Bảy năm sau
Bảy năm sau - Phần 02 Chương 22-24
Normal
0
false
false
false
EN-US
X-NONE
X-NONE
MicrosoftInternetExplorer4
22
HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN –
ĆM VÀO
Phân định phạm vi an
toàn, dải băng dài màu vàng bay phần phật trước gió trong ánh đèn
hiệu loang loáng. Huy hiệu cảnh sát cầm ở tay, Santos mở một lối đi
giữa đám người hiếu kỳ và cảnh sát để tới chỗ thuộc cấp.
- Anh tới xem đi, trung
úy, một cuộc tàn sát thật sự! Mazzantini vừa cảnh báo vừa nhấc dải
băng nhựa bảo vệ hiện trường vụ án.
Ngay khi bước vào
quán bar, Santos đã bị tác động mạnh bởi cảnh tượng hiện ra trước
mắt anh.
Hai mắt trợn ngược,
miệng há hốc vì kinh hãi, Drake Decker nằm phơi ruột trên bàn bi a.
Cách đó chưa đầy một mét, một xác người nữa nằm sóng soài dưới
sàn nhà: một gã đàn ông cao lớn mặt rám nắng và xăm trổ bị cắt
họng bằng một mảnh kính dài.
- Gã này là ai? Anh
vửa hỏi vừa nhún gối phía trên xác chết.
- Tôi không biết,
Mazzantini đáp. Tôi đã khám người hắn nhưng không tìm thấy gì, cả ví
lẫn giấy tờ. Ngược lại, hắn mang thao con dao này găm trong một cái
bao có chốt.
Santos kiểm tra chiếc
túi bóng mà viên thuộc cấp chìa ra cho anh. Bên trong đựng một con dao
nhỏ chuôi bằng gỗ mun và lưỡi sắc bén.
- Nó không được sử
dụng, Mazzantini khẳng định, nhưng chúng tôi còn phát hiện ra một thứ
khác.
Santos quan sát vật
chứng tiếp theo: một chiếc KA-BAR, loại dao găm của quân đội Mỹ, có
chuôi to được trang trí thêm các vòng da. Lưỡi dao bằng thép dài hơn
mười lăm centimét hẳn đã được dùng để phanh thây Drake Decker.
Santos nhíu mày. Nhìn
tư thế các xác chết, có lẽ phải có ít nhất một kẻ thứ ba ở cùng
hai gã này trong phòng.
- Cậu bảo tôi là có
ai đó đã gọi 911 đúng không?
- Đúng. Tôi đang chờ
phần ghi âm cuộc gọi. Cuộc gọi xuất phát từ một máy di động. Người
ta đang lần lại cuộc gọi đó. Sẽ không lâu đâu.
- OK, anh vừa đứng
dậy vừa nói. Bảo Cruz đến chụp ảnh cho tôi, chụp càng rõ càng tốt
hình xăm trên mặt gã kia nhé. Bảo cậu ta chụp lại cả con dao găm nhỏ
nữa. Khi nào nhận được ảnh thì cậu gửi ngay lại cho tôi qua email
nhé. Tôi sẽ gửi chúng cho Reynolds của precinct 3. Bên đó có một chuyên
gia nhân chủng học có thể giúp được chúng ta.
- Rõ, thưa trung úy,
tôi sẽ lo việc đó.
Trước khi ra khỏi
quán bar, Santos đưa mắt liếc nhìn lần cuối toàn bộ căn phòng. Những
bộ đồ màu trắng, găng tay latex, những khuôn mặt đeo khẩu trang, các
kỹ thuật viên Khoa học hình sự làm việc trong im lặng. Được trang bị
đèn huỳnh quang, chổi và bột, họ đang thu thập tất cả các dấu hiệu
tìm được rồi niêm phong chúng lại.
- Có dấu vân tay ở
khắp nơi thưa trung úy, Cruz, người phụ trách nhóm này, nói với sang
anh.
- Cả trên miếng kính
này à?
- Vâng, và cả trên
bình cứu hỏa nữa. Các dấu vân tay đều rất mới và rõ nét. Một hành
động nghiệp dư. Nếu gã này đã có hồ sơ lưu thì chúng ta sẽ biết
danh tính hắn sau vài giờ thôi mà.
23
Chuyến bay của hãng
Delta Airlines đến sân bay Charles-de-Gaulle vào lúc mười một giờ sáng
dưới ánh nắng chói chang. Vì quá kiệt sức, Sebastian và Nikki đã ngủ
li bì hầu hết hành trình. Vài tiếng ngủ nghỉ kịp thời giúp họ
bước sang ngày mới với đầu óc sáng suốt hơn ngày trước đó.
Họ rời máy bay qua
cầu thang ống rồi kiên nhẫn xếp hàng chờ làm thủ tục nhập cảnh.
- Chúng ta bắt đầu
bằng việc gì bây giờ? Nikki vừa bật lại điện thoại vừa hỏi.
- Chắc là phải đến
ga Barbès. Hỏi nhân viên ở đó, cố gắng tìm hiểu xem đoạn phim của
chiếc camere giám sát ấy từ đâu ra... Đó là hướng đi duy nhất của
chúng ta mà, không phải sao?
Cô im lặng gật đầu
rồi trình hộ chiếu cho cảnh sát.
Rồi họ đi qua băng
chuyền hành lý và tìm đến cửa ra. Một đám đông chen chúc nhau sau
hàng rào chắn: các gia đình háo hức muốn gặp lại người thân, các
tình nhân nôn nóng gặp lại một nửa của họ, các tài xế vẫy vẫy tấm
biển tìm người. Trong khi Sebastian đi về phía đoàn taxi đang đứng xếp
hàng, Nikki túm tay áo anh kéo lại.
- Anh nhìn kìa!
Giữa đám đông, mặc
bộ com lê ba mảnh không chê vào đâu được, một tài xế có dáng vẻ
nghiêm nghị giương một tấm biển:
Mr & Mrs LARABEE
Họ nhìn nhau, ngẩn
mặt ra. Không ai biết họ đang ở Paris... Trừ những kẻ bắt cóc Jeremy.
Gật đầu đồng ý với
nhau, cả hai quyết định ra mặt. Có thể đấy là một khả năng giúp họ
tìm lại được con trai?
Viên tài xế chào đón
họ bằng một giọng ấm áp âm sắc vùng Oxford.
- Chào ông, chào bà,
chào mừng đến Paris, tôi tên là Spencer. Mời ông bà đi theo tôi.
- Chờ đã, màn xiếc
này là gì vậy? Chúng ta sẽ đi đâu? Sebastian lo âu hỏi.
Vẻ kiên quyết, nhưng
có chút kiêu kỳ, Spencer rút ra một tờ giấy từ túi áo trong. Ông ta
mở tờ giấy rồi đeo cặp kính đồi mồi vào.
- Tôi được lệnh đi
đón Ông và Bà Sebastian Larabbe. Chuyến bay Delta lúc mười một giờ
khởi hành từ New York. Đúng là ông bà chứ?
Cả hai gật đầu, sững
sờ.
- Ai đã đặt chiếc xe
này? Nikki hỏi.
- Chuyện đó thì tôi
không biết, thưa bà. Có lẽ nên hỏi ban thư ký của LuxuryCab. Tất cả
những gì tôi có thể nói thì đây là một vụ đặt hàng đã được xác
nhận lại vào ngay sáng nay với công ty chúng tôi.
- Vậy thì ông được
yêu cầu đưa chúng tôi tới đâu?
- Đến Montmartre, thưa
ông. Khách sạn Grand Hôtel de la Butte, chính là, nếu ông cho phép nói,
sự lựa chọn tuyệt vời cho một kỳ nghỉ lãng mạn.
Sebastian nhìn chằm
chằm ông ta, cơn tức giận trào dâng trong lòng.
Tôi không đến đó để
hưởng một kỳ nghỉ lãng mạn. Tôi tới đây là để tìm con trai!
Nikki giơ tay trấn an
anh. Viên tài xế có thể chỉ là con tốt trong một kế hoạch vượt quá
tầm ông ta và ông ta cũng chẳng biết là có kế hoạch đó. Tốt hơn là
nên liều mạng đi theo ông ta mà không gây sự và xem chuyện này sẽ dẫn
họ tới đâu.
Chính vì vậy họ theo
sát gót ông ta với vẻ cam chịu và ngờ vực.
Chiếc Mercedes phóng
nhanh trên đường cao tốc phía Bắc.
Spencer đã chỉnh radio
sang tần số nhạc cổ điển và lắc lư đầu theo nhịp bản Bốn mùa của
Vivaldi.
Ngồi hàng ghế sau,
Sebastian và Nikki nhìn các tấm biển lần lượt chỉ ra hành trình dẫn
tới thủ đô nước Pháp: Tremblay-en-France, Garges-lès-Gonesse, Le
Blanc-Mesnil, sân vận động nước Pháp...
Mười bảy năm nay, họ
chưa quay trở lại Paris. Các kỷ niệm về kỳ nghỉ năm đó ùa về tâm
trí họ, nhưng mối lo lắng khiến họ không thể chìm đắm trong đó được.
Chiếc xe vượt qua đại
lộ vành đai rồi rẽ phải đi vào đại lộ các Thống chế trước khi đến
khu phố cổ Montmartre. Phố Caulaincourt và đại lộ Junot, các hàng cây
đã khoác lên mình bộ áo mùa thu, trải thảm lên vỉa hè những chiếc
lá màu lửa.
Spencer đi vào một
ngõ cụt toàn các ngôi nhà rợp bóng cây. Sau khi đi qua chiếc cổng cao
bằng sắt rèn, chiếc xe tiến vào một khu vườn hoang sơ và um tùm, một
chốn quê thực sự giữa trung tâm thủ đô. Chiếc xe đỗ trước khách sạn:
một tòa nhà lớn màu trắng với những đường nét giản dị và thanh
nhã.
- Chào bà, chào ông,
chúc ông bà một kỳ nghỉ tuyệt vời, viên tài xế nói với họ trong
lúc đặt hành lý của họ lên bậc thềm.
Vẫn cảnh giác cao
độ, Nikki và Sebastian đi vào sảnh của toà nhà rộng thênh thang. Điệu
swing rétro của nhóm tam tấu nhạc jazz chào đón họ. Không gian cởi mở
và ấm cúng, với hình ảnh về một khách sạn gia đình được trang trí
trau chuốt. Những hình dạng thuần khiết và góc cạnh của nội thất
Art déco gợi nhớ tới những năm 1920 và 1930: ghế bành da, tủ buýp phê
bằng gỗ thích trắng, đèn Le Corbusier, đồng hồ bằng gỗ sơn mài, các
bức tranh ghép khảm trai và ngà voi.
Không có ai ở quầy
tiếp tân. Bên trái lối vào, có thể nhận ra một phòng khách kín đáo
ngăn cách bằng tủ sách mời gọi người ta đến đọc sách. Bên phải,
quầy bar dài bằng gỗ gụ có vẻ như để phục vụ cho việc pha chế
cocktail.
Tiếng giày cao gót
gõ xuống sàn nhà lát gạch vuông. Họ đồng thời quay người lại thì
thấy dáng vẻ thanh lịch của bà chủ khách sạn hiện ra trên khuôn cửa
phòng ăn.
- Ông và bà Larabbe,
tôi nói đúng chứ? Chúng tôi đang chờ ông bà. Chào mừng đến với Grand
Hôtel de la Butte, bà ta nói bằng tiếng Anh với trọng âm nhấn rất
chuẩn.
Tóc cắt ngắn như con
trai, ngực phẳng, dáng người nam tính, váy ống dệt kinh tuyến dài
đến đầu gối: trông bà ta như bước ra từ một cuốn tiểu thuyết của
Francis Scott Fitzgerald.
Bà ta đi ra sau quầy
tiếp tân rồi bắt đầu làm thủ tục nhập phòng.
- Khoan đã, Sebastian
nói. Xin lỗi bà, nhưng sao bà lại biết chúng tôi?
- Chúng tôi chỉ có
năm phòng, thưa ông, và khách sạn hiện đã kín chỗ. Ông bà là những
người tới cuối cùng đấy.
- Bà có biết ai đã
đặt phòng cho chúng tôi không?
Người phụ nữ đưa lên
miệng chiếc đầu lọc hút thuốc màu hổ phách được bà ta cầm bằng
ngón giữa và ngón trỏ. Bà ta rít một hơi rồi trả lời bằng giọng
chắc chắn:
- Nhưng chính ông đã
đặt mà, ông Larabee!
- Chính tôi ư?
Bà ta tra sổ lưu trên
máy tính.
- Việc đặt phóng
được thực hiện cách đây một tuần trên trang mạng của khách sạn chúng
tôi.
- Tiền phòng đã được
thanh toán chưa?
- Toàn bộ. Được thanh
toán ngay khi đặt phòng bằng thẻ Mastercard mang tên ông Senastian
Larabee.
Không tin nổi,
Sebastian cúi xuống nhìn vào màn hình máy tính. Những thông số tham
chiếu của giao dịch hé lộ một phần dãy số của thẻ thanh toán. Hoàn
toàn chắc chắn: tài khoản của anh đã bị đánh cắp.
Anh nhìn vợ cũ với
vẻ bực bội. Những kẻ lôi họ tới tận đây đang chơi trò quái quỷ gì
thế này?
- Có vấn đề gì sao?
- Không sao, Sebastian
trả lời.
- Vậy thì mời ông bà
lên phòng, phòng số 5 tầng trên cùng.
Trong chiếc thang máy
chật chội dẫn lên các phòng, Nikki ấn vào nút chỉ tầng trên cùng.
- Nếu vụ đặt phòng
từ cách đây một tuần, điều đó có nghĩa là vụ bắt cóc Jeremy đã
được lên kế hoạch từ lâu rồi.
Sebastian đồng tình:
- Rõ ràng là thế.
Nhưng tại sao chúng lại liều lĩnh đánh cắp tài khoản của tôi để đặt
căn phòng này?
- Có thể để yêu cầu
chúng ta trả một khoản tiền chuộc, Nikki nói liều. Khi xâm nhập vào
tài khoản của anh, chúng đã biết chính xác tài sản của anh có bao
nhiêu và chúng có thể đòi bao nhiêu.
Khi đến nơi, họ đẩy
cánh cửa thì thấy một căn phòng nghỉ tiêu chuẩn cao rộng thênh thang,
trần cao áp mái.
- Lẽ ra họ nên chọn
phòng xấu nhất chứ nhỉ! Nikki nhận xét để xoa dịu nỗi hoang mang của
mình.
Giường rộng rãi, bồn
tằm có chân trong phòng tắm, tường sơn tông màu phấn. Được trang trí
rất có gu, căn phòng toát lên vẻ quyến rũ của chốn điền viên, tái
hiện cách bài trì của một xưởng nghệ sĩ phóng khoáng: sàn mộc,
gác lửng, tấm gương lớn hình ô van, sân thượng nhỏ trong xuống vườn.
Anh sáng đặc biệt kỳ
lạ. Lọt qua đám thường xuân và các cành cây, ánh sáng rọi vào sưởi
ấm căn phòng. Ta khó mà tin được mình đang ở khách sạn. Đúng hơn là
ta sẽ có cảm giác được những người bạn có gu tinh tế cho mượn một
nơi trú ẩn bí mật của họ vào kì nghỉ.
Cả hai đều bước ra
sân hiên nhô ra phía trên khu vườn và đem lại tầm nhìn tuyệt hảo tới
các công trình nổi tiếng của Paris. Ta nghe thấy tiếng chim hót và
tiếng xào xạc của giò thổi qua các tán cây.
Nhưng cả Sebastian lẫn
Nikki đều không để cho cái thành phố xinh đẹp đang trải dài dưới chân
họ chinh phục. Thật ngạc nhiên, không khí dịu nhẹ mùa thu này không khiến
nỗi lo âu của họ dịu đi chút nào.
- Thế bây giờ thì
sao? Sebastian hỏi.
- Tôi không biết. Nếu
họ đưa chúng ta tới đây, thì chính họ phải có ý định liên hệ với
chúng ta, không phải sao?
Thử xem có tin nhắn
nào không, họ cùng kiểm tra di động, gọi lễ tân rồi lục soát căn
phòng. Không ăn thua.
Sau khoảng nửa giờ,
sự chờ đợi trở nên không thể chịu đựng nổi.
- Tôi sẽ đến Barbès,
Sebastian quyết định đồng thời với lấy áo vest.
- Tôi đi cùng anh. Không
có chuyện tôi chôn chân trong căn phòng này đâu!
- Không. Chính cô đã
nói rồi mà: chắc chắn chúng sẽ tìm cách liên lạc với chúng ta tại
đây.
- Chúng ta đã thỏa
thuận sẽ không rời nhau nữa cơ mà! Cô biện hộ.
Nhưng Sebastian đã ra
khỏi cửa.
24
New York
Đồn cảnh sát đội 87
Santos lấy chiếc cốc
trong máy nước tự động. Mặt trời vẫn chưa mọc ở Brooklyn nhưng viên
trung úy đã uống tới cốc cà phê thứ ba. Lại một lần nữa, màn đêm
bị khuấy động: trộm cắp, bạo hành gia đình, các cửa hàng bị vơ vét
sạch, gái điếm bị chất vấn... Mười năm nay, các phương tiện truyền
thông luôn quảng bá về New York bằng hình ảnh một thành phố yên bình
và đảm bảo an ninh. Điều đó chắc chắn là đúng ở trung tâm Manhattan
nhưng vùng ven thành phố thì không hẳn vậy.
Vì thiếu chỗ trong
phòng giam, hành lang nơi đặt máy nước tự động trông không khác gì
trại tị nạn: can phạm bị còng tay ngồi trên các băng ghế kim loại, nhân
chứng ngồi chen chúc nhau như đám cá ngừ trên các băng ghế đã bị bục
nệm, những người đi khiếu kiện cuộn tròn trong chăn. Hành lang được
chiếu sáng bằng ánh đèn nê ông nhợt nhạt kêu lách cách. Một thứ mùi
tởm lợm bốc lên, tiếng chửi rủa không ngớt. Ai cũng căng thẳng, khó
chịu.
Santos rời chốn tạp
nham này về văn phòng. Anh căm ghét cái đồn cảnh sát bẩn thỉu, ồn
ào này và không hề có ý định chôn thân ở đây cho đến hết sự nghiệp.
Không gian làm việc của anh cũng tương xứng: một căn phòng chật chội,
chẳng mấy tiện nghi và không lấy làm biệt lập cho lắm trông ra một
cái sân con nhớp nhúa. Anh uống ngụm cà phê loãng toẹt rồi cắn một
miếng bánh vòng đã cứng lại khiến anh cố mãi mới nuốt được.
Sau khi ném cái bánh
vào sọt rác, anh mở điện thoại gọi cho phòng thí nghiệm đảm nhiệm
các phân tích độc học. Viên phụ tá phòng thí nghiệm khẳng định linh
cảm của anh: thứ bột trắng tìm được ở nhà Nikki chắc chắn là
cocain. Anh đặt tập hồ sơ sang một bên rồi tranh thủ đường dây yêu cầu
nói chuyện với Hans Tinker.
Sau nhiều năm, Santos
đã biết cách tự thiết lập cho mình một mạng lưới rộng lớn. Giữa
bao nhiêu phòng ban rối rắm và phân tán khắp nơi của Sở Cảnh sát New
York, rất nhiều người trong số họ còn nợ anh một lần giúp đỡ. Ở
anh, đó gần như là bản tính: mỗi khi có thể giúp được đồng nghiệp
là anh làm ngay. Ngay lúc đó thì có vẻ việc này chẳng lấy làm thú
vị nhưng rồi sẽ đến lúc anh được hái trái chín từ cái cây đã trông
bao lâu nay.
- Tôi Tinker nghe máy.
Hans Tinker, phó phòng
khoa học hình sự, có lẽ là một liên hệ thú vị nhất. Hai năm trước,
tình cờ trong một vụ kiểm tra, mấy tay cấp dưới của Santos tóm cổ
được cậu cả nhà Tinker, khi đó đang giữa tuổi thiếu niên thích nổi
loại, mang trong người một lượng “đá” không nhỏ. Rõ ràng, cậu quý tử
không cam lòng hút hít một mình trong phòng mà hắn còn tuồn cho lũ
bạn nữa. Santos đã nhắm mắt làm ngơ và cho hồ sơ xếp xó. Từ đó,
Tinker luôn thể hiện lòng biết ơn vô tận với anh.
- Chào anh, Hans. Anh
có tin gì mới về vụ án kép của tôi chưa?
- Chúng tôi đang tiến
hành, nhưng sẽ lâu đấy. Có đến cả triệu dấu vân tay tại hiện trường
vụ án mạng này và cần phải làm phân tích gen.
- Tôi hiểu, nhưng tôi
cần gấp mấy dấu vân tay trên con dao KA-BAR, mẩu kính vỡ và cây gậy bi
a.
- Mấy cái đó thì tôi
đã có rồi. Tôi sẽ chuyển báo cáo cho cậu trong vòng hai giờ nữa.
- Không, không phải
mất công đâu! Anh chuyển cho tôi các thông số cơ bản qua email nhé. Tôi
muốn đưa chúng vào Hệ thống nhận diện vân tay tự động càng nhanh
càng tốt.
Máy tính xách tay
kẹp dưới nách, Mazzantini gõ lên ô kính rồi thò đầu qua khuôn cửa.
Santos ra hiệu cho cậu ta tiến lại gần. Viên thuộc cấp chờ cho cấp
trên gác máy rồi mới thông báo:
- Có tin mới, thưa
trung úy. Tôi đã nhận được đoạn ghi âm cuộc gọi cho 911. Anh nghe nhé.
Cậu ta mở máy tính
rồi bật tệp tin. Đoạn ghi âm rất ngắn. Có thể nghe thấy tiếng một
người đàn ông, rõ ràng là đang hoảng loạn, từ chối nêu danh tính,
nhưng khẩn thiết yêu cầu xe cấp cứu đến quán bar Boomerang.
“Có một người đàn
ông đang hấp hối! Ông ta bị đâm nhiều nhát bằng dao! Các vị đến nhanh
lên! Đến nhanh lên!”
Điều kỳ quặc là anh
ta lại nói chỉ có một xác chết, không phải sao? Mazzantini hỏi.
Santos không trả lời.
Anh đã nghe giọng nói này ở đâu rồi nhỉ?
- Họ đã tìm tung
tích cuộc gọi, viên thuộc cấp của anh nói tiếp. Số điện thoại thuộc
về Sebastian Larabee. Một nghệ nhân làm đàn giàu có sống ở Thượng
Đông Manhattan. Tôi đã kiểm tra lý lịch của anh ta. Không một tì vết.
Thực ra thì có chút: một cáo buộc duy nhất về tội chống đối người
thi hành công vụ sau một lần kiểm tra của cảnh sát khi anh ta đi qua
tốc độ cho phép thời còn học đại học. Theo tôi, anh ta thậm chí còn
không biết mình bị lưu hồ sơ.
Gương mặt Santos rụng
rời.
- Tôi cho một đội đến
bắt anh ta nhé, sếp?
Santos im lặng gật
đầu. Anh biết Sebastian đang ở Paris, nhưng anh cần thời gian suy nghĩ.
- OK, cậu đi đi, anh ra
lệnh rồi sập cửa lại ngay khi Mazzantini quay gót.
Mắt lơ đãng, anh đừng
trước cửa sổ. Tiết lộ vừa rồi khiến anh bàng hoàng. Sebastian Larabee
mò đến chốn làm ăn của Drake Decker làm gì cơ chứ?
Tín hiệu ngắn gọn
báo có email mới lôi anh khỏi dòng suy nghĩ. Anh đến ngồi trước màn
hình rồi kiểm tra hòm thư. Đó là email của Tinker về việc xác nhận
dấu vân tay.
Các kỹ thuật viên
của Phòng Khoa học hình sự đã làm việc rất tốt. Với mỗi mẩu vật
chứng, các vân tay để lại trên chúng hiện lên rất rõ, đáp ứng đủ yêu
cầu sử dụng. Santos sao lại chúng vào ổ cứng máy tính rồi kết nối
với dữ liệu tích hợp sẵn và kích hoạt chế độ tự động dò vân tay.
Các điều tra viên của Sở Cảnh sát New York đều được đăng nhập trực
tiếp vào cơ sở dữ liệu của FBI, đặc biệt là hệ thống IAFIS[1] trứ
danh: một mỏ vàng chứa tổng cộng bảy mươi triệu đối tượng có tiền
án tiền sự, đã từng bị bắt hoặc bị kết án trên lãnh thổ Mỹ. Anh
bắt đầu bằng dấu tay tìm thấy trên con dao găm. Phần mềm bắt đầu
chạy, quét cơ sở dữ liệu với tốc độ chóng mặt
[1] Tên viết tắt của
Hệ thống tự động xác nhận vân tay. (ND)
MATCH NOT FOUND[2]
[2] Không tìm thấy.
Một dấu vô dụng.
Anh tiếp tục với dấu
vân tay trên miếng kính dài vấy máu, vũ khí mà theo suy luận lô gic
thì chính là thứ dùng để giết gã “xăm mặt”. Lần này, Santos may mắn
hơn. Chưa đầy một giây sau, chương trình cho ra một kết quả. Các dấu
vân tay là của Sebastian Larabee. Theo đà, anh tiến hành so sánh dấu vân
tay trên cây gậy bi a. Gần như đồng thời, màn hình hiện ra bức ảnh
của một cô gái trẻ. Hai tay run rẩy, Santos cho in tệp thông tin
Họ: Nikovski
Tên: Nikki
Sinh ngày 24 tháng
Tám năm 1976 tại Detroit (Michigan)
Đã ly hôn với
Sebastian Larabee.
Vào những năm 1990,
Nikki từng bị bắt nhiều lần vì tội trộm cắp, say rượu nơi cộng cộng
và tội tàng trữ ma túy. Tuy chưa từng bị giam lần nào, nhưng cô đã
phải nhiều lần nộp phạt và phải lao động công ích nhiều giờ. Lần
phạm tội gần đây nhất của cô là vào năm 1999. Từ đó, cô có vẻ im
ắng.
Santos cảm thấy tim
mình đập thình thịch.
Nikki đang dính líu
vào chuyện gì thế này?
Nhìn hồ sơ của cô,
toàn bộ tội lỗi có thể bị đổ cho cô. May mà anh giữ các con bài
trong tay. Nếu khéo làm, thậm chí anh còn có thể giành lại người
phụ nữ mình yêu và vĩnh viễn loại bỏ tên Larabee.
Để sang một bên những
thứ có thể buộc tội Nikki, anh cẩn thận thu thập các bằng chứng hữu
ích chống lại Sebastian: cuộc gọi 991, các dấu vân tay trên vũ khí gây
án, vé máy bay đi Paris chứng tỏ tội bỏ trốn.
Hồ sơ rất chắc chắn.
Có lẽ đủ để thuyết phục một thẩm phán nào đó khẩn cấp ký lệnh
ủy thác xét xử quốc tế. Để đổ thêm dầu vào lửa, anh sẽ để rò rỉ
một vài thông tin cho một số cơ quan báo chí thân thiết. Một người có
danh vọng chạy trốn tới Paris sau vụ án mạng trong quán rượu: giới
truyền thông rất thích những tin kiểu này. Nhà Larabee là một gia
đình danh gia vọng tộc lâu đời ở New York, nhưng vào cái thời buổi
khủng hoảng này, những người nắm quyền lực kinh tế không còn vị thế
bất khả xâm phạm nữa. Mà ngược lại. Từ hơn một năm trở lại đây,
phong trào của Những kẻ phẫn nộ đang thể hiện nỗi tức giận của họ
đối với phố Wall. Đã bao lần, hàng trăm người biểu tình đã phong tỏa
cầu Brooklyn. Sự phẫn nộ của tầng lớp trung lưu đang lớn dần và lan
rộng khắp cả nước.
Thời thế đang thay
đổi.
Những kẻ mạnh của
quá khứ sẽ không còn mạnh trong tương lai.
Hơn nữa, Sebastian
Larabee không phải một kẻ quen trốn chạy.
Ngay khi lệnh bắt giữ
hắn ta được ban ra, hắn có thể sẽ bị tóm như một tên ngốc…
4,282 từ






