gò đất để đến được “căn hộ hoàng giả” và nhìn thấy bà chúa mối kỳ cục[*]. Mối chúa chỉ là một cái thân nhỏ xíu được gắn với một túi trứng, dài 8cm, đẻ 80.000 trứng mỗi ngày, gần một trứng mỗi giây. Những con mối khác cũng không kém phần kinh ngạc. Trong một ụ mối, Smeathman phát hiện ra những viên nhỏ màu trắng mà ông nhầm là những quả trứng. Nhưng dưới kính hiển vi, hóa ra đó là những cây nấm nhỏ bé. Trước sự kinh ngạc của bản thân, ông ta nhận ra những con mối đang “trồng” nấm để làm thức ăn. Các nhà khoa học hiện cũng biết một số loài động vật khác làm như vậy, nhưng Smeathman là người đầu tiên nhận ra loài Homo sapiens (người tinh khôn) khác xa những người nông dân đầu tiên trong lịch sử Trái đất. (Trên thực tế, loài kiến đã trồng trọt được 60 triệu năm.)

Mối chúa kỳ dị (số 3), một phần thân nhỏ bé được gắn với một chiếc túi có thể đẻ ra 80.000 quả trứng mỗi ngày. (Tranh của Henry Smeathman.)

Khi thực hiện nghiên cứu này, Smeathman đi theo bước chân của nhà tự nhiên học người Đức Maria Merian, từng được gọi là “mẹ đẻ của côn trùng học” vì những nghiên cứu tiên phong của bà ở Suriname vào cuối những năm 1600. (Là người giàu có, Merian đã tự bỏ tiền đi Nam Mỹ, thể hiện tinh thần độc lập đáng nể. Khi thuê nô lệ để thu thập dữ liệu, ít nhất bà cũng thừa nhận sự giúp đỡ của họ trong các tài liệu của mình, không giống như hầu hết các nhà tự nhiên học khác.) Merian là một trong những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu vòng đời đầy đủ của côn trùng, bao gồm các loại thực phẩm chúng ăn ở mỗi giai đoạn. Bà cũng là một nghệ sĩ tài năng, và đã ghi lại một số cảnh ghê rợn trong sổ tay của mình, trong đó có cảnh một con nhện đen tarantula có kích thước bằng bàn chân quái vật Sasquatch bám vào một con chim ruồi và ngấu nghiến cơ thể con chim.

Cũng trên đà đó, Smeathman đã nghiên cứu những con mối từ khi còn trong trứng đến khi trưởng thành, và thực hiện một số bức vẽ ụ mối mà ngày nay vẫn được ca tụng vì sự hoa mỹ của chúng. Những bức tranh cũng hấp dẫn về mặt xã hội học. Thay vì mô tả mình là anh hùng ở trung tâm của hành động, Smeathman cho thấy các hướng dẫn viên người châu Phi đang đập những ụ mối, ngầm ghi nhận sự giúp đỡ của họ. Các nhà sử học cũng lưu ý rằng, không giống như các bản sao chép sau này của các bức vẽ, bản gốc của Smeathman không thay đổi các đặc điểm của người hướng dẫn viên sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn về vẻ đẹp của châu Âu; chúng ta dễ dàng nhận ra những người xuất hiện trong tranh của ông ta là người châu Phi.

Tất cả những điều này đều thể hiện sự tôn trọng của Smeathman dành cho hướng dẫn viên của mình nói chung. Thay vì chế giễu kiến thức của họ về lịch sử tự nhiên như hầu hết người châu Âu, ông ta để họ chỉnh sửa giúp mình một số loại dữ liệu – như chuyện một con mối có cánh nào đó mà ông ta nhìn thấy không phải là một loài riêng biệt, mà là một giai đoạn trong vòng đời của một loài đã được biết đến. (Bản thân Linnaeus đã sai về đặc điểm này.) Đáng chú ý hơn nữa, xét đến mức độ sâu sắc của định kiến này cho đến tận ngày Smeathman đã gạt bỏ mọi cảm giác ghê tởm của mình và hòa vào tập quán ăn côn trùng ở địa phương. Những người hướng dẫn chỉ ông ta cách bắt mối ra khỏi các vũng nước và rang chúng như một loại hạt. Như Smeathman đã viết, “Tôi đã ăn chúng theo cách này vài lần, và nghĩ chúng vừa ngon, vừa bổ dưỡng và vừa lành mạnh. Chúng ngậy, nhưng không quá béo và vón cục như sâu bướm hay giòi”.

Smeathman chắc chắn cũng có một số thành kiến phổ biến ở thời đại đó. Trong một số bức thư của mình, ông ta mô tả người châu Phi là quá “xảo quyệt”, “lười biếng và đầy ác ý”. Nhưng ông ta dùng lời lẽ khắc nghiệt hơn nhiều với những nô lệ châu Âu, gọi họ là “quái vật” và “những kẻ bị ruồng bỏ của Pháp, Hà Lan, Đan Mạch, [và] Thụy Điển”. Ông ta cũng tôn trọng kiến thức về y học của người châu Phi bản địa; họ có “bí mật quý giá về thực vật” và thậm chí còn khen ngợi kỹ năng hùng biện của họ sau khi quan sát họ tại các tòa án địa phương, gọi họ là “Cicero và Demosthenes da đen”, những người đã vượt trội hơn các luật sư người Anh về nhiều mặt.

Công trình nghiên cứu về các ụ mối của Smeathman cuối cùng đã giúp ông ta có được sự kính trọng từ các nhà sinh vật học châu Âu – cũng như có được một biệt danh thú vị, Monsieur Termite. Và nếu đó là tất cả những gì có trong câu chuyện về Smeathman thì ông ta sẽ đi vào lịch sử với tư cách là một nhà khoa học sắc sảo, một đồng nghiệp khoan dung và có tư duy cấp tiến. Thật không may, vẫn còn nhiều điều để chúng ta cùng nhau tìm hiểu ở đây. Các hướng dẫn viên của Smeathman hầu hết là người dân địa phương tự do, không phải nô lệ. Vì vậy, trong những tháng đầu tiên ở Sierra Leone, ông ta có thể tách bản thân khỏi chế độ nô lệ và tự an ủi rằng mối quan hệ của ông ta với nó chỉ ở mức tối thiểu, liên quan đến thương mại và vận tải. Nhưng việc giữ khoảng cách thực sự khó hơn mong đợi. Khi số tiền ban đầu cạn kiệt, ông ta bắt đầu làm thân với những người nô lệ để đảm bảo các điều khoản giao dịch tốt hơn. Sau đó, dần dần, ông ta bắt đầu mất cảnh giác khi ở gần họ vì một lý do cố hữu của loài người. Ông ta thấy cô đơn. Đến tháng 4 năm 1773, tháng thứ 17 ở châu Phi, ông ta công khai than thở về sự cô đơn của mình trong các bức thư gửi cho các nhà tài trợ. Dù đã qua ba đời vợ, nhưng trái tim ông ta vẫn đau đáu tìm kiếm sự đồng hành của một người đồng hương, người nói cùng một ngôn ngữ, thờ cùng một vị thần và xúc động trước cùng một bài thánh ca. Vì vậy, từng chút một, Smeathman bắt đầu lợi dụng những đề nghị thể hiện sự hiếu khách của những người buôn bán nô lệ. Ông ta tự nhủ đây chỉ là một cách giải tỏa tạm thời sự cô đơn.

Lịch sử tự nhiên không phải là lĩnh vực khoa học duy nhất khai thác hoạt động buôn bán nô lệ. Đài quan sát thiên văn lớn đầu tiên ở Nam bán cầu tại Cape Town được xây dựng bằng sức của nô lệ. Edmond Halley – nhà khoa học nổi tiếng nghiên cứu về sao chổi – thu thập dữ liệu về Mặt trăng và các ngôi sao từ những người nô lệ ở các thuộc địa khác nhau, và các nhà địa chất cũng thu thập đá và khoáng chất ở những nơi như vậy. Hiệp hội Hoàng gia gửi bảng câu hỏi đến các cảng nô lệ để thu thập các quan sát và thu lợi từ các khoản đầu tư của mình vào các công ty nô lệ.

Ngay cả một lĩnh vực được đánh giá cao như cơ học thiên thể cũng được hưởng lợi. Isaac Newton luôn là một người đơn độc, luôn dành thời gian ở nhà – viết nguệch ngoạc các phương trình trên bàn làm việc và giấu chúng để đồng nghiệp khỏi phát hiện ra. Nhưng khi tập hợp Các nguyên lý Toán học (Principia Mathematica), bao gồm định luật vạn vật hấp dẫn nổi tiếng, Newton đã đưa ra một dự đoán cấp tiến và rất công khai rằng: lực hấp dẫn của Mặt trăng gây ra thủy triều. Để chứng minh điều này, ông cần dữ liệu về độ cao và thời gian của thủy triều trên toàn cầu, và một bộ số liệu quan trọng đến từ các cảng nô lệ của Pháp ở Martinique. Cơ học thiên thể theo nghĩa đen là một thế giới khác, xa rời cuộc sống chán nản của con người nhiều nhất có thể. Nhưng chế độ nô lệ là một phần cơ bản trong khoa học châu Âu khi đó, đến nỗi ngay cả Principia cũng không thể thoát khỏi cái bóng của nó.

Ngoài ra, lịch sử tự nhiên được hưởng lợi nhiều nhất từ chế độ nô lệ là một điều không phải bàn cãi – và thậm chí trong một số trường hợp, nó còn giúp chế độ nô lệ mở rộng phạm vi hoạt động. Các thương gia thuộc địa háo hức tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài, như thuốc nhuộm và gia vị, và họ tham khảo ý kiến của các nhà khoa học về cách tốt nhất để săn lùng và trồng trọt những mặt hàng đó. Ngoài ra, nghiên cứu y học về quinin và các loại thuốc khác đã giúp người châu Âu da trắng sống sót ở các khu vực nhiệt đới. Và một thuộc địa càng an toàn và mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho người châu Âu, thì hoạt động thương mại ở đó, bao gồm cả chế độ nô lệ, càng phát triển mạnh. Khi đó, nghiên cứu khoa học không chỉ phụ thuộc vào chế độ nô lệ thuộc địa mà còn mở ra thị trường mới cho nó.

Một số nhà tự nhiên học châu Âu ở châu Mỹ còn bắt nô lệ phải thu thập mẫu vật cho họ, đặc biệt là ở những nơi nguy hiểm. Họ sai nô lệ trèo lên cây hoặc lặn xuống những vùng nước lạnh giá; vượt qua những bụi cây đầy gai góc hay những con dốc trơn trượt chết người. Đáng ngạc nhiên là một số nhà sưu tập đã thực sự trả tiền cho nô lệ để đổi lấy sự giúp đỡ – một nửa đồng curon cho một chục con côn trùng (18 đô la ngày nay) và 12 xu (7 đô la) cho 10 loại cây nào đó, miễn là chúng còn lành lặn. Hầu hết các nhà sưu tập đều bủn xỉn, và phần lớn những người châu Phi thu thập các mẫu vật không nhận được tiền cũng như không được thừa nhận. Chỉ còn rất ít những cái tên xuất hiện trong những loài thực vật ngày nay như Majoe, được đặt theo tên của một nô lệ tóc bạc ở Jamaica, người đã sử dụng vỏ cây của nó để điều trị bệnh ghẻ cóc, một căn bệnh ngoài da giống giang mai.

Nhà tự nhiên học châu Phi nổi tiếng nhất là Kwasi, một lockoman (thầy phù thủy) đã hoạt động ở Suriname vào những năm 1700. Dù bản thân là một nô lệ, nhưng Kwasi thường đứng về phía người châu Âu da trắng để chống lại người châu Phi, và ông ta vẫn là một nhân vật gây tranh cãi cho đến tận ngày nay. Như một nhà quan sát châu Âu đã ghi chép lại, Kwasi đã chế tác những chiếc bùa hộ mệnh từ “đá cuội, vỏ sò, tóc đã cắt, xương cá, lông vũ... Toàn bộ được xâu lại bằng một một sợi dây đeo quanh cổ”. Kwasi sau đó bán những chiếc bùa hộ mệnh này cho những nô lệ chiến đấu vì tự do của họ, đảm bảo với họ rằng ma thuật bên trong sẽ khiến họ trở nên bất khả chiến bại trong trận chiến. Đây hoàn toàn là một lời dối trá, nhưng điều đó không ngăn được Kwasi trục lợi. Theo sử sách truyền miệng, ông ta cũng thâm nhập vào một đội quân nô lệ lẩn trốn trong rừng, sau đó phản bội và bán tin vị trí của họ cho những người lính da trắng. Với những hành động đó, Kwasi được ban cho sự tự do, được tặng những bộ quần áo đắt tiền của châu Âu, bao gồm cả một tấm áo ngực bằng vàng có ghi “Quassie, trung thành với người da trắng”. Để trả đũa, một toán nô lệ bỏ trốn đã phục kích và cắt đứt tai phải của ông ta.

Một nô lệ tên là David đã buộc phải trèo lên cây và lột da một con trăn Nam Mỹ cho chủ nhân của mình, John Stedman. Kỳ lạ là, bức vẽ này được vẽ bởi nhà thơ William Blake.

Dù còn gây tranh cãi, Kwasi vẫn được coi là một thiên tài thực vật học. Ông ta đặc biệt nổi tiếng với việc bào chế bột rễ làm dịu cơn đau dạ dày và hạ sốt. Nhiều người châu Âu da trắng thậm chí còn tin tưởng phương pháp điều trị của ông ta hơn là tin tưởng bác sĩ của chính họ[*]. Trong suốt 30 năm, Kwasi từ chối chia sẻ về nguồn gốc của phương pháp điều trị, nhưng sau đó, vào một ngày nọ ông ta đã dẫn một học trò của nhà thực vật học Linnaeus vào rừng và chỉ vào một bụi cây có hoa màu đỏ rực rỡ. Người học trò này đã mang bụi cây về cho Linnaeus, đặt tên nó là Quassia amara. Đó là một ví dụ hiếm hoi về một loài được đặt tên theo tên của một nô lệ.

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Kwasi, người rất trung thành với người da trắng, lại được các nhà khoa học châu Âu nhớ mãi, trong khi rất nhiều người tài năng khác đã hoàn toàn bị quên lãng trong suốt chiều dài lịch sử. Nhưng đối với mỗi cái tên châu Âu gắn với một số loài thực vật hoặc loài bọ nào đó, chúng ta cần nhớ rằng có lẽ có một, hai hoặc hàng chục bàn tay không tên tuổi đã đứng sau giúp đỡ họ.

Không giống Kwasi, Smeathman không phải là nhà thực vật học. Ông ta là một người nghiên cứu sâu bọ, và việc cố phân loại tất cả các hệ thực vật xa lạ ở Sierra Leone khiến ông ta thất vọng và choáng ngợp. Sau đó, ông ta rất vui mừng khi nhận được một lá thư vào đầu năm 1773 thông báo rằng một học trò khác của Linnaeus, nhà thực vật học Andreas Berlin, sẽ đến quần đảo Banana. Anh này sẽ không chỉ giúp giảm tải công việc cho nhà thực vật học, mà còn đồng hành cùng một nhà khoa học lịch thiệp khác.

Dù mới 27 tuổi nhưng Berlin đã có một bản lý lịch ấn tượng, từng đồng hành cùng thuyền trưởng James Cook trên một trong những chuyến đi khoa học nổi tiếng của ông. Berlin cũng không mất nhiều thời gian để chứng minh giá trị của mình với tư cách là một nhà thực vật học. Trong chuyến thám hiểm đầu tiên với Smeathman vào tháng 4 năm 1773, Berlin đã phát hiện ra ba loài mới đối với giới khoa học châu Âu trong vòng 15 phút, một thành quả khiến anh ta rất thích thú. “Tôi giống như một người mù vừa sáng mắt”, anh ta viết trong một bức thư, “lần đầu tiên nhìn thấy mặt trời. Anh ta ngã gục vì ngạc nhiên, ngạc nhiên đến tột độ”. Tuy nhiên, tài năng là vậy nhưng Berlin có một thói xấu: nghiện rượu. Mỗi giờ không dành cho thực vật đều được anh ta dành để uống rượu, điều này khiến Smeathman rất tức giận – đặc biệt vì người trợ lý còn lại của ông ta cũng nghiện rượu. “Có hai trợ lý, nhưng không ai trong số họ tỉnh táo”, ông ta phàn nàn, “thật đáng tiếc”.

Những người bản xứ hỗ trợ Smeathman cũng khiến ông ta vô cùng tức giận. Hầu hết là người dân địa phương cười cợt sau lưng ông ta vì thói quen nhặt những con bọ nhỏ và cỏ dại đáng khinh bỉ. Họ cười khúc khích cho đến khi Smeathman thông báo ông ta sẵn sàng trả tiền cho những mẫu vật này. Sau đó, ông ta nhận được nhiều “sự trợ giúp” hơn: “Đàn ông, phụ nữ và trẻ em xúm vào để xem xét, hỏi han và mang mọi thứ đi bán: tất cả các loài cây có hoa... mọi loài côn trùng phổ biến nhất, thậm chí cả gián và nhện trong nhà”. Sau đó, Smeathman thẳng thừng từ chối trước sự bối rối và ghê tởm của họ. Một số người trả thù bằng cách đánh cắp các mẫu vật ngay trước mắt ông ta và bắt ông ta trả tiền gấp đôi để có được chúng.

Ngày càng thất vọng, đặc biệt là với Berlin, Smeathman bắt đầu xả hơi bằng một trong số ít những mối quan hệ mà ông ta có – giao du với những kẻ buôn bán nô lệ.

Smeathman chắc chắn không bao giờ làm thân với những kẻ hạ đẳng điều khiển những con tàu nô lệ – lũ người thô lỗ, hôi hám, như ông ta từng mô tả, khuấy trà bằng một “con dao gỉ sét, bẩn thỉu, dính dầu mỡ” và ăn bơ ôi thiu chỉ phù hợp làm dầu bôi bánh xe ngựa. Thay vào đó, Smeathman tập trung vào các thương nhân và thuyền trưởng, những quý tộc trong chế độ nô lệ Sierra Leone.

Trên thực tế, những “quý ông” này cũng thô lỗ như hải cẩu. Tệ hơn nữa, họ là những người thực sự thu lợi từ chế độ nô lệ nhưng họ đã đánh bóng bản thân một chút. Smeathman bắt đầu ghé qua “điền trang đồng quê” của họ trên đảo Bunce để chơi đánh bài và cờ tàn cáo. Ông ta cũng chơi gôn trên sân hai lỗ gồ ghề tại đó. (Smeathman gọi trò chơi là “goff”, và nó hơi khác so với ngày nay. Quả bóng to như bóng quần vợt, và các lỗ, theo ông, to bằng “chóp đầu một người đàn ông”.) Với những từ ngữ cứng nhắc, Smeathman đã mô tả đánh gôn là “một hoạt động thú vị cho một ngày trời ấm áp vì không có yếu tố bạo lực nào trong đó ngoại trừ tiếng vút của những cú vụt bóng”. Trong khi đó, bạo lực thực sự đang diễn ra cách đó chừng 500 mét, ở phía xa của hòn đảo, nơi các nô lệ bị xích trong chuồng và phải chịu những trận đòn roi. Vào tháng 5 năm 1773, Smeathman cũng đi săn dê trên đảo Îsles de Los và bỏ qua các quy tắc của bản thân để thưởng thức bữa tiệc thỏa thuê rượu trên bãi biển. Một trong những người bạn đồng hành của ông ta trong cuộc vui này không ai khác chính là John Tittle, thuyền trưởng của một con tàu buôn nô lệ, người sẽ sớm ném một cậu bé xuống biển để vớt chiếc mũ và gửi một thùng nước thải cho cha cậu bé. Nhưng ít nhất là trong ngày hôm đó, hắn và Smeathman đã trở thành bạn thân.

Không lâu sau bữa tiệc, Smeathman đi nhờ chuyến tàu nô lệ của Tittle để trở về quần đảo Banana, và phác họa một bức tranh đáng kinh ngạc về một đợt bùng phát dịch bệnh ở đó. Một nhà sử học đã miêu tả nó một cách khéo léo là “Dantesque”: “Hai hoặc ba nô lệ bị ném xuống biển mỗi ngày vì sốt, kiết lị, sởi, giun sán”, Smeathman viết. “Ở đây, một thầy thuốc băng bó vết loét, vết thương và vết u nhọt, hoặc tọng thuốc vào họng những người đàn ông, trong khi một người khác đứng bên trên họ, dùng roi liên tục quất để bắt họ nuốt”.

Trong các nạn nhân của đợt bùng phát căn bệnh này có cả Andreas Berlin. Bia rượu đã phá hỏng thể trạng của anh ta, nhưng ngay cả khi ốm yếu vì những cơn sốt và căn bệnh tiêu chảy, anh ta vẫn đòi rượu trong khẩu phần ăn hằng ngày của mình trên tàu. (Anh ta cũng ăn rất nhiều dứa, có thể như một cách chữa bệnh dân gian.) Ban đầu, Smeathman kiên quyết từ chối cấp rượu cho anh ta nhưng cũng đã nhanh chóng đầu hàng – trước sự thất vọng của chính mình. Berlin qua đời ngay sau đó, chỉ ba tháng sau khi thực hiện chuyến phiêu lưu đến châu Phi.

Sau mất mát đó, Smeathman thậm chí còn phụ thuộc nhiều hơn vào những kẻ buôn bán nô lệ. Sự suy thoái đạo đức này không phải cứ thế diễn ra; như đoạn văn trên cho thấy, đó vẫn là người đàn ông từng đau thắt ruột khi nhìn thấy hai bà mẹ da đen cho con bú và cả những tệ nạn của chế độ nô lệ. Nhưng nó diễn ra dần dần theo xu hướng tồi tệ hơn. Lúc đầu, ông ta chỉ dựa vào những kẻ buôn bán nô lệ để được hỗ trợ vật chất – thiết bị, thực phẩm, thư từ. Sau đó, ông ta làm thân với họ để đảm bảo các điều khoản giao dịch tốt hơn. Theo thời gian, những mối quan hệ thân thiết đã dẫn đến tình bạn thực sự để xoa dịu nỗi cô đơn của bản thân. Như bất kỳ nhà tâm lý học nào cũng có thể dự đoán, việc tiếp xúc nhiều hơn với những kẻ buôn bán nô lệ cũng dẫn đến sự đồng cảm với quan điểm của họ, thậm chí là bênh vực họ.

Mọi thứ đã bị băng hoại kể từ thời điểm đó. Một năm rưỡi sau chuyến thám hiểm của Smeathman, rất ít mẫu vật (ngoài một số loài côn trùng) được gửi về Anh. Tất cả không phải là lỗi của Smeathman. Các mẫu vật mất nhiều thời gian để chuẩn bị, và vì hoạt động buôn bán theo mô hình tam giác chỉ chạy theo một hướng nên các thùng hàng của ông ta phải được đóng gói và vận chuyển lên các tàu nô lệ để trở về Anh qua Caribbe, khiến chúng bị trì hoãn hàng tháng trời. Thêm vào đó, việc vận chuyển bằng đường biển không hề an toàn. Nếu ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, độ ẩm hoặc nước mặn dâng lên không phá hủy được các mẫu vật của ông ta thì mối mọt, kiến và động vật gặm nhấm trên tàu cũng sẽ làm điều đó.

Do đó, các nhà tài trợ không thu được gì từ Smeathman bắt đầu phàn nàn về khoản đầu tư của họ vào ông ta. Về phần mình, ông ta nhận ra danh tiếng của bản thân với tư cách là một nhà khoa học – và hy vọng trở thành một nhà khoa học lịch thiệp – sẽ bị lung lay nếu không có nhiều mẫu vật hơn được chuyển đến tay họ trong thời gian sớm nhất có thể. Vì vậy, Smeathman bắt đầu trở thành đại lý cho một kẻ buôn bán nô lệ ở Liverpool để giúp tay này mở rộng hoạt động kinh doanh ở Sierra Leone. Đổi lại, Smeathman có được không gian cho các mẫu vật của mình trên những con tàu hiếm hoi từ châu Phi về thẳng Anh. Bảo quản xác côn trùng và cây cỏ có ý nghĩa đối với ông ta nhiều hơn giữ gìn đạo đức của bản thân.

Đến giữa năm 1773, Smeathman đã trực tiếp bắt tay vào thực hiện công việc buôn bán nô lệ. Đồng tiền có phần vô dụng ở châu Phi vì người dân ở đó thích trao đổi bằng hàng hóa – kể cả nô lệ. Ví dụ, một thuyền trưởng giao một số gói hàng cho Smeathman từ Anh đã yêu cầu nhận thù lao bằng một nô lệ thay cho tiền. Nền kinh tế địa phương cũng dựa vào nô lệ. Khi Smeathman hợp lý hóa điều đó trong các bức thư của mình, ông ta thường xuyên thiếu “nến, đường, trà, bơ”, giày, đinh và các nhu yếu phẩm khác. Tuy nhiên, ông ta tỏ ra rất hối tiếc về sự thật này, nô lệ là một loại tiền tệ chung ở Sierra Leone, một thứ “hàng hóa” mà ông ta có thể đổi lấy bất cứ thứ gì gồm những hàng hóa như thuốc lá và rượu rum mà ông ta cần để trả nợ cho thuyền trưởng và các hướng dẫn viên an toàn. Nếu không có sự giúp đỡ của họ, ông ta sẽ phải tạm dừng các cuộc thám hiểm khoa học của mình – một chuyện mà ông ta sẽ không thể chấp nhận. Vì vậy, ông ta bắt đầu buôn bán nô lệ để đổi lấy hàng hóa khi cần thiết.

Như một chuyện tất yếu, vào năm 1774, Smeathman không chỉ dừng lại ở việc buôn bán nô lệ tại địa phương mà mở rộng sang các đồn điền ở châu Mỹ để giúp trang trải nghiên cứu của mình. Smeathman tiếp tục biện hộ cho sự tham gia của mình vào hoạt động buôn bán nô lệ trong các bức thư: thực tế cuộc sống ở đó đã đưa đẩy ông vào thương trường, ông ta nhấn mạnh. Nhưng lương tâm của ông ta thay đổi hoàn toàn. Trong một đoạn ghi chép, ông ta thú nhận, “Những đắn đo của tôi về việc buôn bán nô lệ đã biến mất”. Ông ta đã trở thành một phần của hệ thống mà ông ta ghê tởm.

Thật tuyệt khi những tội lỗi khoa học trong thời đại của Henry Smeathman đã lùi xa và bị chôn vùi – sau cùng thì nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương đã kết thúc vào đầu những năm 1800. Nhưng sự thật là, chúng ta mắc nợ thế giới quan khoa học hiện đại những cuốn sách như Principia Mathematica và Systema Naturae, cả hai đều được hoàn thành dựa trên nền tảng chế độ nô lệ. Thậm chí nghiêm trọng hơn, nhiều mẫu vật được thu thập thông qua hoạt động buôn bán nô lệ vẫn còn nằm trong các viện bảo tàng cho đến ngày nay.

Loại hàng hóa quan trọng nhất cho các bảo tàng bắt nguồn từ Hans Sloane, một bác sĩ và nhà tự nhiên học người London[*]. Khi còn là một thanh niên, Sloane thu thập mẫu vật ở các đồn điền ở Jamaica, và sau đó kết hôn với một người xuất thân từ một gia đình giàu có sở hữu nô lệ. Với sự giàu có đó, Sloane mua các bộ sưu tập từ các nhà tự nhiên học khác, và tích lũy được bộ sưu tập lịch sử tự nhiên lớn nhất thế giới với hàng chục nghìn món đồ. Thật đáng lo ngại, chúng bao gồm cả các mẫu vật người, như ông ta đã ghi trong một danh mục riêng: “Da phần cánh tay của một người da đen được tiêm [bằng] sáp đỏ và thủy ngân”; “Bào thai của một người da đen từ Virginia”; “Những viên đá từ âm đạo của một cô gái da đen châu Phi”. Sloane sử dụng bộ sưu tập này làm bàn đạp để trở thành chủ tịch của Hiệp hội Hoàng gia vào năm 1727, thay thế Isaac Newton.

Năm 1753, khi nghĩ đến cái chết của mình, Sloane đã làm một điều gì đó bất thường. Ông ta muốn trợ cấp tiền cho các con gái của mình, nhưng cũng muốn giữ nguyên bộ sưu tập, thay vì để nó bị phân tán trong các cuộc đấu giá. Vì vậy, trong di chúc của mình, ông ta đề nghị giao mọi thứ cho chính phủ Anh với giá 20.000 bảng Anh (3,1 triệu đô la ngày nay) để thành lập một viện bảo tàng. Để quyên góp tiền, chính phủ tổ chức một cuộc bốc thăm xổ số với vé 3 bảng Anh (470 đô la), và bất chấp một số giao dịch mờ ám – bao gồm việc các nhà tổ chức mua vé số lượng lớn và chia tỷ lệ, đợt bán xổ số này đã thu được 300.000 bảng Anh (47 triệu đô la). Vì các quan chức chính phủ muốn bảo tàng phục vụ công chúng nên họ gọi nó là Bảo tàng Anh. Nó nhanh chóng trở thành một trong những bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới. Sau đó, hầu hết các mẫu vật của Sloane đã được chuyển đến Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở London, một tín hiệu khác của nền văn minh. Các mẫu vật của Sloane – nhiều mẫu vật có liên quan trực tiếp đến chế độ nô lệ – trở thành bộ sưu tập nền tảng cho một số tổ chức văn hóa nổi tiếng nhất thế giới.

Công bằng mà nói, không có lý do gì để xóa sổ những bảo tàng đó. Các mẫu vật khác liên quan đến buôn bán nô lệ có thể được tìm thấy ở Oxford, Glasgow và Chelsea. Trên thực tế, hầu hết các bảo tàng lịch sử tự nhiên ở bất kỳ thành phố lớn nào của châu Âu – Paris, Madrid, Vienna, Amsterdam – đều trưng bày những món đồ có nguồn gốc tương tự. Chúng không chỉ nằm im lìm phủ bụi trên những chiếc kệ. Các nhà khoa học vẫn tham khảo các bộ sưu tập này để nghiên cứu quá trình thuần hóa thực vật và biến đổi khí hậu. Họ cũng trích xuất DNA từ các mẫu vật để nghiên cứu cách thực vật và động vật phát triển qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, hầu hết các nhà khoa học vẫn không biết nguồn gốc của những món đồ mà họ sử dụng.

Ngay cả nhiều nhà sử học cũng không hề hay biết sự thật phía sau nhưng một số nhà sử học, khi không thể tiếp tục ngoảnh mặt làm ngơ, đã bắt đầu phân tách nguồn gốc của các bộ sưu tập trong bảo tàng. Một số thậm chí còn muốn đưa khoa học vào cuộc thảo luận lớn hơn về vấn đề bồi thường nô lệ và di sản văn hóa của chế độ nô lệ. Như mọi người từng nói, các cuộc thảo luận về lợi nhuận của chế độ nô lệ thường được đóng khung “dướng dạng đồng đô la và tiền xu, bảng Anh và những đồng penni. Tuy nhiên, [lợi nhuận] cũng có thể được đo lường rõ ràng trong các mẫu vật được thu thập và các bài báo được xuất bản”.

Việc thừa nhận di sản này có thể gây đau đớn cho các nhà khoa học. Rốt cuộc, chẳng phải khoa học tiến bộ vì sự phát triển của thế giới hay sao? Chắc chắn rồi. Nhưng đó cũng là một nỗ lực của con người, những người có ý định nhưng lại dễ nản lòng, những người tập trung vào nghiên cứu và phớt lờ lương tâm đang thôi thúc của họ. Những người như Henry Smeathman.

Cuối cùng, những thỏa hiệp của Smeathman đã giúp ông ta đạt được điều mình muốn trong khoa học – cho đến thời điểm hiện tại. Tham gia vào hoạt động buôn bán nô lệ đảm bảo cho ông ta đủ nguồn cung cấp và hàng hóa thực hiện nhiều chuyến thám hiểm dài ngày đến các ụ mối, và thu thập được nhiều mẫu vật đến nỗi một nhà tài trợ sau đó đã phàn nàn về sự thừa thãi: “Nhà tôi không thể chứa được một nửa số đó”. Cuối năm 1775, sau bốn năm ở châu Phi, Monsieur Termite cảm thấy đã tích lũy danh tiếng khoa học cho bản thân đủ để quay trở về Anh, nơi ông tưởng rằng sẽ được chào đón như một vị anh hùng. Vì vậy, ông ta đã đóng gói các mẫu vật của mình và sắp xếp chuyến đi đến vùng Caribbe trên con tàu nô lệ Elizabeth.

Ngay khi Smeathman bước lên tàu, người thuyền trưởng đã thu giữ chiếc rương chứa mẫu vật các loài bọ và thực vật và đổ hết chúng ra ngoài. Người thuyền trưởng sau đó đã xếp tất cả số súng lục trên con tàu vào chiếc rương này vì nó có khóa chắc chắn để giữ súng an toàn trong trường hợp bạo loạn hoặc nô lệ nổi dậy. Nhưng người thuyền trưởng này sớm phải lo những việc lớn hơn vì con tàu Elizabeth bị rò rỉ như một mái nhà cũ nát và buộc họ phải liên tục bơm nước ra ngoài nếu không sẽ chìm. (Vài tuần sau khi họ đến Tây Ấn, con tàu bị lên án vì không đủ điều kiện hoạt động trên biển.) Trong số 293 nô lệ trên tàu Elizabeth, 54 người đã chết trên đường đến châu Mỹ.

Smeathman đã lên kế hoạch khởi hành đến Anh ngay sau khi cập cảng ở vùng biển Caribbe, nhưng một cơn sốt rét khác đã khiến ông ta trở nên tàn tạ trên hành trình vừa qua và không muốn đối mặt với những cơn gió mùa đông khắc nghiệt trong chuyến hành trình trở về Đại Tây Dương. Thay vào đó, ông ta quyết định nghỉ ngơi vài tháng.

Tuy nhiên, vào thời điểm ông ta cảm thấy bản thân đã hồi phục thì Chiến tranh Cách mạng Mỹ nổ ra, và những tên cướp biển Mỹ đã chiếm giữ các tàu buôn ở khắp nơi. Smeathman bất ngờ quyết định định cư ở Tobago và dành 4 năm tiếp theo để nghiên cứu lịch sử tự nhiên trên các hòn đảo khác nhau. Đáng chú ý nhất là ông ta đã nghiên cứu về loài kiến lửa Caribbe, lúc đó đang càn quét các hòn đảo khác nhau theo bầy lớn đến nỗi chính Moses phải kêu trời. Lũ kiến tấn công cả các loài động vật khác trên đảo, khiến những con ngựa, bò trơ xương chỉ sau một đêm. Người dân địa phương gọi bầy kiến là “những vụ nổ” (blasts).

Tuy nhiên, Smeathman dành phần lớn những năm tháng đó để suy ngẫm về chế độ nô lệ. Tây Ấn bình dị về nhiều mặt – tươi tốt, xanh mát, đầy những mẫu vật mới lạ – và ông ta dành nhiều ngày vui vẻ thực hiện những chuyến đi sưu tập các loài động thực vật. Tuy nhiên, ông ta thường lang thang gần một đồn điền, nơi tiếng đòn roi, sau đó là những tiếng la hét đã xé tan bầu không khí êm đềm ấy. Ông ta cũng chứng kiến những trận đòn roi công khai giáng xuống các nô lệ, cả đàn ông và đàn bà, và những vết sẹo dài chằng chịt trên cơ thể họ đã ám ảnh ông ta cả trong những giấc ngủ. (Những người chủ nô thường nhỏ sáp nến hoặc xát ớt vào vết thương để khiến vết loét trở nên trầm trọng hơn. Một số còn bôi trực tiếp nước ớt vào mắt nô lệ). Ở châu Phi, Smeathman vẫn có thể duy trì khoảng cách lớn với chế độ nô lệ. Nhưng sự tàn khốc của cuộc sống trong những đồn điền cao su đã nhắm trúng lòng trắc ẩn trong ông ta và ông ta quyết tâm chối bỏ chế độ nô lệ một lần nữa.

Smeathman cuối cùng cũng thực hiện được chặng cuối của tam giác thương mại và lên đường đến Anh vào tháng 8 năm 1779. Đương nhiên, trên hành trình, tàu của ông đã gặp cướp biển và tất cả các mẫu vật còn lại của ông ta – tương đương giá trị hàng năm lao động – đã bị ném hết xuống biển. Ông ta trở về Anh trong tình trạng tay trắng, và màn chào đón người hùng mà ông ta hình dung trước đó không bao giờ thành hiện thực. Ông ta đã trình lên Hiệp hội Hoàng gia một báo cáo được đánh giá cao về các gò mối. Nhưng vị chủ tịch hợm hĩnh của hiệp hội cho rằng Smeathman không đủ điều kiện trở thành một quý ông trong hàng ngũ của họ và đã ngăn chặn thành công cuộc bỏ phiếu bầu Smeathman trở thành đồng nghiệp của ông ta. Smeathman chắc chắn đã rất đau lòng, giấc mơ trở thành một nhà khoa học lịch lãm đã tan thành mây khói.

Nhưng ông ta đã xốc lại tinh thần và phấn đấu trở thành một giảng viên khoa học, kể cho đám đông say mê về cuộc phiêu lưu của mình với kiến và mối. Smeathman cũng trở thành thành viên của phong trào bãi nô. Trên thực tế, ông ta luôn kết thúc các bài giảng khoa học của mình bằng tóm tắt ngắn về chế độ nô lệ, “chính sách khét tiếng đó”, như ông ấy từng nói, “là thứ làm suy thoái cả loài người [tức là cả chủng tộc] để nuông chiều sự xa xỉ của một số ít người khác.”

Có lẽ cảm thấy tội lỗi về những quãng ngày buôn bán nô lệ của mình, ông ta cũng bắt đầu gây quỹ để thành lập một quần tộc nông nghiệp ở Sierra Leone cho người da đen tự do. Quần tộc này bao gồm những nô lệ trung thành ở Bắc Mỹ, những người đã bắt tay với người Anh để chống lại chủ nhân của họ trong Chiến tranh Cách mạng. Hàng trăm đàn ông và phụ nữ đã đăng ký, trong đó có hàng chục cặp đôi đa chủng tộc, những người chỉ đơn thuần là muốn sống ở một nơi nào đó không bị quấy rầy. Smeathman thậm chí còn đến Paris để gặp Benjamin Franklin và tìm kiếm sự ủng hộ của một người Mỹ nổi tiếng cho kế hoạch này. (Khi ở đó, Smeathman tình cờ quan sát chuyến bay khinh khí cầu đầu tiên trên thế giới vào năm 1783, nhờ sự giúp đỡ của anh em nhà Montgolfier. Cảnh tượng này đã truyền cảm hứng cho Smeathman thiết kế một quả khinh khí cầu hình điếu xì gà với đôi cánh của riêng mình mà ông ta hy vọng sẽ chứng minh được độ bền cao hơn quả khinh khí cầu của anh em nhà Montgolfier.)

Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 1786, chỉ vài tháng trước khi những người định cư lên kế hoạch khởi hành đến châu Phi, Smeathman bị một trận sốt rét hạ gục. Các quốc gia Nam Mỹ khi đó vẫn tích trữ quinin, và chỉ ba ngày sau trước khi bất cứ ai có thể mua cho ông ta một ít quinin – ông đã qua đời. 400 người dân sẽ định cư ở miền đất mới vẫn ra khơi vào cuối năm đó, nhưng khi đến nơi vào giữa mùa mưa, và không có các mối quan hệ cùng chuyên môn của Smeathman, họ đã phải ăn xin thức ăn để tồn tại. Trong vòng 3 tháng, một phần ba đã bỏ mạng. Cuối cùng, một tù trưởng địa phương đã đuổi những người khai hoang còn lại đi và đốt phá lán của họ, khiến giấc mơ cứu rỗi vĩ đại của Henry Smeathman tan thành mây khói.

Dù chết sớm, song Smeathman đã thúc đẩy chủ nghĩa bãi nô theo một cách thực tế dù chỉ gián tiếp. Vào đầu năm 1786, ông viết một bài báo bày tỏ quan điểm của mình về quần tộc Sierra Leone, và hai nhà khoa học Thụy Điển đã đọc được nó, một kỹ sư khai thác mỏ tên là Carl Wadström và một nhà thực vật học tên là Anders Sparrman, những người đã được truyền cảm hứng để tự mình đến châu Phi vào cuối năm 1787. Họ đã mường tượng ra chuyến đi này, song cuối cùng lại cập một cảng nô lệ của Pháp ở Senegal. Những gì họ được chứng kiến trong vài tháng tiếp theo khiến họ thất kinh – và không giống như Smeathman, họ không thể gắn bó đủ lâu để chờ sự phẫn nộ của bản thân dịu đi.

Thay vào đó, họ trở về London và bắt đầu mua vui cho mọi người bằng những câu chuyện về “ngục tối nô lệ”; những người đàn ông và phụ nữ “bị xiềng xích và phải nằm trên vũng máu của chính mình”. Họ cũng tiết lộ một âm mưu độc ác của Pháp về việc mua nô lệ với giá rẻ mạt. Thay vì liều mình trong các cuộc đột kích, người Pháp sẽ bán vũ khí cho hai bộ tộc đối địch và kích động chiến tranh giữa họ. Tất nhiên, một bên sẽ bắt kẻ thù của họ làm tù binh, và lúc đó quân Pháp sẽ tiếp cận để mua những người bị bắt. Wadström mô tả hậu quả của một cuộc chiến như vậy, khi bộ tộc chiến thắng tiến vào cảng cùng những con người sắp trở thành nô lệ, hát, vỗ tay và thổi kèn: “Chứng kiến tiếng thét và sự thống khổ của một bên và niềm hân hoan hạnh phúc của bên còn lại, xen lẫn âm thanh của các loại nhạc cụ, tôi nhận ra mình chưa từng chứng kiến cảnh tượng nào khủng khiếp đến vậy”. Có lẽ điều đáng ghê tởm nhất, điều Sparrman và Wadström không cần phải đào bởi nhiều để vạch trần, là những kẻ buôn nô lệ người Pháp đã khoe khoang về sự thông minh của họ.

Người Thụy Điển cuối cùng cũng xuất hiện trước Hạ viện và Hội đồng Thương mại Anh, và lời khai của họ đã gây chấn động ở London – vì cả những gì họ tiết lộ cũng như vì họ là ai. Đây là những năm 1780, cao trào của thời kỳ Khai sáng, và các nhà khoa học vào thời điểm đó được coi là những người không thể chê trách – những nhân chứng đáng tin cậy về các vấn đề lớn mà xã hội đang phải đối mặt. Kết quả là, nhiều người từng do dự lên án chế độ nô lệ trước đây bỗng nhiên chuyển sang ủng hộ chủ nghĩa bãi nổ. Bởi nếu các nhà khoa học cho rằng buôn bán nô lệ là xấu xa thì họ là ai mà dám tranh luận?

Chắc chắn người Thụy Điển không tự mình chấm dứt việc buôn bán nô lệ ở Đế quốc Anh. Người châu Phi đã làm điều đó. Những nô lệ được trả tự do như Olaudah Equiano và Nhóm những đứa con của châu Phi (Sons of Africa) công bố những lời khai kinh khủng, cuộc nổi dậy kéo dài, đẫm máu và cuối cùng đã mang lại thành công cho nô lệ ở Haiti vào những năm 1790 khiến dư luận Anh đặt câu hỏi về những gì chính phủ của họ đang ủng hộ. Nhà thờ Giáo Hữu hội cũng xứng đáng được ghi nhận vì cuộc chiến lâu dài, cô độc nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ. Nhưng như Thomas Clarkson, người theo chủ nghĩa bãi nô hàng đầu từng nói, ngay sau khi các nhà khoa học Thụy Điển công khai, “Làn sóng... vốn từng kịch liệt chống lại chúng tôi, giờ đây đã bắt đầu xuôi theo chúng tôi”. Bằng cách này, Wadström và Sparrman đã giúp nền khoa học lấy lại chút thể diện sau thời gian dài vướng vào chế độ nô lệ, và trở thành động lực tích cực để chấm dứt chế độ này.

Smeathman qua đời trước khi ông ta có thể thực hiện ước mơ trở thành thành viên của Hiệp hội Hoàng gia. Thật cay đắng khi biết rằng, xã hội từng tôn vinh các nhà khoa học tai tiếng khác nhưng lại chối bỏ ông ta. Cụ thể, một bác sĩ y khoa và là người cùng thời với Smeathman, đã cầm đầu một băng nhóm tội phạm có tổ chức trắng trợn nhất trong lịch sử khoa học, trộm hàng trăm ngôi mộ để thu thập xác chết phục vụ mục đích giải phẫu.

Trên thực tế, các bác sĩ xứng đáng có một góc đặc biệt trong biên niên sử của một ngành khoa học tội lỗi. Do đặc thù công việc thường xuyên làm việc trực tiếp với con người, các bác sĩ cũng thường chạm tay vào khoa học. Nhưng làm việc với con người cũng kéo theo những thế lưỡng nan đạo đức và cả cơ hội mới để thực hiện hành vi lạm dụng.


Mục lục

11,713 từ

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Phong Thần ChâuĐang ra
Phong Thần Châu

Oa Ngưu Cuồng Bôn

10919 chương7.2
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1