Âm mưu ngày tận thế
Âm mưu ngày tận thế - Chương 35 phần 1
Chương 35
Ngày thứ mười lăm.
Robert Bellamy ở vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Có thể
có một nhân chứng thứ mười một không nhỉ? Và nếu có thì tại sao lúc trước không
hề có ai khác nhắc tới cô ta? Người nhân viên bán vé cho chuyến xe bus đó đã
nói với anh rằng chỉ có bảy hành khách. Robert tin rằng tay chủ gánh tạp kĩ đã
nhầm lẫn. Lờ nó đi thật là một việc dễ dàng với giả thiết rằng điều đó không có
thật, nhưng quá trình huấn luyện của Robert lại không cho phép làm thế. Anh quả
có kỉ luật. Câu chuyện của Bushfekete phải được kiểm tra lại. Bằng cách nào?
Robert đã rất băn khoăn về chuyện đó. Hans Beckerman. Người lái chiếc sẽ đó sẽ
biết.
Anh đăng ký điện thoại gọi cho Hãng Sunshine. Trụ sở hãng đóng
cửa. Trong danh bạ vùng Kapel không có một Hans Beckerman nào cả. Mình sẽ phải
đi Thụy Sĩ một lần nữa và giải quyết chuyện này, Robert nghĩ. Mình không thể bỏ
bất kỳ một dấu vết gì.
Khi Robert đến tới Zurich thì trời đã khuya. Bầu không khí
lạnh và trong lành, trăng sáng. Robert thuê một chiếc xe và chạy theo con đường
giờ đây đã quen dẫn tới cái làng Kapel nhỏ bé. Anh chạy ngang ngôi nhà thờ và
dừng lại trước cửa nhà Hans Beckerman, hiểu rằng mình đang bám vào một sự cầu
may. Căn nhà tối om. Robert gõ cửa và chờ. Anh gõ cửa một lần nữa, run lên vì
không khí lạnh giá của trời đêm.
Sau cùng thì vợ Beckerman cũng ra mở cửa. Chị ta choàng trên
người một cái áo choàng vải thô bạc màu.
- Dạ?
- Chị Beckerman, tôi không biết chị có còn nhớ tôi không? Tôi
là người phóng viên đang viết bài về Hans đây. Xin lỗi vì đã làm phiền chị vào
lúc khuya khoắt thế này, nhưng thật tôi rất cần nói chuyện với chồng chị.
Chỉ có sự im lặng đáp lời anh.
- Chị Beckerman?
- Hans chết rồi.
- Cái gì hả? - Robert giật mình.
- Chồng tôi chết rồi, tôi xin lỗi. Làm sao?
- Xe của Hans đã đâm xuống một triền núi. - Giọng chị ta thật
đau đớn. - Cảnh sát nói đó là vì trong cơ thể anh ấy toàn chất ma túy.
- Ma túy à?
Loét dạ dày. Các bác sĩ thậm chí không thể cho tôi
thuốc giảm đau nữa. Tôi phản ứng với tất cả những thứ đó..
- Cảnh sát nói đó
là tai nạn à?
- Dạ.
- Họ có tiến hành
mổ giám định không?
- Có, và họ tìm
thấy ma túy. Chẳng có ý nghĩa gì.
Anh không còn biết
nói thế nào.
- Tôi thật lấy làm
buồn, chị Beckerman. Tôi…
Cánh cửa đóng lại,
còn Robert một mình giữa trời đêm giá lạnh.
Một nhân chứng đã
chết. Không - hai. Leslie Mothershed đã chết trong một vụ cháy. Robert
ngẫm nghĩ hồi lâu. Hai nhân chứng đã chết. Anh như nghe thấy tiếng người huấn
luyện viên ở Trang trại: "Còn một
điều nữa tôi muốn nói tới hôm nay. Sự trùng hợp. Trong công việc của chúng ta,
không có cái thứ đó. Nó thường báo hiệu sự nguy hiểm. Nếu anh cứ luôn gặp một
người, hoặc phát hiện vẫn chiếc xe ấy khi anh đang hoạt động, hãy che lấy cái
mông mình. Có thể anh đang gặp rắc rối đó".
Có thể đang gặp rắc rối. - Robert bị chi phối bởi một loạt
những cảm xúc đầy mâu thuẫn. Điều đã xảy ra phải là sự trùng hợp, và tuy vậy…
Mình phải kiểm tra về cái người khác bí ẩn đó.
***
Cú điện thoại đầu tiên của anh là gọi tới Fort Smith, Canada.
Một giọng phụ nữ đầy vẻ quẫn trí trả lời:
- Dạ?
- Xin cho gặp William Mann.
- Rất tiếc. Chồng tôi, chồng tôi không còn với chúng tôi nữa.
- Giọng nói kia nghẹn ngào.
- Tôi không hiểu bà nói gì.
- Ông ấy đã tự sát.
Tự sát? Tay chủ nhà băng sắt đá đó mà tự sát? Chuyện quái quỷ
gì đang xảy ra ấy nhỉ? Robert nhăn trán. Điều mà anh hình dung là không thể
chấp nhận nổi, tuy nhiên… Anh bắt đầu gọi hết cú điện thoại này đến cú điện
thoại khác.
***
- Xin cho gặp giáo sư Schmidt.
- Ồ giáo sư đã chết trong một vụ nổ ở phòng thí nghiệm…
***
- Tôi muốn nói chuyện với Dan Wayne.
- Thật tội nghiệp. Con ngựa đua đã giày chết ông ta cách đây…
***
- Xin cho gặp Laslo Bsshfekete.
- Gánh tạp kĩ đóng cửa rồi. Laslo đã chết…
***
- Xin cho gặp Fritz Mandel.
- Fritz đã bị chết trong một tai nạn quái dị…
Lúc này những dấu hiệu báo động đã là rõ ràng.
***
- Olga Romanchanko.
- Cô bé tội nghiệp. Và cô ấy còn trẻ thế mà…
***
- Tôi gọi đến để xem tình hình Cha Patrini.
- Linh hồn tội nghiệp đó đã ra đi trong giấc ngủ.
***
- Tôi cần nói chuyện với Kevin Parker.
- Kevin đã bị giết…
Chết. Tất cả mọi nhân
chứng đều đã chết. Chính anh là người đã phát hiện và xác minh về họ. Tại
sao anh lại không biết chuyện gì đang xảy ra? Bởi vì bọn khốn kiếp kia chờ anh
rời khỏi một nước nào đó rồi mới hành quyết các nạn nhân của chúng. Người duy
nhất mà anh báo cáo công việc là tướng Hilliard.
"Chúng ta không
được để bất kỳ ai khác dính vào sứ mệnh này… Tôi muốn ông hàng ngày báo cáo
công việc cho tôi".
Họ đã dùng anh để tìm ra các nhân chứng. Đằng sau tất cả những chuyện này là thế nào? Otto Schmidt đã bị
giết chết ở Đức. Hans Beckerman và Fritz Mandel ở Thụy Sĩ. Olga Romanchanko ở
Nga, Dan Wayne và Kevin Parker ở Mỹ, William Mann ở Canada, Leslie Mothershed ở
Anh, Cha Patrini ở Italia và Laslo Bushfekete ở Hungary. Điều đó có nghĩa là
các cơ quan an ninh của gần một chục nước đã dính líu vào một vụ bưng bít lớn
nhất trong lịch sử. Một ai đó ở cấp rất cao đã quyết định rằng tất cả các nhân
chứng vụ đĩa bay kia phải chết. Nhưng ai? Và vì sao?
Đó là một âm mưu cỡ quốc
tế và mình đang nằm trong cái âm mưu đó.
Ưu tiên: Chui vào vỏ bọc. Robert thật khó tin nổi
là họ định giết luôn cả anh nữa. Anh là một người trong số họ. Nhưng cho đến
khi đã nghĩ tới chuyện đó thì không thể mạo hiểm. Việc đầu tiên phải làm là
kiếm một tấm hộ chiếu giả. Điều đó có nghĩa là phải tìm đến Ricco ở Rome.
Robert lên chuyến bay xuất cảnh tiếp theo và thấy phải cố gắng
để thức. Anh đã không nhận ra mình kiệt sức đến thế nào. Áp lực của suốt mười
lăm ngày qua, chưa kể sự chênh lệch thời gian do việc đi lại bằng máy bay, đã
làm cho anh kiệt quệ.
Máy bay đáp xuống sân ga Leonardo Da Vinci, và khi anh bước
vào nhà ga, người đầu tiên anh nhìn thấy là Susan. Anh dừng lại, sững sờ. Cô
quay lưng lại phía anh, và trong một khoảnh khắc, anh đã nghĩ là mình nhầm. Và
rồi anh nghe thấy cô nói.
- Cảm ơn. Tôi có xe đón rồi.
- Susan… - Robert bước lại bên cô.
Cô quay lại, giật mình.
- Robert. Thật là
tình cờ làm sao. Nhưng là một sự kinh ngạc đáng yêu.
- Anh nghĩ em đang
ở Gibraltar kia mà?
Cô gượng cười.
- Vâng. Chúng em
đang trên đường tới Áo, nhưng Monte có chút việc cần phải làm ở đây trước đã.
Tối nay chúng em sẽ lên đường. Anh làm gì ở Rome thế?
- Anh đang lo nốt
một chút công việc.
Chạy trốn vì cái mạng sống của anh. Đó là công
việc cuối cùng của anh đấy. Anh đã thôi rồi, em yêu ạ. Từ giờ, chúng mình sẽ
luôn ở bên nhau, và không gì có thể chia cắt chúng ta nữa. Hãy bỏ Monte và trở
về với anh đi! Nhưng anh không thể nói nên lời. Anh đã gây cho cô đủ điều rồi.
Cô đang hạnh phúc với cuộc sống mới của cô. Hãy cứ để như thế, Robert nghĩ.
- Trông anh mệt mỏi
lắm. - Cô nhìn anh chăm chú.
- Anh vừa phải chạy
loăng quăng một chút. - Anh mỉm cười.
Họ nhìn vào trong
mắt nhau, và điều kỳ diệu kia vẫn còn đó. Sự thèm khát cháy bóng, và những kỉ
niệm, tiếng cười cùng sự thông cảm.
Susan cầm lấy tay
anh trong hai bàn tay cô và dịu dàng nói:
- Robert. Ôi, Robert. Em muốn chúng mình…
- Susan…
Và đúng lúc đó, một người đàn ông vạm vỡ trong bộ đồng phục
tài xế bước đến bên Susan.
- Thưa bà Banks, xe đã sẵn sàng.
- Cám ơn. - Cô quay sang Robert. - Em xin lỗi. Em phải đi bây
giờ đây. Xin anh tự chăm sóc lấy mình.
- Chắc chắn rồi.
Anh đứng nhìn theo cô. Có bao nhiêu điều anh muốn nói với cô.
Cuộc sống đầy những chuyện có tính chất thời điểm. Thật vui lại được thấy
Susan, nhưng mà có chuyện gì trong đó khiến anh thấy lo lẳng nhỉ? Tất nhiên
rồi. Sự trùng hợp. Lại một sự trùng hợp.
Anh gọi taxi đi về khách sạn Hassler.
- Chúc mừng đã trở lại, ông sĩ quan.
- Cám ơn.
- Tôi sẽ cho một người hầu phòng mang hành lí cho ông.
- Khoan! - Robert nhìn đồng hồ. 10 giờ tối. Anh muốn lên gác
và ngủ một giấc, nhưng trước hết anh phải lo chuyện hộ chiếu đã.
- Tôi sẽ không lên trên phòng ngay. - Robert nói. - Tôi muốn
ông cho người mang hành lí lên trước đi.
- Tất nhiên, thưa ông sĩ quan.
Khi Robert vừa định quay đi thì cửa thang máy bật mở và một
nhóm khách ào ra, cười nói ầm ĩ. Ro ràng là họ đã uống một vài cốc. Một tròng
số họ, dáng người mập, mặt đỏ gay, vẫy vẫy Robert.
- Xin chào anh bạn thân… vui vẻ chứ?
- Tuyệt vời, - Robert đáp. - Tuyệt vời đấy.
Robert bước ra, tới bên chiếc taxi đỗ bên ngoài.
Khi anh vừa định chui vào xe thì chợt để ý thấy một chiếc Opel
màu xám trông rất bình thường đậu phía bên kia đường. Trông nó hơi bình thường
quá mức. Nó đậu giữa những chiếc xe sang trọng, thênh thang.
- Phố Monte Grappa.
- Robert nói với người lái xe. Trên đường, Robert nhìn qua tấm kính sau xe.
Không có chiếc Opel xám nào cả. Mình đang trở nên hoảng hốt quá, Robert nghĩ.
Khi họ tới phố Monte Grappa, Robert ra khỏi xe ở đầu phố. Khi trả tiền người
lái xe, anh nhìn qua khoé mắt: chiếc Opel màu xám cách xa chừng nửa đoạn phố,
tuy nhiên anh có thể thề rằng nó không hề theo dõi anh. Trả tiền xong, anh rời
khỏi chiếc taxi và bắt đầu thong thả bước đi, thỉnh thoảng đừng lại để ngó vào
các ô kính cửa hàng cửa hiệu.
Qua sự phản chiếu
của một ô kính, anh thấy chiếc Opel đang từ từ đi theo anh. Khi Robert tới góc phố
tiếp theo, anh để ý thấy đó là con phố với đường một chiều. Anh rẽ vào đó theo
hướng ngược lại với dòng xe cộ đông đúc. Chiếc Opel lưỡng lự ở góc phố và rồi
lao vọt đi đến đón Robert ở đầu đằng kia. Robert quay ngược trở lại và đi về
phố Monte Grappa. Không còn thấy chiếc Opel kia đâu nữa.
Robert vẫy chiếc
taxi khác:
- Tới phố
Monticelli.
Tòa nhà đó đã cũ kĩ
và trông không mấy thiện cảm, một di sản còn lại của những ngày đã qua. Trước
đây trong nhiều chuyến công tác, Robert đã đến nơi này. Anh bước xuống ba bậc
của một tầng hầm và gõ cửa. Một con mắt xuất hiện ở lỗ nhòm trên cánh cửa và
một giây sau cánh cửa mở toang ra.
- Roberto. - Một
người đàn ông kêu lên. Ông ta choàng tay ôm lấy Robert. - Khỏe không, anh bạn
của tôi?
Đó là một người đàn
ông to béo ở độ tuổi sáu mươi với bộ râu lởm chởm trắng xóa, đôi lông mày rậm,
bộ răng vàng khè và cái cằm béo núc. Ông ta đóng cửa và khoá trái lại.
- Tôi khoẻ, Ricco.
Ricco không có họ. "Với một người như tôi, ông ta thường
khoác lác. Chỉ cần cái tên cộc lốc đó là đủ. Cũng giống như Garbo vậy".
- Hôm nay tôi có
thể làm gì cho anh vậy, anh bạn?
- Tôi đang có một
phi vụ. - Robert nói, - Và tôi đang rất vội. Ông có thể làm cho tôi một hộ
chiếu không?
Ricco mỉm cười.
- Giáo hoàng có
phải tín đồ Thiên Chúa giáo không hả? - Ông ta lạch bạch đi tới cái tủ kê ở góc
phòng và mở khoá tủ. - Anh muốn mang quốc tịch nào đây?
Ông ta lôi ra một
mớ hộ chiếu với các bìa khác nhau và lựa lựa từng quyển. - Chúng ta có một hộ
chiếu Hy Lạp, rồi Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư, Anh…
- Mỹ. - Robert nói.
Ricco rút ra một
quyển hộ chiếu có bìa màu xanh da trời.
- Đây. Cái tên
Arthur Butterfield có hấp dẫn anh không thế?
- Tốt rồi. - Robert
đáp.
- Anh đứng dựa vào
tường đi, tôi sẽ chụp hình cho anh.
Robert bước đến bên
tường. Ricco mở ngăn kéo và lấy ra chiếc máy ảnh Polaroid. Một phút sau, Robert
cầm xem tấm ảnh của mình.
- Không thấy tôi cười. - Robert nói.
- Cái gì hả? - Ricco nhìn anh, ngạc nhiên.
- Tôi đã không cười. Chụp cái khác đi.
- Được thôi. Tùy ý anh. - Ricco nhún vai.
- Có khá hơn. - Robert mỉm cười khi bức ảnh thứ hai được chụp.
Anh nhìn tấm ảnh và nói, rồi thản nhiên nhét tấm ảnh đầu vào túi.
- Bây giờ đến phần kĩ thuật cao, - Ricco tuyên bố rồi bước tới
bàn làm việc. Ông ta đặt tấm ảnh vào mặt trong quyển hộ chiếu.
Robert bước tới một cái bàn khác, ngổn ngang những dụng cụ
hành nghề của Ricco và tuồn một lưỡi dao cạo cùng một lọ keo dán trong trong
túi áo khoác.
Ricco đang xem xét sản phẩm của ông ta.
- Không tồi. - Ông ta nói rồi trao cho Robert quyển hộ chiếu.
- Năm nghìn đôla.
- Và hoàn toàn đáng giá. - Robert đáp trong lúc đếm mười tờ
500 đôla.
- Làm việc với người của các anh thật dễ chịu.
- Anh biết là tôi
quý anh.
Robert biết chính
xác là ông ta đang nghĩ gì về anh. Ricco là một thợ giày thiện nghệ, làm việc
cho gần một chục chính phủ - Và chẳng trung thành với chính phủ nào. Anh đút
quyển hộ chiếu vào túi áo.
- Chúc may mắn, ông
Butterfield. - Ricco mỉm cười.
- Cám ơn.
Ngay khi cánh cửa
khép lại sau lưng Robert, Ricco vớ lấy điện thoại. Thông tin luôn là tiền bạc
đối với ai đó.
Bên ngoài, đi được
chừng hai chục mét, Robert lấy quyển hộ chiếu mới ra khỏi túi và dúi nó vào
trong một thùng rác. Nhiễu. Đó là một kĩ thuật mà khi là một phi công anh đã
dùng để tạo những cái đuôi giả cho tên lửa của đối phương. Hãy để cho họ săn
lùng Arthur Butterreld.
Chiếc Opel xám dừng
cách chừng nửa đoạn phố.
Chờ đợi. Không thể
thế được.
Robert tin chắc
rằng chiếc xe đó là cái đuôi duy nhất. Anh đã chắc chắn là chiếc Opel đã bị mất
dấu, vậy mà nó vẫn tìm ra. Họ phải có một cách nào đó để bám theo từng bước đi
của anh. Câu trả lời duy nhất: Họ đã dùng một thứ máy phát nào đó, và anh phải
luôn mang nó theo người. Nó được gắn vào quần áo của anh chăng? Không. Họ không
có cơ hội nào cả. Đại úy Dougherty đã có mặt lúc anh sắp xếp hành lí nhưng anh
ta không thể biết Robert sẽ mang theo bộ quần áo nào. Robert thầm kiểm kê lại
những gì mà anh mang theo người - tiền mặt, chìa khoá, một cái ví khăn mùi xoa,
thẻ tín dụng… Chiếc thẻ tín dụng.
"Tôi không nghĩ là tôi cần đến nó, thưa tướng
quân" - "Cầm lấy. Vã hãy luôn giữ nó trong người".
Đồ chó đẻ gian xảo.
Không có gì lạ khi họ tìm được anh dễ dàng như vậy.
Không còn nhìn thấy
chiếc Opel xám nữa. Robert lấy tấm thẻ tín dụng ra, xem xét nó. Nó hơi dày hơn
một tấm thẻ tín dụng thông thường. Hơi vặn nó một chút, anh có thể cảm thấy một
lớp gì đó bên trong.
Họ sẽ điều khiền từ
xa cho tấm thẻ hoạt động. Tốt.
Robert nghĩ. Hãy để
cho bọn khốn nạn này bận bịu.
Có mấy cái xe vận
tải đỗ dọc trên phố đang bốc và dở hàng. Robert nhìn những biển số xe. Khi tới
bên một chiếc xe tải với biển số của Pháp, anh nhìn quanh để chắc chắn là mình
không bị quan sát rồi ném tấm thẻ lên trên thùng xe.
- Cho đến khách sạn
Hassler. - Anh vẫy một chiếc taxi.
***
Ttrong tiền sảnh,
Robert bước tới chỗ người gác cửa.
- Làm ơn xem đêm
nay có chuyến bay nào đi Paris không nhé.
- Vâng, ông sĩ
quan. Ông có chọn hãng hàng không cụ thể nào không?
- Hãng nào cũng
được. Chuyến bay đầu tiên là đủ.
- Tôi rất sung
sướng được lo chuyện này.
- Cám ơn. - Robert
bước đến chỗ tiếp tân. - Xin cho chìa khoá phòng tôi. Phòng 314. Và tôi sẽ trả
phòng trong vài phút nữa thôi.
- Dạ, thưa ông
Bellamy. - Người nhân viên với tay lên một ô và lấy ra chìa khoá cùng một cái
phong bì. - Đây, có một cái thư cho ông.
Robert nghiêm mặt.
Chiếc phong bì được dán kín và được ghi rất đơn giản. "Sĩ quan chỉ huy
Bellamy".
Anh nắn nhẹ xem có
chất dẻo hoặc thứ kim loại gì bên trong hay không, rồi thận trọng mở nó ra. Bên
trong là một tấm các quảng cáo về một nhà hàng Italia.
Hoàn toàn bình
thường. Tất nhiên, trừ cái tên của anh trên phong bì.
- Anh có nhớ ai đưa
cho anh cái này không?
- Tôi xin lỗi. -
Người nhân viên nói với vẻ ân hận. - Nhưng quả thật là tối nay chúng tôi bận
rộn quá…
Điều đó không quan
trọng. Người đàn ông kia sẽ chẳng nhớ ra bộ mặt nào cả. Hắn ta đã nhặt tờ quảng
cáo ở đâu đó cho nó vào phong bì rồi đứng ngay cạnh quầy và chờ xem chiếc phong
bì đó được cho vào cái ô mang số phòng bao nhiêu.
Lúc này hắn ta hẳn
đang chờ trong phòng của Robert.
Đã đến lúc nhìn mặt
kẻ thù.
Robert nghe thấy
những tiếng nói ồn ào, anh quay lại và thấy đám khách say rượu lúc trước đang
đi vào tiên sảnh, vừa cười vừa hát. Rõ ràng là họ đã uống thêm ít nữa. Người
đàn ông mập nói:
- Kìa, chào anh
bạn. Anh đã lỡ một tiệc vui.
3,449 từ






