TruyenVip

Ông Tướng Tình Báo Và Hai Bà Vợ

Ông Tướng Tình Báo Và Hai Bà Vợ - Chương 18

Mục lục

Đã vào mùa thu năm 1971. Chị Phạm Thị Thoa, hay nói đúng ra là ông Hòa đã giúp cô con dâu, giải quyết được hai việc hệ trọng. Trong những ngày quá vui mừng vì các con trưởng thành, chị Phạm Thị Thoa quên hẳn mình. Tiễn "bé" Thanh vào làm thợ tiện trong nhà máy quân giới X10, chị sung sướng lắm. Ở nước ta, vào những năm chiến tranh, việc tuyển lựa công nhân nhà máy chuyên sản xuất vũ khí rất cẩn thận. Thằng Thanh của chị khó có hy vọng lọt qua mọi thủ tục kiểm tra lý lịch, nếu bố chồng chị không đứng ra bảo lãnh cho cháu đích tôn.

Tiễn con trai đi rồi, chị Thoa lại tiễn con gái về nhà chồng. Băn khoăn duy nhất của chị là anh không có mặt để dự đám cưới con gái và dù rất muốn, người sắp trở thành cô dâu không có cách gì báo tin mừng cho bố, vì không ai biết địa chỉ của bố. Ông Hòa an ủi cô cháu gái.

– Cháu muốn ông hay mẹ cháu thay mặt họ hàng nhà gái?

– Ông ạ!

Ông cười khà khà.

– Ông thay mặt cho cả bố cháu nữa. Chẳng qua là ông muốn có khăn vàng.

Hạnh hỏi lại, vẻ ngớ ngẩn:

– Sao ông lại thích khăn vàng?

Chị Thoa cốc nhẹ lên đầu con, mắng yêu:

– Chị đã hai mươi tuổi, đã về làm dâu nhà người ta sao còn ngốc nghếch thế? Ông nội đang mong có chắt. Chắt sẽ chít khăn vàng để tang cụ.

Hạnh cười, hỏi luôn:

– Nếu con của chắt...

Hạnh lấy tay che miệng vì cho rằng mình đã nói điều gở.

Ông nội gật gù:

– Mong sao ông sống tới ngày đó để ông lên chức kỵ và chít của công sẽ dùng khăn đỏ cho ông.

Tiễn con gái, con trai đi rồi, chị bỗng thấy túp lều trở nên quá rộng, quá trống trải. Vắng hai con, cuộc sống của chị thay đổi hẳn. Chị ăn uống thất thường hơn vì ngại đi chợ, ngại đỏ lửa, chị nấu một bữa ăn hai bữa. Giờ nghỉ, chị dành để chăm vườn rau, chăn nuôi đàn gà. Chị dồn trứng gà để gửi cho vợ chồng con gái hoặc cho Thanh. Hạnh, Thanh rất ái ngại cho mẹ. Hạnh bàn với chồng và em trai về số phận của mẹ. Làm sao cho mẹ khỏi buồn? Đón mẹ lên Đông Anh ở với vợ chồng Hạnh ư? Chắc mẹ không đồng ý bỏ công tác. Mẹ không có nhà ở Hà Nội và mẹ không có ý định về sống chung với ông ở quê nội. Phương án hay nhất là Thanh cưới vợ, lấy cô gái là nông trường viên nhưng cậu ta mới mười tám tuổi. Trước mắt, vợ chồng Hạnh và Thanh phải thay nhau về với mẹ ít nhất mỗi tuần một lần.

Đầu tháng 8 - 1971, chị Thoa được gọi lên phòng tố chức của nông trường. Ông trưởng phòng, mặt lạnh như tiền, trao cho chị quyết định:

– Lãnh đạo nông trường đã quyết định chị nghỉ mất sức lao động. Chị về trạm xá bàn giao công tác.

Chị Thoa đứng lặng. Mất một phút chị không có phản ứng gì, không nói được lời nào. Thời đó, tuy có thói quen phục tùng tuyệt đối mọi đòi hỏi của tổ chức song chị Thoa vẫn đưa ra câu hỏi:

– Tôi bảo đảm đủ ngày công. Tôi không ốm sao lại về mất sức?

– Đợt này nông trường ta giải quyết chế độ không phải cho một mình chị mà cho nhiều người khác. Bác sĩ kết luận là chị bị sút cân, luôn mất ngủ.

Điều này thì chị Thoa không chối cãi. Từ ngày vắng hai con, chị gầy tới ba kí-lô-gam, da chị xanh hơn, ăn kém ngon, ngủ không đẫy giấc nhưng chị chưa bỏ buổi nào. Chị đề nghị:

– Sang năm tôi tròn năm mươi tuổi, đúng tuổi về hưu của nữ. Tôi muốn ở lại công tác mấy tháng nữa để nhận chế độ hưu.

Ông trưởng phòng lắc đầu, giọng cương quyết:

– Xin chịu. Chúng tôi không dám chống lại ý kiến của chuyên môn.

Chị Thoa tủi thân quá! "Sao người ta lại đẩy chị về vào thời điểm này?" Chị thiệt thòi quá! Sau mười bảy năm công tác liên tục, chị lên được một bậc lương, chị có nên phát biểu về vấn đề này không? Liệu bạn bè, lãnh đạo có lên án chị là cá nhân chủ nghĩa, là đòi hỏi hưởng thụ không? Gần đây, chị được xem văn bản quy định chính sách của Nhà nước ta. Nếu chị ở lại công tác khoảng nửa năm nữa, chị sẽ được hưởng chế độ hưu với mức thu nhập hàng tháng bằng 70% mức lương mà chị đang nhận.

– Các anh đã quyết định, tôi xin chấp hành. Tôi muốn xin lại hồ sơ của mình.

Ông trưởng phòng dễ dãi.

– Có ngay. Xin đáp ứng yêu cầu của chị.

Về nhà, chị nằm vật ra giường, trăn trở. Chị mở tập hồ sơ ra xem. Bất ngờ, chị đọc lại lá đơn xin vào Đảng của chị, có kèm theo lý lịch, nhận xét của chi bộ, ý kiến người giới thiệu thứ nhất; thứ hai. Chị thực sự đau xót, tới mức không tin ở mắt mình khi đọc ở góc tờ đơn có vẻn vẹn ba chữ: "Gác lại - Yếu". Ai đã viết nhận xét này? Chị chưa từng nghe phổ biến là chị còn yếu về lập trường quan điểm; về tinh thần công tác; về lý lịch hay về sức khỏe? Có lẽ chị yếu toàn thân. Vấn đề đó lúc này không cần thiết nữa mà quan trọng nhất là cuộc sống tương lai của chị. Chị có nên về Hà Nội không? Cái "hợp đồng bằng miệng" giữa chị và cô Tuyết Mai vẫn còn giá trị vì anh vẫn công tác trong lòng địch, cái nguy cơ địch phát hiện ra anh vẫn còn và cái lý do mẹ con chị không nên ở Hà Nội vẫn chưa thay đổi. Không một ai giúp chị điều nhỏ bé đó. Cô Tuyết Mai không còn giữ mối liên hệ với chị và thật tiếc là chị không lần nào thấy anh trong mơ: Anh ở đâu, anh còn chung sống với Cẩm Nhung không? Anh đang giữ trọng trách hay bị địch bắt? Chao ôi, giá có ai làm phúc, làm đức bịa ra chút tin tức gì về anh cho chị, chị sẽ hạnh phúc biết bao! Như người đang sắp chết đuối, chị muốn có cái phao hoặc tối thiểu là một cọng rơm để nuôi hy vọng sống nhưng chuyện lạ đó không đến với chị. Chị phải sống ở nông trường, phải gạt bỏ sang bên ý định quay về Hà Nội vì cần phải bảo vệ an toàn tuyệt đối cho anh.

Đã sang năm 1972. Vợ chồng Hạnh cùng với Thanh cố thuyết phục mẹ rời về Đông Anh. Chị từ chối:

– Mẹ không muốn rời nông trường. Ở đây mẹ có nhiều bạn đã chung sống gần hai chục năm. Mẹ tiếc nương sắn, vườn rau, đàn gà lắm. Cái Hạnh cứ lên đây mà đẻ, mẹ sẽ chăm sóc cả hai mẹ con.

Hạnh đưa mắt cho em trai. Cái lý do chủ yếu mà ba "nhà thuyết khách" dựa vào để thuyết phục mẹ là "ngày sinh con của Hạnh, vợ chồng Hạnh cần được bà trông nom cháu ngoại" đã bị bà đề cập đến trước. Đón được ý định của chị, Thanh lên tiếng:

– Mẹ! Nhà máy X10 của con ở gần Phủ Lỗ. Nếu mẹ về sống chung với chị Hạnh, ngày nào con cũng về thăm mẹ được.

Mẹ hỏi lại:

– Nếu nhà máy con được lệnh sơ tán thì sao?

Mẹ gợi ý:

– Giặc Mỹ chưa ngừng ném bom. Đông Anh và nhà máy quân giới của Thanh đều là trọng điểm. Mẹ cứ giữ chỗ ở tại nông trường làm hậu cứ cho gia đình chúng ta.

Ý kiến mẹ khá chính xác. Trước ngày Mỹ ném bom B52 xuống Hà Nội, Hạnh sinh con đầu lòng. Chị Thoa mừng đón cháu ngoại song từ trong thâm tâm cộm lên điều gì đó khá trớ trêu. Chị không góa chồng, vợ chồng chị không ly hôn, tại sao chồng chị không có mặt ở đám cưới con và cũng không được bế ẵm cháu ngoại? Đâu phải chồng chị đã chết hay hai vợ chồng có điều gì giận dỗi nhau? Anh và chị rất yêu nhau; anh và chị đang sống trên cùng một đất nước ở cách xa nhau chưa đến hai ngàn km mà chị không sao gặp được anh hoặc có chút tin tức gì về anh. Anh và chị đã xa nhau mười tám năm đằng đẵng. Chị là người. Chị có trái tim, khối óc và đôi chân khỏe mạnh nên chị dư sức cuốc bộ ngày hai lăm ki-lô-mét. Tại sao chị dại dột không tìm đến với anh? Anh còn nhớ hay đã quên mẹ con chị? Ngày nào chia tay, Hạnh chưa tròn bốn tuổi, tóc chị còn đen. Giờ đây, chị đã về mất sức, mái tóc có nhiều sợi bạc và bé Hạnh năm nay đã lên chức mẹ, sao anh vẫn chưa về? Anh ở đâu? Anh có biết là đã lên chức ông ngoại rồi không?

Cuối năm 1972, cụ Hòa lên Đông Anh thăm chắt nội. Cụ bàn với con dâu:

– Thầy quen với mấy ông cấp tá, cấp tướng bên quân đội tham gia ban Liên hợp quân sự bốn bên. Các ông ấy vào Sài Gòn. Thầy định đề nghị họ chú ý tìm chồng con.

Chị nên đồng tình hay phản đối bố chồng? Ông Hòa đã sang tuổi bảy mươi rồi. Ông đã xa con trai cả, người con sẽ kế vị ông già ngôi trưởng tộc từ sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Ông đã gần đất, xa trời rồi. Sau hai mươi bảy năm không gặp mặt con trai, ông nôn nóng nhận được chút tin tức gì đó của con nên ông không bỏ qua cơ hội mà ông đã nắm được. Chị Thoa từ tốn:

– Thưa thầy. Anh Bình con trèo cây đã gần ngày ăn quả rồi, nếu con và thầy nôn nóng sẽ ảnh hưởng tới anh. Con nghĩ là thầy chỉ nên chọn một đầu mối, một người tin cậy nhất để nhờ vả. Hay là thầy gọi điện thoại cho Tuyết Mai, nhờ cô ấy giúp.

Ông Hòa trầm ngâm:

– Có lẽ con đúng. Thầy thương con lắm! Vợ chồng con cách biệt tới mười tám năm rồi. Thầy cũng già yếu hơn trước nên mong gặp được chồng con trước ngày thầy nhắm mắt, xuôi tay. Thầy không nghĩ sâu xa được như con. Thầy muốn con rời bỏ nông trường để về quê ta hoặc về Đông Anh với vợ chồng cháu Hạnh. Con cũng có tuổi rồi. Ở nông trường, con không có ai là họ hàng thân thích để nhờ vả lúc tắt lửa, tối đèn .

– Con xin nghe lời thầy.

Chị Thoa đã tính toán kỹ. Chị chưa định chia tay với nông trường. Chị kiểm kê tài sản của mình. Cái chum đựng nước bị vỡ một miếng chắc chả ai thèm rước đi. Chị đẩy cái thùng đựng gạo đã vét đến hạt cuối cùng vào gầm giường. Chị đưa đôi chiếu, bát, đĩa, hai cái nồi gửi bên hàng xóm. Chị xếp cái chăn bông, ba lô quần áo vào một bên, bên kia là cái lồng gà có bảy con gà mái, đôi gà trống thiến. Chị sẽ gánh bộ ra ga Vũ Ẻn rồi xuôi tàu về Đông Anh. Cũng như nhiều cán bộ khác, thời đó không ai nghĩ tới giầu, nghèo và chả ai lo đói.

Đầu tháng 4 năm 1973, Phạm Thị Thoa về ngoại thành Hà Nội thăm bố chồng và họ hàng bên nội. Ông Hòa buồn bã báo tin:

– Không ai biết tin chồng con cả. Chả nhẽ...

Từ nhiều năm qua, ông Hòa thường lởn vởn ý nghĩ là con ông đã hy sinh. Không dưới một lần, ông định khuyên con dâu đi bước nữa nhưng có cái gì cứ chẹn ngang cổ họng ông, khiến ông không thốt nên lời. Lần này, ông buột miệng nói đến cái điều mà ông không bao giờ mong là sẽ xảy ra. Đón được ý bố chồng, chị Thoa gượng cười :

– Con tin là nhà con rất an toàn. Nếu anh ấy có mệnh hệ gì, cô Tuyết Mai phải tìm đến con rồi.

– Thầy rất mong ngày vợ chồng con đoàn tụ. Từ ngày con về làm dâu đến ngày con lên chức bà ngoại, thầy chưa thấy vợ chồng con gần nhau hạnh phúc phút nào. Thầy cám ơn con.

– Xin thầy tha lỗi cho con. Con về làm dâu nhưng phụng dưỡng thầy được ít quá. Con rất áy náy.

– Ơn trời, thầy còn khỏe mạnh. Thầy vui vì có các em gái, em trai của chồng con săn sóc chu đáo. Thầy luôn nghĩ đến con. Con thật là tội nghiệp, đáng thương. Con hy sinh tuổi thanh xuân của con để chờ đợi chồng con.

Giọng ông Hòa trầm trầm song toát lên tình thương và niềm thông cảm đặc biệt với hoàn cảnh con dâu. Phạm Thị Thoa xúc động lắm. Đây là phần thưởng vô giá đối với chị. Chị nói với bố chồng:

– Thưa thầy, con tự nguyện hy sinh vì nhiệm vụ của chồng con. Con tự hào và không chút ân hận về việc con đã làm.

– Cám ơn con!.

Cũng như mọi công chức của chế độ Sài Gòn, vào những ngày của hạ tuần tháng 4-1975, ai cũng công khai bàn đến đi hay ở. Những người muốn đi tăng vọt lên từ sau khi ông già lẩm cẩm Trần Văn Hương ngồi vào ghế tổng thống. Người dân Sài Gòn kể lại cho nhau nghe về bài diễn văn từ chức mà Nguyễn Văn Thiệu đọc hồi 20 giờ 05 phút ngày 21-4-1975. Thiệu vừa khóc, vừa hậm hực chửi Mỹ: "Các ông bỏ chạy và để mặc chúng tôi làm cái việc mà các ông làm không xong. Chúng tôi không còn gì hết thế mà các ông lại muốn chúng tôi hoàn thành cái điều mà các ông không hoàn thành nổi". Thiệu bộc lộ nỗi giận dữ khi buộc tội Mỹ "Khi ký hiệp định hòa bình Pa-ri, Mỹ đã thỏa thuận trang bị trên cơ sở một đổi một. Mỹ đã không giữ lời hứa. Ngày nay, ai còn tin vào lời hứa của Mỹ nữa hay không ?

Hòa theo mọi người, Hai Lâm luôn đề cập đến vấn đề đi hay ở. Đây không phải là nguyện vọng của anh mà anh phải nắn gân từ viên tướng đến đại tá Phi Hổ và những kẻ đầy quyền hạn trong Tổng nha An ninh quốc gia. So với các cơ quan khác, những nhân viên tại Tổng nha An ninh bình thản hơn và chú ý tới công việc hơn. Có bao việc tên tướng ra lệnh làm: thiêu hủy hồ sơ, dựng hồ sơ giả để trong két sắt, gài những điệp viên sừng sỏ chui vào hàng ngũ ta.

Hai Lâm "đọc” được những âm mưu vô cùng thâm độc của kẻ thù. Chính anh đã chứng kiến một vụ dựng hồ sơ giả công phu và hết sức tinh vi, xảo quyệt. Đồng chí Nam, một cán bộ cao cấp của ta bị địch bắt. Anh đã trải qua 11 lần hỏi cung nhưng không khai báo gì. Anh đọc khá kỹ, có sửa chữa và ký tên dưới bản cung. Trong 11 lần hỏi cung đó, địch đã thu tiếng nói của anh trong băng ghi âm. Ở cuối mỗi cuộn băng, anh đều tuyên bố là đã nghe lại từ và thừa nhận là chính anh đã nói.

Nhờ hai cơ sở trên đây, địch có trong tay ba yếu tố cơ bản về anh: chữ viết, chữ ký và tiếng nói. Muốn dựng hồ sơ giả về anh, chúng tạo ra biên bản hỏi cung lần thứ 12. Do không chịu tra tấn, do quá mệt mỏi, ốm thập tử nhất sinh, anh đã nhượng bộ để được điều trị, được ăn uống tẩm bổ. Một nữ điệp viên trẻ, đẹp đóng vai hộ lý đã quyến rũ được anh. Anh đã đồng ý hợp đồng nhận làm tay sai cho địch. Hồ sơ của anh để lẫn trong hồ sơ của những tên phản bội đã thực sự đầu hàng địch khác.

Hai Lâm rùng mình. Anh phải làm sao để có bằng chứng minh oan cho các đồng chí đảng viên, cán bộ trung thực, chân chính bị kẻ địch bôi nhọ danh dự và phải vạch mặt, kết tội chính xác những tên phản bội? Anh chưa thể rời Tổng nha An ninh vào lúc này. Nếu không nắm được toàn bộ "những con cáo đang hóa trang thành cừu non" địch cài lại, anh cũng phải có trong tay phần lớn danh sách bọn này.

Anh không ngần ngại khi trao đổi với Cẩm Nhung về tương lai của gia đình. Anh kể cho vợ nghe về mọi dự định "đi" và "ở” của những người trong Tổng nha An ninh. Có loại định giải nghệ sang Mỹ buôn bán; có số người muốn viết hồi ký riêng; có lớp người ký hợp đồng nhận lương với Mỹ, trở thành người của CIA. Sáng nay, một chuyên viên do tướng tình báo Mỹ Ti-mết tìm đến Hai Lâm thương lượng:

– Ông bà định chọn Nữu ước hay Oa-sinh-tơn? Người Mỹ không bao giờ quên các cộng sự của mình. Chúng tôi bảo đảm rằng cuộc sống của ông bà và các cháu sẽ không thua kém - nếu không nói là hơn gấp bội hiện nay.

Hai Lâm trầm ngâm:

– Tình thế chưa bi quan đến như thế đâu, thưa ngài. Bao giờ đại sứ Ma-tin rời khỏi đất nước này, gia đình tôi sẽ đi theo đại sứ.

– Tôi e rằng đến lúc đó mọi việc sẽ quá muộn! Là đồng nghiệp, tôi thành thật khuyên ông nên thu xếp đưa bà Cẩm Nhung và bốn cháu đi trước. Với ông, ông dư sức kiếm chỗ ngồi nào đó trên trực thăng chuồn ra hàng không mẫu hạm gần nhất.

– Cá nhân tôi, tôi xin cám ơn và ghi nhận thiện chí của ngài. Để tôi bàn với Cẩm Nhung. Có lẽ nhà tôi sẽ đưa các cháu về Pa-ri với ông Giô-dép.

Hai Lâm nóng lòng chờ đợi quyết định của Trung tâm. Chị Ba sẽ đưa Cẩm Nhung và Nguyễn Thanh, Cẩm Phượng, Cẩm Hạnh, Nguyễn Nam vào chiến khu và anh sẽ nghĩ cách "lặn" sao cho êm hay là anh tiếp tục sứ mạng đang đảm nhiệm? Anh nên cho vợ con sang thủ đô Hoa Kỳ cắm trên đất Mỹ hay số phận anh sẽ ra sao? Ván bài của Mỹ đang chơi ở Việt Nam chưa ngã ngũ, anh chưa thể ra đi hoặc "lặn" vào thời điểm này. Liệu Mỹ đã nhả Việt Nam chưa? Trần Văn Hương quá già, sức lực đã suy kiệt và uy tín trong dân chúng không có, không rõ lão ta sẽ chèo chống con thuyền Việt Nam ra sao? Anh lái ô tô chở theo con King đến gặp Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ bình phẩm:

– Giống chó béc-giê khôn cực kỳ. Hơn chục năm không gặp nhau thế mà King và Waking nhận ra nhau ngay. Phải bán nó đi thì tức quá!

– Bán? Anh nỡ bán Waking và bầy chó quý của anh?

– Tình thế không thể đảo lộn được nữa rồi. Đến một chỗ trên máy bay phản lực cho người còn chưa xoay xở thì làm sao đưa được đàn chó đi. Tôi khuyên anh nên bán con King này đi khi còn người mua và còn được giá.

– Anh mà cũng tuyệt vọng như vậy sao?

- Moa không chịu bó tay. Moa dư sức xoay chuyển tình thế nhưng...

Kỳ kể cho anh nghe việc hắn đã làm. Thì ra đã từ lâu, Lầu Năm Góc đưa sang Việt Nam nhằm phá rừng làm sân bay một loại bom mới gọi là Đêtrei Cúttơ nặng tới 7500 ki- lô gam. Do sức tàn phá của loại bom chứa gần 7 tấn thuốc nổ cực kỳ ghê gớm, nên Mỹ - ngụy chưa dám cho Đêtrei Cúttơ xung trận và vì thế họ để hỏng giá đỡ bom trên máy bay. Không thể bàn với ai việc quân sự hết sức bí mật đó, tướng Mỹ Smith đến cầu cứu Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ gặp đại tá không quân Vũ Văn Ước yêu cầu Ước trực tiếp trông coi. Chính Smith, Kỳ, Ước đã có mặt trong ngày quả bom Đêtrei Cúttơ lắp lên máy bay C130 và đã nghe báo cáo về kết quả ném quả bom đó xuống Xuân Lộc...

Nhận thấy loại bom Đêtrei Cúttơ không cứu vãn được tình thế, tướng Uyân và Smith quyết định cho dùng bom CBU55. Chưa có phi công ngụy nào được đào tạo để ném bom CBU55. Ở Việt Nam chỉ có một máy bay C130 duy nhất có thiết bị để "thồ" bom chùm khổng lồ CBU55, nhưng đang để bảo quản tại căn cứ quân sự của Mỹ. Được sự đồng ý của thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Vôn Mác-bốt, lúc đó đang có mặt tại Sài Gòn, chiếc C130 đó được giao cho không quân Việt Nam, cho Nguyễn Cao Kỳ. "Chủ nhà” sẽ xịt lên thân máy bay một lớp sơn, xóa sạch vết cờ Mỹ. Không phải tổng thống Mỹ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam kính trọng hay tin tưởng mà ngược lại những người Mỹ có chức, có quyền ở Sài Gòn luôn cảnh giác với Kỳ, thậm chí đã trực tiếp cảnh cáo Kỳ nếu viên tướng đầu sỏ này dại dột giở trò đảo chính, nhưng họ phải nhờ vả Kỳ vì chỉ có viên tướng hiếu chiến này của không quân mới ủng hộ mọi ý định dùng sức mạnh quân sự của Mỹ. Chính Kỳ đã trông coi việc xóa cờ Mỹ trên chiếc C130. Phi công Mỹ cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đã ném bom CBU55 xuống Xuân Lộc. Theo lý thuyết; sau khi bom nổ sẽ gây nên bão lửa trên mục tiêu và sẽ không còn khả năng sống sót của một sinh vật nào trong khu vực bom nổ. Nhưng mọi việc không suôn sẻ.

Nguyễn Cao Kỳ nói với Hai Lâm:

– Rất tiếc là bom CBU55 không xoay chuyển nổi tình thế ở Xuân Lộc. Moa vừa gặp Trân Văn Hương về.

– Có việc gì vậy?

– Tôi đã nói thẳng với Hương: "Xin tổng thống giao việc quân sự cho tôi. Tôi đủ sức xoay chuyển tình thế". Hương im lặng. Tôi đòi hỏi ráo riết hơn: “Xin Tổng thống bổ nhiệm tôi là Tư lệnh quân lực. Xin cho tôi một chức vụ chính thức để tôi có thể nêu cao danh dự Việt Nam".

– Hương trả lời anh ra sao?

– Ôi, lão già nhút nhát! Ông ta nói rằng "Không thể làm như vậy được. Một người đã là phó tổng thống và thủ tướng không thể đột nhiên trở lại làm Tư lệnh quân lực. Có lẽ vài ngày nữa, tôi sẽ bổ nhiệm thiếu tướng làm phụ tá đặc biệt về quân sự". Bực quá tôi gào lên: "Tổng thống không thể đợi được vài ngày đâu. Tôi không cần nghi thức. Tôi muốn lãnh đạo quân đội ngay bây giờ".

Hai Lâm thăm dò:

– Như vậy anh phải chờ?

– Tôi không chờ Hương nữa. Tôi sẽ gặp Vôn Mác-bết kiến nghị phương án phòng thủ mới của đất nước.

Theo dự kiến của Nguyễn Cao Kỳ, toàn bộ lực lượng còn lại của quân ngụy sẽ rút về phòng thủ Quân khu IV và Quân đoàn IV chờ nhận viện trợ của nước ngoài theo đường biển vào. Do lực lượng của Quân đoàn IV chưa bị sứt mẻ nên đủ sức cầm cự để có điều kiện thương lượng với cộng sản.

Chia tay với Nguyễn Cao Kỳ, anh về bàn với Cẩm Nhung:

– Em nên rời Sài Gòn sớm, đưa các con sang Pháp với ông ngoại. Anh như người trồng cây sắp tới giờ hái quả rồi nên không thể cùng đi với gia đình. Anh phải chờ lệnh của Trung tâm. Nếu anh sang Mỹ, anh sẽ về Pa-ri đón em và các con. Trường hợp anh ở lại Việt Nam, em sẽ đưa các con về.

Cẩm Nhung thấy cách giải quyết của chồng hợp tình, hợp lý. Chị rất muốn nhân dịp này về thăm ông Giô-dép và để các con được đến thủ đô Pa-ri hoa lệ. Chị biết việc làm của chồng. Anh không thể rời Sài Gòn vào giây phút mà chiến thắng đã gần kề. Chị bàn với anh:

– Ta cứ giữ anh bồi và cô sen ở lại để sinh hoạt trong gia đình không xáo trộn..

– Em đừng lo cho anh. Anh bồi và cô sen rất có công với gia đình ra. Anh sẽ cấp vốn để anh và chị ấy về quê sinh sống. Nếu họ đi rồi, anh sẽ ăn ở khách sạn.

– Liệu anh ngủ ở nhà một mình có an toàn không? Hay là ta đừng bán con King.

– Không nên! Với các bạn bè ở Tổng nha, anh phải tỏ rõ quyết tâm ra đi, bám theo chủ cũ. Anh không có lý do gì để ở lại Việt Nam. Viên tướng cũng không yêu cầu anh "chui vào hàng ngũ Việt Cộng". Vì thế, ta không thể không bán con King.

Cẩm Nhung lo lắng lắm. Gần 20 năm làm vợ anh, chị đã giữ trọn vẹn điều bí mật của anh vì chị quá yêu anh. Chị không thể đem tâm sự của mình trao đổi với các con vì các con chị chưa đủ trưởng thành để hiểu điều hệ trọng mà ba của chúng đã làm, đang làm. Chị trao cho anh đôi hoa tai:

– Anh giữ lại vật kỷ niệm này. Má em, ông Ưng Toàn và các em em đã bay sang Nhật rồi.

Chị nhìn anh đắm đuối:

– Anh! Anh không lường hết tâm trạng của em đâu. Em muốn sang Pháp với ba, lại có ý định bám theo má. Xin lỗi anh, em không muốn Việt Cộng thắng trong cuộc chiến này để cuộc sống gia đình ta không xáo trộn. Anh! Em yêu anh. Không ai đánh đổi anh với bất cứ thứ gì trên đời này đâu. Anh có tin em không?

– Rất tin.

– Bằng bất cứ giá nào, năm mẹ con em sẽ về với anh, gia đình ta sẽ sum họp.

– Anh tin điều đó.

Trong lúc hai vợ chồng trò chuyện, cả Nguyễn Thanh, Cẩm Phượng và hai em đều vui vì sắp được sang Pháp nên cả bốn đều lăng xăng chuẩn bị cho chuyến bay của mình.

Tiễn vợ con đi rồi. Hai Lâm vào việc. Anh đã làm hết sức mình để nắm được kế hoạch hậu chiến của Tổng nha An ninh và đã thực sự gỡ được nhiều chuyện rắc rối cho các đồng chí chúng ta sau chiến thắng. Đúng vào giây phút căng thẳng nhất, anh nhận được lệnh phải “lặn" ngay. Anh theo chị Ba rời khỏi Sài Gòn, ngồi ô tô về Lộc Ninh và bay ngay ra Hà Nội. Anh đến Thủ đô đúng ngày 01-5-1975, một ngày sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ.


Mục lục

4,773 từ

Ông Tướng Tình Báo Và Hai Bà Vợ
Ông Tướng Tình Báo Và Hai Bà Vợ

Nguyễn Trần Thiết

20 chương · Full

Truyện được đọc nhiều

Đệ Nhất Kiếm ThầnĐang ra
Đệ Nhất Kiếm Thần

Thanh Phong

11778 chương6.5
Phong Thần ChâuĐang ra
Phong Thần Châu

Oa Ngưu Cuồng Bôn

10919 chương7.2
Thần Y Trở LạiĐang ra
Thần Y Trở Lại

Tiểu Tinh

6863 chương6.4
Thiên Đạo Đồ Thư QuánĐang ra
Thiên Đạo Đồ Thư Quán

Hoành Tảo Thiên Nhai

3577 chương7.1